MỤC LỤC
I, ĐẶT VẤN ĐỀ............................................................................................................................2
II, GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.........................................................................................................2
1, Khái quát chung về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước..........................................2
1.1,Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là gì?......................................................................2
1.2,Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự..................2
2, Phạm vi trách nhiệm BT của Nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự……..3
2.1, Ra quyết định thi hành án không đúng hoặc cố ý không ra quyết định thi hành án........3
2.2, Ra quyết định thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy quyết định về thi hành án không đúng hoặc
cố ý không ra quyết định thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy quyết định về thi hành án...................4
2.3, Ra quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm không đúng hoặc cố ý không ra quyết định
áp dụng biện pháp bảo đảm...........................................................................................................5
2.4, Ra quyết định cưỡng chế thi hành án không đúng hoặc cố ý không ra quyết định cưỡng
chế thi hành
án....................................................................................................................................6
2.5, Ra quyết định thi hành án, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng
hoặc cố ý không ra quyết định thi hành quyết định áp dụng thi hành quyết định áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời.....................................................................................................................8
2.6, Ra quyết định hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ thi hành án không đúng hoặc cố ý không ra
quyết định hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ thi hành án...................................................................9
2.7, Ra quyết định tiếp tục thi hành án không đúng hoặc cố ý không ra quyết định tiếp tục thi
hành án.............................................................................................................................................10
2.8, Thủ trưởng cơ quan thi hành án, chấp hành viên có hành vi trái pháp luật trong quá
trình tổ chức thi hành các quyết định của cơ quan thi hành án hoặc cố ý không tổ chức thi
hành các quyết định của cơ quan thi hành án...........................................................................11
3, Thực trạng giải quyết bồi thường thiệt hại trong thi hành án dân sự........................12
3.1, Thành tựu của việc áp dụng Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong thi
hành án dân sự........................................................................................................................12
3.2, Những hạn chế còn tồn tại....................................................................................................13
3.3, Kiến nghị khắc phục hạn chế...............................................................................................13
III, KẾT LUẬN……….............................................................................................................14
thi hành án của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và quy định của Trọng tài thương mại.”
Thi hành án dân sự là hoạt động khá phức tạp, hơn nữa lại rất dễ xâm phạm đến quyền
và lợi ích hợp pháp của các chủ thể cho nên việc Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt
hại do hành vi trái pháp luật của chấp hành viên, thủ trưởng cơ quan thi hành án gây ra là
điều cần thiết phải đặt ra.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chấp hành viên lần đầu tiên được quy định tại
Điều 14 Pháp lệnh thi hành án dân sự (PL THADS) năm 1993; Điều 38 Luật trách nhiệm
bồi thường của Nhà nước; Nghị định số 16/2010/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi
hành một số điều của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; Luật thi hành án dân sự
năm 2010; Thông tư 24/2011/TTLT-BTP-BQP ngày 15/12/2011 hướng dẫn thực hiện trách
nhiệm bồi thường Nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự. Các quyết định và hành vi
trái pháp luật của thủ trưởng cơ quan thi hành án, chấp hành viên là các quyết định, hành vi
vi phạm các quy định của Luật thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật
2
này. Tuy nhiên, không phải tất cả các quyết định, hành vi trái pháp luật của thủ trưởng cơ
quan thi hành án, chấp hành viên trong quá trình thi hành án dân sự thì Nhà nước đều phải
chịu trách nhiệm bồi thường. Muốn đặt ra vấn đề thi bồi thường của Nhà nước trong vấn đề
thi hành án dân sự thì phải đáp ứng đủ các đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, phải là các quyết định, hành vi trái pháp luật của thủ trưởng cơ quan thi hành
án dân sự, chấp hành viên trong quá trình tổ chức thi hành án dân sự.
Thứ hai, các quyết định, hành vi trái pháp luật của thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự,
chấp hành viên thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường nhà nước quy định tại Điều 38, Luật
trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Thứ ba, các quyết định, hành vi trái pháp luật của thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự,
chấp hành viên đã gây ra thiệt hại cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền, lợi ích và nghĩa
vụ liên quan đến thi hành án dân sự.
Thứ tư, các quyết định, hành vi trái pháp luật của thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự,
chấp hành viên phải được xác định trong quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc quyết
được thi hành số tiền nói trên đối với anh A.
Tuy nhiên, khi chị A yêu cầu thi hành án thì thời hiệu thi hành án đã hết, những do làm
việc tắc trách mà cơ quan thi hành án vẫn ra quyết định thi hành bản án đã hết thời hiệu yêu
cầu thi hành án. Trong trường hợp này, nếu quyết định của cơ quan thi hành án gây thiệt hại
cho chị A thì nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
2.2, Ra quyết định thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy quyết định về thi hành án không đúng
hoặc cố ý không ra quyết định thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy quyết định về thi hành án.
Không phải bất cứ khi nào quá trình thi hành án cũng đúng, vẫn có những sai sót còn
tồn tại khi ra quyết định thi hành án, căn cứ ra quyết định thi hành án không còn, quyền và
nghĩa vụ thi hành án được chuyển giao. Chính những lý do này mà pháp luật thi hành án dân
sự đã quy định người có thẩm quyền ra quyết định thi hành án có quyền ra quyết định thu
hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy quyết định về thi hành án khi có căn cứ quy định tại Điều 37 Luật
thi hành án dân sự. Khi người có thẩm quyền ra quyết định thi hành án ra quyết định thu hồi,
sửa đổi, bổ sung, hủy quyết định thi hành án không đúng quy định tại Điều 37 Luật thi hành
án dân sự mà gây thiệt hại cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền, lợi ích và nghĩa vụ liên
quan đến thi hành án dân sự thì Nhà nước có trách nhiệm bồi thường như sau:
+ Người có thẩm quyền ra quyết định thi hành án ra quyết định thu hồi quyết định thi hành
án không đúng quy định tại khoản 1, Điều 37 Luật thi hành án dân sự.
+ Người có thẩm quyền ra quyết định thi hành án, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại
ra quyết định sửa đổi, bổ sung quyết định thi hành án không đúng quy định tại khoản 2, Điều
37 Luật thi hành án dân sự.
+ Người có thẩm quyền ra quyết định thi hành án, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại
ra quyết định hủy quyết định thi hành án không đúng quy định tại khoản 3 Điều 37 Luật thi
hành án dân sự.
Ngoài ra trong trường hợp có các căn cứ thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy quyết định về thi
hành án theo quy định tại Điều 37 Luật thi hành án dân sự mà người có thẩm quyền ra quyết
định thi hành án cố ý không ra quyết định thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy quyết định về thi
hành án mà gây thiệt hại cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền, lợi ích và ghĩa vụ liên quan
đến thi hành án dân sự thì Nhà nước có trách nhiệm bồi thường.
4
khác với biện pháp bảo đảm mà đương sự yêu cầu hoặc ra quyết định áp dụng biện pháp bảo
đảm vượt quá yêu cầu áp dụng biện pháp bảo đảm của đương sự mà gây thiệt hại cho người
bị áp dụng biện pháp bảo đảm hoặc người thứ ba thì Nhà nước phải bồi thường.
Ví dụ: Bản án dân sự sơ thẩm đã buộc anh Nguyễn Văn A phải trả cho chị Phạm Thị B 100
triệu đồng tiền mảnh đất mà anh A đã mua của chị B theo hợp đồng mua bán quyền sử dụng
đất mà hai bên đã kí kết. Chị B có đơn yêu cầu thi hành án đối với cơ quant hi hành án. Sau
5
khi thủ trưởng cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án thì chấp hành viên nhận thấy
rằng anh A có khả năng tẩu tán số tiền trong tài khoản của anh A tại Chi nhánh ngân hàng
VietTinBank nhưng lại không có cơ sở nào chứng minh được việc này. Tuy nhiên, chấp
hành viên vẫn quyết định ra quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm phong tỏa tài khoản đối
với anh A, Điều này dẫn đến thiệt hại cho anh A. Vì vậy, Trong trường hợp này, Nhà nước
có trách nhiệm bồi thường cho anh A những thiệt hại do việc áp dụng biện pháp bảo đảm
không đúng.
Tuy nhiên, trong trường hợp này nếu có đủ chứng cứ chứng minh anh A đang có hành
vi tiêu tán khoản tiền dùng để thi hành án mà anh A gửi trong ngân hàng VietTin Bank,
nhưng, chấp hành viên lại có tình biết mà không ra quyết định phong tỏa tài khoản đối với
anh A thì Nhà nước trong trường hợp này vẫn phải bồi thường cho người nào có quyền và
lợi ích bị xâm phạm. Trong trường hợp này là chị B.
2.4, Ra quyết định cưỡng chế thi hành án không đúng hoặc cố ý không ra quyết định
cưỡng chế thi hành án.
Cưỡng chế thi hành án dân sự là biện pháp thi hành án dân sự dùng quyền lực Nhà
nước buộc người phải thi hành án phải thực hiện các nghĩa vụ thi hành án dân sự của họ đã
được xác định trong bản án, quyết định của tòa án hoặc quyết định của các cơ quan khác, do
chấp hành viên áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện để thi hành án
nhưng họ không tự nguyện thi hành án (Điều 70 và Điều 127 Luật thi hành án dân sự). Việc
áp dụng các biện pháp cưỡng chế phải tuân thủ triệt để các nguyên tắc quy định tại Điều 45,
46 và Điều 71 Luật thi hành án dân sự và Nghị quyết số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009.
đang sinh sống cùng với gia đình mình trên mảnh đất khác cho nên, mảnh đất cha mẹ để lại
phải thuộc quyền sở hữu của ông A. Biêt được ông A đang có í định làm sổ đỏ trên mảnh đất
của mình ông B đã kiện ông A ra tòa. Kết quả Tòa tuyên án oog B thắng và yêu cầu ông A
phải di chuyển nay khỏi mảnh đất của ông A. Nhưng, mặc dù đã hết thời hạn thi hành án mà
ông A vẫn cố tình ở tại căn nhà bằng trên mảnh đất đó cho nên ông B yêu cầu ra quyết định
cưỡng chế thi hành đối với ông A. Tuy nhiên, do ông A có quan hệ khá mật thiết với cán bộ
thi hành án nên cơ quan thi hành án đã cố tình không ra quyết định cưỡng chế thi hành án
đối với ông A dẫn đến ông B bị thiệt hại cho nên trong trường hợp này Nhà nước phải bồi
thường thiệt hại.
2.5, Ra quyết định thi hành án, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không
đúng hoặc cố ý không ra quyết định thi hành quyết định áp dụng thi hành quyết định áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Trong quá trình tòa án giải quyết vụ việc dân sự, để giải quyết nhu cầu cấp bách của đương
sự, bảo vệ bằng chứng, bảo đảm ngăn chặn việc đương sự tầu tán, hủy hoại tài sản nhằm
chốn tránh thực hiện nghĩa vụ trong thi hành án, tòa án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của
đương sự ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (BPKCTT). Do tính chất đặc
biệt của biện pháp này nên quyết định áp dụng BPKCTT, quyết định thay đổi, bổ sung hoặc
hủy bỏ BPKCTT cần được thi hành nhanh chóng và kịp thời. Trong trường hợp sau khi tòa
án ra quyết định áp dụng BPKCTT mà tòa án ra quyết định thay đổi, bổ sung quyết định áp
dụng BPKCTT thì theo quy định tại Điều 131 Luật thi hành án dân sự, khi nhận được quyết
7
định thay đổi hoặc áp dụng bổ sung quyết định áp dụng BPKCTT, thủ trưởng cơ quan thi
hành án phải ra ngay quyết định thi hành án đồng thời thu hồi quyết định thi hành đối với
quyết định áp dụng BPKCTT bị thay đổi. Trong trường hợp tòa án ra quyết định hủy bỏ
quyết định áp dụng BPKCTT thì theo quy định tại Điều 132 Luật thi hành án dân sự thì ngay
sau khi nhận được quyết định của Tòa án, thủ trưởng cơ quan thi hành án ra quyết định đình
chỉ thi hành quyết định áp dụng BPKCTT.
Trong trường hợp thủ trưởng cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành quyết định áp dụng
Điều 48, tạm đình chỉ thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 49 và đình chỉ thi
hành án dân sự được quy định tại Điều 50 của Luật thi hành án dân sự năm 2010. Trường
hợp thủ trưởng cơ quan thi hành án ra quyết định hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ thi hành án
không đúng quy định tại các Điều 48, 49, 50 Luật thi hành án dân sự mà gây thiệt hại cho
người có quyền và nghĩa vụ liên quan thì Nhà nước có trách nhiệm bồi thường.
Bên canh đó, trường hợp khi có các căn cứ quy định tại Điều 48, 49, 50 Luật thi hanh án dân
sự nhưng thủ trưởng cơ quan thi hành án cố ý không ra quyết định hoãn, đình chỉ, tạm đình
chỉ thi hành án thì Nhà nước có trách nhiệm bồi thường.
Ví dụ: Chị A và anh B kết hôn năm 2009, nhưng do quan hệ vợ chồng có sự dạn nứt đến
mức không thể hòa giải được cho nên anh B và chị A đã quyết định ly hôn. Tòa án đã ra
quyết định Ly hôn đối với anh B và chị A, đồng thời quyết định tài sản chung của anh chị là
1 tỷ đồng hiện đang đứng tên anh B trong tài khoản ngân hàng sẽ được chia đôi và yêu cầu
Anh B phải thực hiện nghĩa vụ trả cho chị A một nửa số tiền đó. Chị A gửi đơn yêu cầu cơ
quan thi hành án ra quyết định thi hành án đối với anh B vì anh B không có định định trả tiền
cho chị A. Sauk hi xem xét, thủ trưởng Cơ quan thi hành án đã ra quyết định thi hành án
buộc anh B phải hoàn trả cho chị A số tiền là 500.000.000 đồng. Khi cơ quan thi hành án
đang thi hành quyết định thì do anh B có quan hệ mật thiết với Thủ trưởng của Viện kiểm sát
cho nên, Viện Kiểm sát đã cố tình ra quyết định hoãn thi hành án mà không đưa ra bất kỳ lý
do gì. Trong trường hợp này, do Viện kiểm sát cố tình ra quyết định hoãn thi hành án dẫn
đến thiệt hại cho chị B cho nên, Nhà nước phải bồi thường thiệt hại.
2.7, Ra quyết định tiếp tục thi hành án không đúng hoặc cố ý không ra quyết định tiếp
tục thi hành án.
Thủ trưởng cơ quan thi hành án ra quyết định tiếp tục thi hành án trong các trường hợp quy
định tại khoản 4, Điều 48 và khoản 3 Điều 49 Luật thi hành án dân sự: Căn cứ hoãn thi hành
án không còn; hết thời hạn hoãn thi hành án theo yêu cầu của người có thẩm quyền kháng
nghị; nhận được văn bản trả lời của người có thẩm quyền kháng nghị về việc không có căn
cứ kháng nghị; nhận được quyết định rút kháng nghị của người có thẩm quyền; nhận được
quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của tòa án giữ nguyên bản án, quyết định bị kháng nghị;
nhận được quyết định của tòa án về việc đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản, đình chỉ thủ tục
phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản.
có quyền, lợi ích và nghĩa vụ liên quan trong thi hành án thì Nhà nước có trách nhiệm bồi
thường.
Ngoài ra, khi cơ quan thi hành án đã ra quyết định thi hành án; quyết định thu hồi, sửa đổi,
bổ sung, hủy quyết định về thi hành án; quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án;
quyết định cưỡng chế thi hành án; quyết định thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời của Tòa án; quyết định hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ thi hành án; quyết định tiếp
tục thi hành án mà thủ trưởng cơ quan thi hành án, chấp hành viên cố ý không tổ chức thi
10
hành các quyết định này dẫn đến gây thiệt hại cho người có quyền, lợi ích và nghĩa vụ liên
quan trong thi hành án thì Nhà nước có trách nhiệm bồi thường.
Ví dụ: Ông A là giám đốc phòng khám răng An Lợi, năm 2010, ông A muốn đầu tư trang
thiết bị để trạng bị mới cho phòng khám, do thiếu kinh phí nên ông đã vay của ông B với tư
cách là giám đốc phòng khám số tiền là 70 triệu đồng trong thời hạn 1 năm. Sau 1 năm do
phòng khám làm ăn thua lỗ nên ông A chưa trả hết nợ cho ông B số tiền còn nợ lại là 35
triệu đồng. ông B đã gửi đơn đến tòa kiện ông B và yêu cầu ông phải thực hiện nghĩa vụ trả
nợ do ông B phát hiện ra hành vi tẩu tán tài sản của ông A để không phải thực hiện nghĩa vụ
trả nợ. Ông B yêu cầu ra quyết định phong tỏa tài sản đối với thiết bị của phòng khám An
Lợi của ông A để thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Sau khi xem xét các căn cứ, cơ quan thi hành án
đã ra quyết định phong tỏa tài sản của Phòng khám An Lợi. Tuy nhiên, thủ trưởng của cơ
quan thi hành án này là ông C, vì có quan hệ thân thiết với giám đốc phòng khám An Lợi là
ông A nên đã cố ý không tổ chức thi hành quyết định phong tỏa phòng khám của cơ quan thi
hành án dẫn đến việc gây thiệt hại cho ông B(trong trường hợp ông A đã bán tài sản của
mình) thì Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho ông B.
3, Thực trạng giải quyết bồi thường thiệt hại trong thi hành án dân sự.
3.1, Thành tựu đạt được.
Qua quá trình áp dụng Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và Nghị định số
16/2010/NĐ-CP ngày 03/3/2010 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc và đồng bộ trong việc giải quyết bồi thường thiệt hại trong
hoạt động thi hành án dân sự.
Tuy nhiên, qua những thực tiễn áp dụng tại các Cơ quan Thi hành án dân sự trên địa bàn
các tỉnh, huyện vẫn còn nhiều hạn chế phát sinh trong thực tế hoạt động, cụ thể:
+ Gây khó khăn vướng mắc do người bị thiệt hại không thực hiện đúng quy định của pháp
luật về yêu cầu bồi thường thiệt hại.,
+ Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường trong hoạt động thi hành án dân sự thường khó
xác định.
+ Khó khăn, vướng mắc trong việc cử người đại diện thực hiện việc giải quyết bồi thường.
+ Khó khăn về trình tự, thủ tục cấp và chi trả tiền bồi thường.
Đặc biệt, mặc dù xuất phát từ thực tiễn hoạt động giải quyết bồi thường trong thi hành án
dân sự mà pháp luật đã quy định cụ thể về việc cấp kinh phí bồi thường, nhưng trên thực tế,
vẫn còn tồn tại việc cấp kinh phí bồi thường chưa được thực hiện kịp thời. Cho nên, việc
chậm cấp kinh phí chi trả tiền bồi thường cho người bị thiệt hại cũng là khó khăn trong trách
nhiệm bồi thường của Nhà nước trong thi hành án dân sự.
3.3, Kiến nghị, giải pháp khắc phục
Để triển khai thực hiện tốt Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong hoạt động thi
hành án dân sự tại các cơ quan Thi hành án dân sự; đồng thời, để hoạt động thi hành án dân
sự đúng quy định của pháp luật, hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại do người thi
hành công vụ của các cơ quan Thi hành án dân sự gây ra có khả năng dẫn đến bồi thường,
cần áp dụng một số giải pháp như:
- Kiện toàn hơn nữa về công tác tổ chức cán bộ cả về số lượng lẫn chuyên môn, đảm bảo tất
cả các cơ quan Thi hành án dân sự đủ số lượng cán bộ, công chức theo biên chế được phân
12
bổ; đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ. Đồng thời, tăng cường biên chế cho các cơ quan thi
hành án dân sự nhằm thực hiện nhiệm vụ tham mưu, giúp việc cho thủ trưởng đơn vị theo
dõi công tác giải quyết bồi thường để kịp thời thực hiện thủ tục giải quyết bồi thường khi
người bị thiệt hại có đơn yêu cầu bồi thường; đôn đốc, chỉ đạo việc giải quyết bồi thường
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1, Trường Đại học Luật Hà Nội, Tập bài giảng luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước,
Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2011.
2, BLDS năm 2005.
3, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004.
4, Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009.
5, Luật thi hành án dân sự năm 2010.
14
15