Bài tập học kỳ môn Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
MỤC LỤC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................11
LỜI MỞ ĐẦU
Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị của con người ngày
16/12/1966 tuyên bố: “Bất cứ người nào trở thành nạn nhân của việc bị giam cầm
bất hợp pháp đều có quyền yêu cầu được bồi thường”. Đây là cơ sở pháp lý vững
chắc, khẳng định quyền được bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ
quan tố tụng gây ra là một trong những quyền cơ bản về dân sự, chính trị của con
người. Ghi nhận quyền này, pháp luật Việt Nam cho ra đời Luật TNBTCNN trong
đó quy định vấn đề bồi thường thiệt hại trong hoạt động TTHS, nhằm mục đích
nâng cao trách nhiệm của Nhà nước đối với công dân; bảo đảm hiệu quả hoạt động
và tính độc lập của các cơ quan tư pháp; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi
ích hợp pháp của tổ chức, công dân. Trong đó, vấn đề xác định phạm vi
TNBTCNN trong hoạt động TTHS là một nội dung rất quan trọng. Trên cơ sở
tham khảo nghiên cứu từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau, em xin đi sâu vào tìm
hiểu đề tài: “Xác định phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt
động tố tụng hình sự”.
NỘI DUNG
I, Lý luận chung về trách nhiệm bồi thường nhà nước trong hoạt động tố tụng
hình sự.
1.1, Khái niệm
- Trước tiên, cần hiểu như thế nào là hoạt động TTHS? TTHS là trình tự tiến
hành giải quyết vụ án hình sự theo quy định của pháp luật (khởi tố, điều tra, truy
tố, xét xử, thi hành án hình sự). TTHS bao gồm toàn bộ hoạt động của cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, của cá nhân, cơ
quan và tổ chức khác góp phần vào việc giải quyết vụ án theo quy định của luật
TTHS.
đó chính là phạm vi TNBTCNN trong hoạt động TTHS, trước khi nghiên cứu về
phạm vi này, chúng ta sẽ tìm hiểu về những đặc điểm của TNBTCNN trong hoạt
động TTHS.
Bài tập học kỳ môn Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
1.3, Đặc điểm về trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong hoạt động tố tụng
hình sự
TNBTCNN trong hoạt động tố tụng được đặt ra với cả ba lĩnh vực là tố tụng
hình sự, tố tụng dân sự và tố tụng hành chính. Trong đó, trách nhiệm bồi thường
trong hoạt động TTHS mang một số đặc trưng cơ bản như sau:
- TNBTCNN trong hoạt động TTHS được đặt ra mà không cần xét đến hành
vi trái pháp luật và yếu tố lỗi của người tiến hành TTHS.
Nếu như TNBTCNN trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng dân sự, tố
tụng hành chính, thi hành án, yêu cầu phải đáp ứng đủ bốn điều kiện: có hành vi
trái pháp luật, có thiệt hại thực tế, có lỗi của người gây thiệt hại, có mối quan hệ
nhân quả giữa hành vi vi phạm pháp luật và thiệt hại xảy ra; thì trong hoạt động
TTHS lược bỏ đi hai yếu tố là hành vi trái pháp luật và lỗi. Sở dĩ có sự khác biệt
này là do các biện pháp TTHS để giải quyết vụ án rất dễ xâm phạm đến quyền con
người, hạn chế quyền công dân… Do đó, nhà nước sẽ bồi thường đối với những
thiệt hại do người tiến hành TTHS gây ra nếu những thiệt hại đó thuộc phạm vi
TNBTCNN mà không cần biết thiệt hại đó có phải do hành vi trái pháp luật và có
lỗi của người tiến hành TTHS gây ra hay không. Đây là một quy định đặc thù về
TNBTCNN trong TTHS, thể hiện chính sách quan tâm, bảo vệ đến quyền con
người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong TTHS.
- Nhà nước chỉ chịu trách nhiệm bồi thường đối với quyết định, hành vi của
người tiến hành TTHS thuộc phạm vi TNBTCNN quy định trong Điều 26 Luật
TNBTCNN. Đặc điểm này chính là nội dung mà bài viết sẽ đi sâu phân tích.
- TNBTCNN trong TTHS chỉ phát sinh khi các quyết định, hành vi của
người tiến hành TTHS gây ra thiệt hại cho người bị thiệt hại.
dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản công dân”. Ông bị tạm giữ 3 ngày và sau đó
được trả tự do vì qua điều tra, xác minh, công an đã xác định ông bị bắt oan vì
trùng họ tên (nhưng năm sinh, quê quán và hình ảnh không giống); đồng thời cơ
quan điều tra đã ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ. Trong trường hợp này,
ông Võ Văn Hùng được bồi thường thiệt hại.
Ở ví dụ trên cho thấy, việc ông Hùng được bồi thường là hoàn toàn chính
đáng vì trên thực tế, ông Hùng không vi phạm pháp luật, công an xã Xuân Tâm
cũng đã ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ, hơn nữa việc bị tạm giữ 3 ngày,
gây tổn thất về tinh thần; tổn hại sức khỏe; mất thu nhập thực tế của ông.
2.2, Người bị tạm giam, người đã chấp hành xong hoặc đang chấp hành hình
phạt tù có thời hạn, tù chung thân, người đã bị kết án tử hình, người đã thi
Bài tập học kỳ môn Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
hành án tử hình mà có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong
hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội;
Khoản 2 Điều 26 Luật BTTNCNN có hai trường hợp:
Trường hợp một: Người bị tạm giam.
Theo Điều 88. Bộ luật TTHS: “Tạm giam có thể được áp dụng đối với bị
can, bị cáo trong những trường hợp sau đây:
- Bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; phạm tội rất nghiêm trọng;
- Bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật
hình sự quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể
trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội.”
Đối tượng của tạm giam là những người đã bị khởi tố về hình sự hoặc người
đã bị tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử. Tuy nhiên, theo khoản 2 Điều 88 thì
với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới ba mươi sáu tháng
tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà nơi cư trú rõ ràng thì không tạm
giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, trừ một số trường hợp được quy định
rõ trong điểm a, b, c khoản này.
- Không có sự việc phạm tội: Đây là trường hợp người bị thiệt hại không
thực hiện bất cứ hành vi vi phạm pháp luật nào, họ đã bị áp dụng các thủ tục TTHS
một cách oan uổng.
Ví dụ: Kỳ án vườn mít: Lê Bá Mai - người mà Tòa án Nhân dân tỉnh Bình
Phước và Tòa phúc thẩm Tòa án Nhân dân Tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh
tuyên án tử hình về hai tội “Hiếp dâm và giết người” cách đây gần 7 năm, sau đó
vào ngày 24/5/2011 Tòa án Nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử lại và tuyên vô tội.
Trong trường hợp này, Lê Bá Mai được cơ quan có thẩm quyền trong TTHS xác
định không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nào nhưng lại bị kết án cho nên
được bồi thường thiệt hại do thi hành án oan.
- Hành vi không cấu thành tội phạm: Đây là trường hợp người bị thiệt hại có
thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nhưng chưa đến mức phải truy cứu trách
nhiệm hình sự mà chỉ phải chịu xử lý về hành chính, dân sự hoặc bị xử lý kỷ luật.
Việc áp dụng các biện pháp của TTHS trong trường hợp này là không tương xứng
với tính chất, mức độ vi phạm của hành vi vi phạm pháp luật. Từ đó, gây ảnh
hưởng không nhỏ đến quyền công dân. Chính vì vậy, khi có quyết định của cơ
quan có thẩm quyền trong hoạt động TTHS xác định hành vi không cấu thành tội
phạm thì nhà nước có trách nhiệm bồi thường cho người bị oan.
Bài tập học kỳ môn Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
Ví dụ: ngày 23/11/2011 Cao Xuân Phương bị tòa án nhân dân huyện Đô
Lương tuyên phạt 6 tháng tù giam cho hưởng án treo vì “tội công nhiên chiếm đoạt
tài sản” của chị Nguyễn Thùy Hoa. Phương kháng cáo, tòa phúc thẩm xét xử lại vụ
án và đưa ra phán quyết Phương không phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản do
giá trị tài sản bị chiếm đoạt dưới 500.000đ. Hành vi này của Phương chỉ bị xử phạt
hành chính, chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự. Chính vì vậy, nhà
nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại tương ứng với thời gian mà Phương bị
phạt án treo vì trong thời gian đó quyền con người bị hạn chế.
2.3, Người bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án
mức hình phạt của những tội mà người đó phải chấp hành”
Ví dụ: 14/2/2009, Nguyễn Trung Đức bị tòa án nhân dân huyện Từ Liêm
tuyên phạm hai tội: trộm cắp tài sản (Điều 138 BLHS) và tội cố ý gây thương tích
(Điều 103 BLHS) tổng hình phạt là ba năm tù. Đức đã kháng cáo và tòa án phúc
thẩm xác định Đức không phạm tội cố ý gây thương tích do tỉ lệ thương tật của
nạn nhân bị giám định sai (dưới 11%). Tòa phúc thẩm tuyên Đức phải chịu hình
phạt 2 năm tù giam đối với tội trộm cắp tài sản. Đức đã ngồi tù 27 tháng. Như vậy,
nhà nước phải bồi thường thiệt hại cho Đức tương ứng với 3 tháng tù giam vượt
quá so với mức hình phạt mà Đức phải chịu.
Khoản 5 Điều 26 quy định: “Người bị khởi tố, truy tố, xét xử về nhiều tội
trong cùng một vụ án và bị kết án tử hình nhưng chưa thi hành mà sau đó có bản
án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác
định người đó không phạm tội bị kết án tử hình và tổng hợp hình phạt của những
tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam thì được bồi thường thiệt hại tương ứng
với thời gian đã bị tạm giam vượt quá so với mức hình phạt chung của những tội
mà người đó phải chấp hành”
Ví dụ: 7/2009, ông Trịnh Quang Thật bị TAND tỉnh Ninh Thuận tuyên án tử
hình vì hai tội giết người và cướp tài sản xảy ra tại thôn Vạn Phước. Bản án có
hiệu lực nhưng chưa thi hành, ông Thật kháng cáo, tòa phúc thẩm tòa án nhân dân
tối cao xác định không đủ chứng cứ buộc tội ông Thật giết người mà chỉ phạm tội
cướp tài sản, mức hình phạt là 1 năm. Tuy nhiên ông Thật đã bị tạm giam 18
tháng. Rõ ràng, thời gian tạm giam của ông Thật đã vượt quá 6 tháng do đó ông sẽ
được nhà nước bồi thường tương ứng với khoảng thời gian vượt quá hình phạt này.
Khoản 6 Điều 26 quy định: “Người bị xét xử bằng nhiều bản án, Toà án đã
tổng hợp hình phạt của nhiều bản án đó, mà sau đó có bản án, quyết định của cơ
quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không
Bài tập học kỳ môn Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
phạm một hoặc một số tội và hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị
Bài tập học kỳ môn Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
của cơ quan có thẩm quyền trong TTHS xác định người đó không thực hiện hành
vi phạm tội, đồng thời xác định do việc kê biên tài sản mà gây thiệt hại cho tổ
chức, cá nhân thì nhà nước phải bồi thường những thiệt hại đó.
III. NHẬN XÉT
Như vậy, thông qua bài viết chúng ta đã tìm hiểu về các trường hợp được
nhà nước bồi thường thiệt hại trong hoạt động TTHS. Từ các trường hợp này đã
khái quát nên phạm vi TNBTCNN. Có thể thấy, Luật TNBTCNN đã đạt được
những kết quả nhất định đối với hoạt động bồi thường trong TTHS.
Thứ nhất, Luật đã xác định rõ phạm vi TNBTCNN trong hoạt động TTHS.
Qua phân tích ở mục II đã chứng minh cho nhận định trên, quy định của luật về
vấn đề trên rất rõ ràng, chi tiết, đồng thời không thiếu tính tổng quát; điều này góp
phần đưa quy định của luật áp dụng vào thực tiễn dễ dàng hơn cho cả người bị
thiệt hại lẫn người thi hành công vụ trong việc bồi thường. Không những quy định
các trường hợp nằm trong phạm vi được nhà nước bồi thường, Điều 27 của Luật
TNBTCNNN còn chỉ ra các trường hợp không được nhà nước bồi thường trong
hoạt động TTHS. Việc đưa ra những quy định này góp phần cụ thể hóa hơn nữa về
phạm vi bồi thường trong hoạt động TTHS, tránh sự nhầm lẫn và áp dụng bồi
thường sai cho một số trường hợp.
Thứ hai, so với Nghị quyết 388 trước đây thì Luật TNBTCNN đã mở rộng
phạm vi TNBTCNN trong hoạt động TTHS. Cụ thể ngoài 4 trường hợp được giữ
nguyên như ở Điều 1 của Nghị quyết 388 còn quy định thêm 3 trường hợp tại
khoản 4, 5, 6 Điều 26. Việc mở rộng phạm vi được bồi thường đã cho thấy bước
phát triển trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại, tạo ra
tính công bằng, dân chủ hơn.
Thứ ba, Luật TNBTCNN có hiệu lực từ ngày 1/1/2010, cho đến nay đã giải
quyết các vụ việc bồi thường một cách nhanh chóng, chính xác hơn cho các đối
tượng bị thiệt hại trong TTHS. Không những thế, nó còn nâng cao hiệu quả hoạt