VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐỖ ĐỨC THUẬN
BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA ĐƢƠNG SỰ
TRONG HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
TỪ THỰC TIỄN TỈNH HÒA BÌNH
Chuyên ngành: Quyền con người
Mã số:..........................................
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội, 2017
1
Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã
hội, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học:
TS. Lê Mai Thanh
Phản biện 1: Hoàng Văn Tú
Phản biện 2: Vũ Thư
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận
thạc sĩ họp tại: Học viện Khoa học xã hội 10 giờ 50 phút
ngày 08 tháng 08 năm 2015
quyền được học tập, quyền được nuôi dưỡng chăm sóc, quyền được bảo
vệ quyền tài sản…., còn nếu bản án, quyết định của tòa án không được
thi hành triệt để thì quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án
bị xâm hại. Đã có nhiều đề tài luận văn nghiên cứu về hoạt động THADS,
nhưng chưa có đề tài luận văn nào khai thác hoạt động THADS dưới góc độ
là quyền con người, đặc biệt là tại địa bàn tỉnh Hòa Bình là nơi có nhiều dân
tộc thiểu số cùng sinh sống, trình độ dân trí chưa cao, sự phát triển kinh tế
còn rất thấp, vì vậy việc áp dụng các quy định của pháp luật trong tổ chức
THADS nhằm bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vẫn gặp
không ít những khó khăn vướng mắc, cần tháo gỡ.
Trước tình hình đó việc nghiên cứu đề tài "Bảo đảm quyền của
đương sự trong hoạt động thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Hòa
1
Bình" đáp ứng tính cấp thiết. Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài này làm
luận văn thạc sĩ luật học, chuyên ngành Quyền con người.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong khoa học pháp lý vấn đề bảo vệ quyền con người nói
chung và bảo vệ quyền của đương sự trong hoạt động THADS nói
riêng, đã có nhiều tác giả, nhà nghiên cứu hết sức quan tâm nhất là
trong thời kỳ đổi mới, hội nhập. Đã có nhiều bài viết, công trình nổi bật
được nghiên cứu từ các góc độ và mức độ khác nhau. Có thể kể đến một
số công trình nghiên cứu như sau:
Về sách, giáo trình: Giáo trình Pháp luật quốc tế về quyền con
người của Học viện khoa học xã hội do GS. TS Võ Khánh Vinh và TS.
Lê Mai Thanh chủ biên; Giáo trình cơ chế quốc tế và khu vực về quyền
con người của Học viện khoa học xã hội do GS. TS Võ Khánh Vinh và
TS Lê Mai Thanh chủ biên; Giáo trình quyền con người của Học viện
khoa học xã hội do GS. TS Võ Khánh Vinh chủ biên; Quyền con người
cường hiệu quả bảo đảm quyền.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên luận văn có nhiệm vụ chủ yếu sau
đây: nghiên cứu cơ sở lý luận đảm bảo quyền của đương sự trong hoạt
động thi hành án dân sự, cụ thể là: Làm rõ khái niệm, đặc điểm quyền
của đương sự; nội dung quyền của đương sự trong hoạt động thi hành
án dân sự; đánh giá được thực tiễn bảo đảm quyền của đương sự trong
thi hành án dân sự tại tỉnh Hòa Bình và đề xuất giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu bảo đảm quyền của đương sự trong hoạt
động thi hành án dân sự bao gồm: Bảo đảm quyền của người được thi
hành án, người phải thi hành án trong hoạt động thi hành án dân sự.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Luận văn nghiên cứu về quyền của các chủ thể là đương sự trong
hoạt động THADS, bao gồm người được thi hành án và người phải thi hành
án.
- Bảo đảm các quyền con người đặc thù của đương sự dễ bị
xâm hại trong quá trình thi hành án. Luận văn không tham vọng nghiên
cứu tất cả các quyền con người của đương sự.
- Địa bàn nghiên cứu: quyền của đương sự trong hoạt động
THADS tại địa bàn tỉnh Hòa Bình.
- Thời gian nghiên cứu: giai đoạn luật thi hành án dân sự năm
2008 có hiệu lực ngày 01/7/2009 và được sửa đổi, bổ sung năm 2014
đến tháng 7 năm 2017.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về Nhà nước và
pháp luật, quan điểm của Đảng và nhà nước về vấn đề bảo đảm và thực
hoạt động thi hành án dân sự
Chương 2: Thực trạng bảo đảm quyền của đương sự trong hoạt
động thi hành án dân sự tại tỉnh Hòa Bình
Chương 3: Phương hướng và giải pháp bảo đảm quyền của
đương sự trong hoạt động thi hành án dân sự tại tỉnh Hòa Bình.
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA ĐƢƠNG SỰ
TRONG HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
1.1. Khái niệm, đặc điểm và nội dung quyền của đƣơng sự
trong hoạt động thi hành án dân sự
4
1.1.1. Khái niệm quyền của đương sự trong hoạt động thi
hành án dân sự
Trong tiếng việt “đương sự” được hiểu “là người, là đối tượng
trong một sự việc nào đó được đưa ra giải quyết”[34, tr.159]. Như vậy
theo nghĩa chung nhất thì đương sự chỉ là người, là đối tượng trong một
vụ việc nào đó được đưa ra giải quyết trong cuộc sống hàng ngày.
Theo Khoản 1 Điều 3 Luật THADS thì các đương sự trong
THADS chỉ bao gồm: Người được thi hành án và người phải thi hành
án [22].
Khái niệm quyền của đương sự xuất phát từ khái niệm quyền
con người. Quyền con người là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có
và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật
quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế.
Từ những phân tích trên có thể rút ra khái niệm: “Quyền của
đương sự là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của đương sự được
ghi nhận và bảo đảm bởi các quy định của pháp luật về thi hành án dân
sự”.
cá nhân, tổ chức khác nhằm hạn chế một số quyền vốn có của họ như:
không được nhận bản án, quyết định; không được nhận thông báo về thi
hành án, không được nhận trở lại làm việc hay không được nhận tài sản
do phía người phải thi hành án cố ý chây ỳ, trốn tránh nghĩa vụ thi hành
án.
- Nhóm người phải thi hành án là những đối tượng phải thực
hiện nghĩa vụ trong bản án, quyết định. Mặc dù họ có quyền nhưng
thường không được trao quyền và quyền của họ không được các cơ
quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng và bảo đảm thực hiện. Do vậy, quyền
của người phải thi hành án dễ bị xâm hại từ phía các cơ quan thi hành
án dân sự trong quá trình thi hành án để bảo vệ quyền của bên được thi
hành án.
1.1.3. Nội dung quyền của đương sự trong hoạt động thi hành
án dân sự
Trong lĩnh vực bảo vệ quyền con người, Luật THADS có một
giá trị vô cùng to lớn khi Điều 5 Luật THADS ghi nhận: “Trong quá
trình thi hành án, quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ”[22].
Luận văn nghiên cứu về các quyền con người được bảo đảm trong lĩnh
vực thi hành án dân sự gồm:
Quyền tiếp cận thông tin của đương sự: Trong hoạt động thi
hành án dân sự, quyền tiếp cận thông tin của đương sự là quyền được
tiếp cận hồ sơ, tài liệu của các cơ quan có thẩm quyền trong quá trình
thực hiện nhiệm vụ. Ngoài ra nó còn là quyền chủ động của đương sự
được yêu cầu và nghĩa vụ của cơ quan thi hành án, các tổ chức, cá nhân
có liên quan phải công bố. Quyền tiếp cận thông tin của đương sự thể
hiện ở các nội dung chủ yếu sau:
- Tìm kiếm thông tin: Đương sự có quyền chủ động để có được
thông tin cần thiết mà mình quan tâm. Đương sự có quyền yêu cầu và
đề nghị các cơ quan, tổ chức, đơn vị nắm giữ thông tin có nghĩa vụ cung
những hạn chế nếu như tự do thỏa thuận của đương sự ảnh hưởng đến
quyền và lợi ích của người thứ ba hay tự do lựa chọn thời điểm yêu cầu
thi hành án bị giới hạn bởi thời hiệu yêu cầu thi hành án.
Một số quyền dân sự của đương sự: Hoạt động thi hành án là
hoạt động liên quan đến các vấn đề về tài sản và nhân thân trong các
bản án dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình. Các phán quyết
của Tòa án trong nhóm quyền này thường là trả lại tài sản, quyền có
việc làm, quyền có chỗ ở và quyền được chăm sóc, giáo dục. Để bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, pháp luật quy định các chế tài
đối với người phải thi hành án trong trường hợp không tự nguyện thi
hành án như áp dụng các biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế
(khoản 1 Điều 46 Luật THADS). Bên cạnh việc bảo đảm quyền và lợi
7
ích hợp pháp của người được thi hành án thì cũng phải chú trọng bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của người phải thi hành án như quy định về
% khấu trừ vào thu nhập để bảo đảm cuộc sống tối thiểu của người phải
thi hành án và người được nuôi dưỡng (Điều 78 Luật THADS) hay
không được tiến hành kê biên tài sản của người phải thi hành án là
những vật dụng thiết yếu phục vụ cho cuộc sống tối thiểu của người
phải thi hành án và gia đình (Điều 87 Luật THADS)
Quyền khiếu nại, tố cáo của đương sự: Khiếu nại, tố cáo là
một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân được ghi nhận
trong Hiến pháp 2013, Luật khiếu nại 2011, Luật tố cáo 2011 và Luật
THADS. Thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo là hình thức dân chủ trực
tiếp để đương sự giám sát hoạt động của cơ quan, công chức nhà nước;
đồng thời là một biện pháp để công dân, tổ chức bảo vệ mình trước sự
vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền. Việc
Luật THADS quy định khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo
luật và các điều kiện bảo dảm từ phía Nhà nước nhằm hiện thực các
quyền của đương sự trên thực tế”.
1.2.2. Các điều kiện bảo đảm quyền của đương sự trong hoạt
động thi hành án dân sự
Trong THADS, các điều kiện bảo đảm quyền của đương sự bao
gồm:
Điều kiện bảo đảm về mặt pháp lý
Bảo đảm quyền của đương sự trong thi hành án dân sự được
xây dựng trên cơ sở các quy định của Hiến pháp và các luật chuyên
ngành. Bảo đảm quyền của đương sự trong THADS được quy định tại
Điều 14 và Điều 106 Hiến pháp năm 2013.
Bảo đảm quyền của đương sự trong THADS còn là sự cụ thể
hóa các quy định về nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự được
quy định tại Điều 2 Bộ luật Dân sự 2015. Cụ thể là theo quy định tại
Khoản 1 Điều luật này thì tất cả các quyền dân sự của cá nhân, pháp
nhân, chủ thể khác được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ...
Bảo đảm quyền của đương sự trong THADS được ghi nhận tại
Điều 5 Luật THADS, cụ thể: trong quá trình thi hành án, quyền, lợi ích
hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được
tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. Theo đó, cơ quan thi hành án, Thừa
phát lại và các chủ thể có trách nhiệm hỗ trợ, phối hợp trong thi hành án
dân sự phải tổ chức thi hành án dân sự theo đúng pháp luật và đúng nội
dung bản án, quyết định, không xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp
của đương sự và bảo đảm cho họ thực hiện quyền.
Nhằm tạo thêm công cụ pháp lý để người dân tự bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp của mình khi tham gia vào các giao dịch dân sự, kinh
tế, Quốc hội đã có Nghị quyết số 107/2015/QH13 về thực hiện chế định
Thừa phát lại đã chấm dứt việc thí điểm và cho thực hiện chính thức chế
định Thừa phát lại từ 1/1/2016. Đây là một trong những đảm bảo về mặt
pháp lý nhằm tăng cường hiệu quả bảo đảm quyền của đương sự.
máy photocoppy, máy in...
Ngoài ra phong tục tập quán của mỗi dân tộc khác nhau tác
động dến hiệu quả của việc bảo đảm quyền của đương sự. Tuy các
quyền con người có tính tự nhiên và phổ biến nhưng mỗi cá nhân con
người lại sống trong những nền văn hóa khác nhau thể hiện ở sự khác
biệt về truyền thống, phong tục tập quán, nhận thức và lối sống... do đó,
cách hiểu và áp dụng pháp luật khác nhau, ảnh hưởng đến việc bảo đảm
quyền con người.
1.3. Cơ chế bảo đảm quyền của đƣơng sự trong hoạt động
thi hành án dân sự
Bảo đảm quyền của đương sự trong việc thi hành án dân sự
xuất phát từ nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan thi hành
án dân sự. Các bản án và quyết định của Tòa án nhân dân (TAND) đã
có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ
10
chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng;
những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành. Cơ
quan THADS là cơ quan nhà nước thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong
việc thi hành các bản án, quyết định dân sự. Để tăng cường hiệu quả
công tác THADS, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân,
tổ chức, các cơ quan THADS phải tuân thủ nghiêm ngặt trình tự, thủ
tục, thời hạn thi hành án mà pháp luật quy định, không cá nhân, cơ quan
tổ chức nào, kể cả các cơ quan quản lí thi hành án được can thiệp không
đúng chức năng, nhiệm vụ vào hoạt động tác nghiệp của của cơ quan
THADS. Các quyết định của cơ quan THADS có giá trị bắt buộc các
chủ thể khác phải chấp hành. Mọi hành vi chống đối, cản trở trong việc
thi hành các quyết định của cơ quan THADS đều bị xử lý theo quy định
của pháp luật.
tỉnh có 02 huyện vùng cao (Mai Châu và Đà Bắc), cơ sở vật chất phục
vụ cho công tác thi hành án còn hạn chế nên ảnh hưởng đến hiệu quả
bảo đảm quyền của đương sự. Các đường giao thông quan trọng trên địa
bàn tỉnh như quốc lộ 6, 12A, 15A, 21, đường Hồ Chí Minh chạy song
song với quốc lộ 21. Các tuyến đường chính này nối với hệ thống đường nối liền các huyện, xã trong tỉnh với thị xã và với các huyện, tỉnh
bạn rất thuận lợi cho giao lưu kinh tế - xã hội. Vì vậy, tình hình an ninh
trật tự diễn ra hết sức phức tạp, nhất là tội phạm ma túy trên tuyến Tây
Bắc, trộm cắp tài sản và tranh chấp đất đai kiện tụng dân sự ngày càng
gia tăng. Do vậy các cơ quan Thi hành án dân sự hoạt động trong phạm
vi địa bàn khó khăn và rộng. Với những điều kiện tự nhiên và phong tục
tập quán khác nhau nên phần nào cũng tác động đến việc bảo đảm
quyền lợi hợp pháp của đương sự trong quá trình thi hành án.
2.2. Thực trạng bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của
đƣơng sự trong hoạt động thi hành án dân sự tại tỉnh Hòa Bình
Quyền tiếp cận thông tin là một trong những quyền cơ bản nhất
của con người, thuộc nhóm quyền dân sự, chính trị đã được ghi nhận
trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người của Liên hợp quốc năm
1948, và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm
1966 (ICCPR).
Điều 25 Hiến pháp 2013 có quy định về quyền tiếp cận thông
tin của công dân[21].
Nội dung bảo đảm quyền tiếp cận thông tin bao gồm:
Tìm kiếm thông tin: Người được thi hành án có quyền xác
minh, cung cấp thông tin về điều kiện thi hành án của người phải thi
hành án[22]. Thực tiễn công tác thi hành án dân sự cho thấy, kết quả
xác minh điều kiện thi hành án có ý nghĩa hết sức quan trọng, ảnh
12
hưởng trực tiếp đến hiệu quả bảo đảm quyền của đương sự. Kết quả xác
- Phổ biến thông tin (truyền tin)
Sau khi đương sự tiếp nhận được thông tin thì sẽ có những phản
hồi lại đối với cơ quan thi hành án như: đồng ý hoặc không đồng ý đối
với bản án, quyết định của Tòa án và quyết định của cơ quan thi hành
án từ đó có những hành vi trong quá trình thi hành án hoặc là tự nguyện
thi hành hoặc là cố ý trây ỳ và tìm mọi cách để chống đối nghĩa vụ phải
thi hành án, từ đó quyền của người được thi hành án bị xâm hại.
13
2.3. Thực trạng bảo đảm quyền tự do lựa chọn phƣơng thức
thi hành án của đƣơng sự trong hoạt động thi hành án tại tỉnh Hòa
Bình
- Quyền tự do thỏa thuận của đương sự
“1. Đương sự có quyền thỏa thuận về việc thi hành án, nếu thỏa
thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức
xã hội. Kết quả thi hành án theo thỏa thuận được công nhận.
Theo yêu cầu của đương sự, Chấp hành viên có trách nhiệm
chứng kiến việc thỏa thuận về thi hành án.
2. Trường hợp đương sự không thực hiện đúng thỏa thuận thì
có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thi hành phần nghĩa vụ
chưa được thi hành theo nội dung bản án, quyết định”. [22]
Pháp luật dân sự nói chung và pháp luật THADS nói riêng luôn
tôn trọng sự tự định đoạt và thỏa thuận của các đương sự. Nó xuất phát
từ việc các quan hệ dân sự được xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt trên cơ
sở tự nguyện, tự thỏa thuận, tự chịu trách nhiệm và bình đẳng giữa các
chủ thể.
Tuy nhiên, quyền thỏa thuận của đương sự cũng bị hạn chế theo
quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 50 Luật Thi hành án dân sự.
- Quyền tự do lựa chọn thời điểm thực hiện quyền
việc
giải quyết
kiện thi hành
(%)
thụ lý
xong
2014
327
284
248
87
2015
309
253
220
87
2016
361
304
250
82
9 tháng
402
311
253
81
/2017
Nguồn: Cục THADS tỉnh Hòa Bình
Năm 2016, với quyết tâm tạo ra chuyển biến để hoạt động của
Hệ thống THADS trở nên hiệu quả hơn, phục vụ nhân dân được tốt hơn,
chú trọng tới việc bảo đảm quyền của người phải thi hành án thể hiện:
Thứ nhất, Khoản 2 Điều 46 Luật THADS quy định không tổ
chức cưỡng chế thi hành án trong thời gian từ 22 giờ đến 6 giờ sáng
ngày hôm sau và các ngày nghỉ, ngày lễ theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, Khoản 2 Điều 87 Luật THADS quy định một số tài sản
của người phải thi hành án không được kê biên để đảm bảo cuộc sống
bình thường của họ và những người họ có nghĩa vụ nuôi dưỡng.
Thứ ba, Khoản 1 Điều 95 Luật THADS quy định việc kê biên
nhà ở là nơi ở duy nhất của người phải thi hành án và gia đình chỉ được
thực hiện sau khi xác định người phải thi hành án không có tài sản khác
hoặc có nhưng không đủ để thi hành án, trừ trường hợp người phải thi
hành án đồng ý kê biên nhà ở để thi hành án.
Thứ tư, để tránh những chi phí không cần thiết, bảo đảm quyền
lợi của người phải thi hành án, khoản 5 Điều 101 Luật THADS quy
định trước khi mở cuộc bán đấu giá 01 ngày làm việc, người phải thi
hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh
toán các chi phí thực tế, hợp lí đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành
án và tổ chức đấu giá [22].
2.4.2. Quyền được làm việc của đương sự
Trong Luật nhân quyền quốc tế, quyền làm việc được chế định
chủ yếu trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (1948), Công
ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR, năm 1966) và Công
ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR, năm
1966). Các điều ước quốc tế, nhìn chung, xác định nội dung quyền làm
việc của tất cả mọi người, không loại trừ ai.
Điều 35 Hiến pháp 2013 có quy định về quyền làm việc của
công dân. Quyền được làm việc của công dân được pháp luật bảo hộ.
Trong hoạt động thi hành án dân sự, để đảm bảo quyền làm việc
của đương sự, Điều 121 Luật Thi hành án dân sự quy định:
“1. Trường hợp người sử dụng lao động không nhận người lao
làm việc theo đúng nội dung bản án, quyết định.
Thứ hai, người sử dụng lao động có thể bố trí một việc khác
cho người lao động trở lại làm việc với mức lương tương ứng.
Thứ ba, người sử dụng lao động có thể thanh toán các chế độ
cho người lao động trở lại làm việc theo quy định của pháp luật lao
động để chấm dứt nghĩa vụ thi hành án nếu người lao động không chấp
nhận công việc được bố trí và có yêu cầu người sử dụng lao động thanh
toán.
Đối với quy định tại Khoản 3 Điều 121 Luật THADS đã quy
định một chế tài xác đáng đối với người sử dụng lao động (người phải
thi hành án) khi không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của mình theo bản
án, quyết định của Tòa án. Chế tài nhằm “đánh” vào kinh tế đối với
những người có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành án
trong việc nhận người lao động trở lại làm việc. Lần đầu tiên Luật thi
17
hành án dân sự đã bổ sung nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi
không nhận người lao động trở lại làm việc theo bản án, quyết định của
Tòa án đã nhận nhưng chưa bố trí được việc làm cho người lao động.
2.4.3. Quyền được chăm sóc, giáo dục
Điều 36 Hiến pháp 2013 quy định: Nhà nước bảo hộ quyền lợi
của người mẹ và trẻ em [21].
Ly hôn là việc chấm dứt mối quan hệ giữa vợ và chồng khi có
bản án hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Khi ly hôn, vợ
chồng phải tiến hành thỏa thuận việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng,
giáo dục con, nếu không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định theo
quy định của pháp luật. Về việc nuôi con sau ly hôn, Tòa án phải căn cứ
vào quyền lợi, sự phát triển về mọi mặt và hướng tới tương lai tốt đẹp
của người con để quyết định vợ hoặc chồng sẽ là người trực tiếp nuôi
gặp phải khó khăn. Vì theo quy định, hành vi không thực hiện việc giao
người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng theo bản án,
quyết định không thuộc thẩm quyền xử phạt hành chính của chấp hành
viên và Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự mà thuộc thẩm
quyền của Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự cấp tỉnh.
Ngoài ra, khó khăn trong việc cưỡng chế thi hành án: Theo
Điều 39 Luật Thi hành án dân sự quy định thông báo về thi hành án, khi
chấp hành viên thực hiện cưỡng chế thi hành án thì phải thực hiện thông
báo cưỡng chế thi hành án cho các đương sự. Do được biết trước về
việc cưỡng chế nên người phải thi hành án thường đem người chưa
thành niên đi bỏ trốn.
2.4.4. Quyền có nơi ở của đương sự
Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định “Công dân có quyền có nơi
ở hợp pháp (Điều 22), “Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp
pháp, của cải để dành, nhà ở…” (Điều 32) và Nhà nước phải “có chính
sách phát triển nhà ở, tạo điều kiện để mọi người có chỗ ở” (Điều
59)[21].
Tuy nhiên, khi xảy ra các tranh chấp về quyền sở hữu nhà ở,
mọi người có quyền khởi kiện yêu cầu cơ quan Tòa án giải quyết.
Trong hoạt động thi hành án, để bảo đảm quyền lợi của người
được thi hành án theo Bản án, pháp luật có quy định biện pháp cưỡng
chế trong trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành
án đồng thời cũng bảo đảm quyền lợi ích hợp pháp của người phải thi
hành án: Trường hợp cưỡng chế giao nhà là nhà ở duy nhất của người
phải thi hành án cho người mua được tài sản bán đấu giá, nếu xét thấy
sau khi thanh toán các khoản nghĩa vụ thi hành án mà người phải thi
hành án không còn đủ tiền để thuê nhà hoặc tạo lập nơi ở mới thì trước
khi làm thủ tục chi trả cho người được thi hành án, Chấp hành viên trích
lại từ số tiền bán tài sản một khoản tiền để người phải thi hành án thuê
nhà phù hợp với giá thuê nhà trung bình tại địa phương trong thời hạn
cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền,
lợi ích hợp pháp của mình[19]. Có thể nói, khiếu nại về thi hành án là
phương thức để các cá nhân, cơ quan, tổ chức bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của mình. Thông qua hành vi khiếu nại, các cá nhân, cơ quan,
tổ chức yêu cầu người có thẩm quyền nhanh chóng áp dụng các biện
pháp cần thiết để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm,
kịp thời ngăn chặn và khắc phục hậu quả của các hành vi trái pháp luật
của thủ trưởng cơ quan thi hành án, Chấp hành viên nếu có.
2.5.2. Bảo đảm quyền tố cáo của đương sự
Quyền tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân
được ghi nhận tại Điều 30 Hiến pháp năm 2013 và Điều 2 Luật tố cáo.
Trong quá trình THADS, ngoài việc cá nhân, cơ quan, tổ chức có
quyền, lợi và nghĩa vụ liên quan đến việc THADS có quyền khiếu nại
thì cũng có quyền tố cáo hành vi, quyết định trái pháp luật của cơ quan
THADS và người có thẩm quyền THADS hoặc bất cứ cá nhân nào
thuộc cơ quan đó nếu quyết định, hành vi trái pháp luật đó gây thiệt hại
hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp
20
pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Tố cáo là công cụ để vạch rõ những
hiện tượng tiêu cực trong xã hội, để có biện pháp xử lí kịp thời, nghiêm
minh đối với những vi phạm, bảo vệ được lợi ích của nhà nước, quyền
và lợi ích hợp pháp của đương liên quan đến THADS, cơ quan, tổ chức,
công dân và qua đó góp phần ổn định trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, tố
cáo về THADS có ý nghĩa nâng cao trách nhiệm của cơ quan THADS,
Chấp hành viên trong THADS, giúp người có thẩm quyền kịp thời xử lí
được các hành vi vi phạm trong THADS. Việc này gián tiếp bảo vệ
quyền lợi hợp pháp cho các đương sự trong THADS.
2.6. Thực trạng cơ chế bảo đảm quyền của đƣơng sự trong
việc giao, nhận Bản án, quyết định, giải thích, đính chính, trả lời kiến
nghị của cơ quan thi hành án đối với bản án, quyết định chưa rõ, có sai
sót, không phù hợp với thực tiễn; phối hợp với Viện kiểm sát trong việc
kiểm sát hoạt động thi hành án nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp
của đương sự; phối hợp chặt chẽ với cơ quan Công an trong công tác đặc
xá, thu, trả tiền, tài sản thi hành án đối với người phải thi hành án đang chấp
hành hình phạt tù; xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án
đang chấp hành hình phạt tù; phối hợp trong công tác chuyển giao vật chứng
và bảo vệ cưỡng chế thi hành án.
Trong những năm qua, Cục THADS tỉnh Hòa Bình đã thực hiện cơ
bản các nhiệm vụ công tác được giao, kết quả thi hành án có sự chuyển biến
tích cực.
Chƣơng 3
PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA
ĐƢƠNG SỰ TRONG HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
TẠI TỈNH HÒA BÌNH
Việc bảo đảm quyền của đương sự trong thi hành án dân sự
trong thực tiễn phụ thuộc vào nhiều yếu tố chủ quan và khách quan
khác nhau. Để nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền của đương sự, tác giả
luận văn đưa ra một số phương hướng, giải pháp sau:
3.1. Phƣơng hƣớng bảo đảm quyền của đƣơng sự trong hoạt
động thi hành án dân sự tại tỉnh Hòa Bình
Thứ nhất, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo cơ
sở pháp lý cho việc bảo đảm quyền của đương sự trong thi hành án
dân sự
Trước tình hình đó cần phải tiếp tục rà soát các văn bản quy
phạm pháp luật có nội dung còn chồng chéo, bất cập để sửa đổi, bổ
sung cho phù hợp với thực tiễn để hoàn thiện hơn nữa hệ thống pháp
luật thi hành án dân sự tạo hành lang pháp lý chặt chẽ đảm bảo quyền
Từng bước thực hiện việc xã hội hóa hoạt động thi hành án dân
sự
Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan trong bảo đảm quyền
của đương sự
KẾT LUẬN
Trong thi hành án dân sự thì vấn đề bảo đảm quyền con người
thực chất là bảo đảm cho quyền của người được thi hành án, người phải
thi hành án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được thực hiện đầy
đủ các quyền của mình theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự,
thông qua những người làm công tác thi hành án dân sự. Đây là hình
thức bảo đảm cho quyền của các đương sự bằng quyền lực Nhà nước
một cách công khai, dân chủ, bình đẳng và khách quan nhất, nên có
hiệu lực và hiệu quả cao nhất. Đối với các cơ quan thi hành án dân sự ở
tỉnh Hòa Bình, trong hoạt động thi hành án dân sự, nhìn chung đã bảo
đảm tốt trong việc thực hiện các quyền cơ bản của công dân, trong đó
đảm bảo thực hiện các quyền của người được thi hành án, người phải
thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Làm được điều đó
trong thực tế cũng cần phải có cơ chế phối hợp đồng bộ giữa các ngành
23