VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐỖ ĐỨC THUẬN
BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA ĐƢƠNG SỰ
TRONG HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
TỪ THỰC TIỄN TỈNH HÒA BÌNH
Chuyên ngành: Quyền con người
Mã số:..........................................
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. Lê Mai Thanh
HÀ NỘI, 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự
hướng dẫn khoa học của TS. Lê Mai Thanh. Các số liệu, kết quả nêu trong
luận văn là trung thực và chưa được công bố trong các công trình khác. Nếu
không đúng như đã nêu trên, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về đề tài của
mình.
Ngƣời cam đoan
Đỗ Đức Thuận
3.2. Giải pháp bảo đảm quyền của đương sự trong hoạt động thi hành án dân sự tại
tỉnh Hòa Bình ............................................................................................................ 62
Tiểu kết chương 3...................................................................................................... 70
KẾT LUẬN ................................................................................................................ 72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................... 74
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLTTDS
Bộ luật tố tụng dân sự
TAND
Tòa án nhân dân
THA
Thi hành án
THADS
Thi hành án dân sự
TTLT
Thông tư liên tịch
XHCN
1
địa bàn tỉnh Hòa Bình là nơi có nhiều dân tộc thiểu số cùng sinh sống, trình
độ dân trí chưa cao, sự phát triển kinh tế còn rất thấp, vì vậy việc áp dụng các
quy định của pháp luật trong tổ chức THADS nhằm bảo đảm các quyền và lợi
ích hợp pháp của đương sự vẫn gặp không ít những khó khăn vướng mắc, cần
tháo gỡ.
Trước tình hình đó việc nghiên cứu đề tài "Bảo đảm quyền của đương
sự trong hoạt động thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Hòa Bình" đáp ứng
tính cấp thiết. Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài này làm luận văn thạc sĩ luật học,
chuyên ngành Quyền con người.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong khoa học pháp lý vấn đề bảo vệ quyền con người nói chung và
bảo vệ quyền của đương sự trong hoạt động THADS nói riêng, đã có nhiều
tác giả, nhà nghiên cứu hết sức quan tâm nhất là trong thời kỳ đổi mới, hội
nhập. Đã có nhiều bài viết, công trình nổi bật được nghiên cứu từ các góc độ
và mức độ khác nhau. Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu như sau:
Về sách, giáo trình: Giáo trình Pháp luật quốc tế về quyền con người
của Học viện khoa học xã hội do GS. TS Võ Khánh Vinh và TS. Lê Mai
Thanh chủ biên; Giáo trình cơ chế quốc tế và khu vực về quyền con người của
Học viện khoa học xã hội do GS. TS Võ Khánh Vinh và TS Lê Mai Thanh
chủ biên; Giáo trình quyền con người của Học viện khoa học xã hội do GS.
TS Võ Khánh Vinh chủ biên; Quyền con người tiếp cận đa ngành và liên
ngành luật học tập II do GS. TS Võ Khánh Vinh chủ biên; Quyền con người
tiếp cận đa ngành và liên ngành khoa học xã hội do GS. TS Võ Khánh Vinh
chủ biên; Cơ chế bảo đảm và bảo vệ quyền con người do GS. TS Võ Khánh
Vinh chủ biên; Tư tưởng về quyền con người tuyển tập tư liệu thế giới và Việt
Nam; Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người do tác giả Nguyễn
được thực tiễn bảo đảm quyền của đương sự trong thi hành án dân sự tại tỉnh
Hòa Bình và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác thi hành án
dân sự.
3
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu bảo đảm quyền của đương sự trong hoạt động thi
hành án dân sự bao gồm: Bảo đảm quyền của người được thi hành án, người
phải thi hành án trong hoạt động thi hành án dân sự.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Luận văn nghiên cứu về quyền của các chủ thể là đương sự trong hoạt
động THADS, bao gồm người được thi hành án và người phải thi hành án.
- Bảo đảm các quyền con người đặc thù của đương sự dễ bị xâm hại
trong quá trình thi hành án. Luận văn không tham vọng nghiên cứu tất cả các
quyền con người của đương sự.
- Địa bàn nghiên cứu: quyền của đương sự trong hoạt động THADS tại
địa bàn tỉnh Hòa Bình.
- Thời gian nghiên cứu: giai đoạn luật thi hành án dân sự năm 2008 có hiệu
lực ngày 01/7/2009 và được sửa đổi, bổ sung năm 2014 đến tháng 7 năm 2017.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về Nhà nước và pháp luật, quan
điểm của Đảng và nhà nước về vấn đề bảo đảm và thực hiện quyền con người
ở nước ta.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được các mục đích nghiên cứu mà đề tài đã đặt ra; trong quá
trong hoạt động thi hành án dân sự tại tỉnh Hòa Bình.
5
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA ĐƢƠNG SỰ
TRONG HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
1.1. Khái niệm, đặc điểm và nội dung quyền của đƣơng sự trong
hoạt động thi hành án dân sự
1.1.1. Khái niệm quyền của đương sự trong hoạt động thi hành án
dân sự
Trong tiếng việt “đương sự” được hiểu “là người, là đối tượng trong
một sự việc nào đó được đưa ra giải quyết”[34, tr.159]. Như vậy theo nghĩa
chung nhất thì đương sự chỉ là người, là đối tượng trong một vụ việc nào đó
được đưa ra giải quyết trong cuộc sống hàng ngày.
Theo tác giả Bùi Thị Huyền thì: “Đương sự trong thi hành án dân sự là
người có quyền và nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến việc thi hành án dân sự,
tham gia vào quá trình thi hành án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của chính mình” [18,tr. 98].
Như vậy, đương sự trong thi hành án dân sự chính là những người được
hưởng quyền hoặc phải thực hiện nghĩa vụ được xác định trong bản án, quyết
định. Khái niệm về đương sự trong THADS đã từng được ghi nhận tại Điều 3
Pháp lệnh THADS năm 2004 theo hướng: Bản án, quyết định dân sự đã có
hiệu lực pháp luật phải được người phải thi hành án, người được thi hành án,
người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án (gọi chung là đương
sự) nghiêm chỉnh thi hành và được các cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang
nhân dân và cá nhân tôn trọng [40]. Tuy nhiên, phạm vi chủ thể được coi là
đương sự đã bị thu hẹp hơn trong Luật THADS năm 2008. Theo Khoản 1
Điều 3 Luật THADS thì các đương sự trong THADS chỉ bao gồm: Người
chặt chẽ với nhau. Tuy nhiên, tùy thuộc vào điều kiện hoàn cảnh xã hội khác
nhau mà một số quyền được ưu tiên thực hiện hoặc được chú ý bảo vệ hơn.
- Tính liên hệ và phục thuộc lẫn nhau của quyền con người: Các quyền
con người cụ thể không thể tồn tại một cách biệt lập mà trong một tổng thể
vừa là tiền đề vừa là kết quả của nhau[48].
7
Ngoài các thuộc tính kể trên, quyền của đương sự chỉ dưới góc độ trong
quá trình thi hành án dân sự nên có những đặc điểm riêng sau:
- Nhóm quyền của đương sự trong hoạt động thi hành án dân sự chủ
yếu khu trú ở nhóm quyền dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội và dễ bị xâm hại.
Hoạt động thi hành án dân sự là hoạt động tác động trực tiếp đến tài sản của
người phải thi hành án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được
thi hành án. Do đó, quyền của người được thi hành án thường được tôn trọng
và bảo đảm nhiều hơn so với quyền của người phải thi hành án. Để bảo đảm
quyền lợi cho người được thi hành án thì cơ quan thi hành án phải thực hiện
các biện pháp nghiệp vụ để xử lý các tài sản, quyền tài sản... của người phải
thi hành án.
- Nhóm người được thi hành án thường là người có quyền và lợi ích bị
xâm phạm trong các giao dịch dân sự trước đó cho nên người được thi hành
án cần được bảo vệ về tài sản, tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm
trong quá trình thi hành án. Hoạt động này thực chất là để bù đắp những thiệt
hại, tổn thất mà họ phải gánh chịu trong các giao dịch dân sự trước đó. Tuy
nhiên, trong quá trình thi hành án họ dễ gặp phải rào cản từ phía cơ quan thi
hành án dân sự, cơ quan Tòa án và cá nhân, tổ chức khác nhằm hạn chế một
số quyền vốn có của họ như: không được nhận bản án, quyết định; không
được nhận thông báo về thi hành án, không được nhận trở lại làm việc hay
không được nhận tài sản do phía người phải thi hành án cố ý chây ỳ, trốn
của người dân, đến trách nhiệm của cơ quan nhà nước phải công khai thông
tin do mình nắm giữ và được ghi nhận trong Hiến pháp 2013.
Trong hoạt động thi hành án dân sự, quyền tiếp cận thông tin của
đương sự là quyền được tiếp cận hồ sơ, tài liệu của các cơ quan có thẩm
quyền trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Ngoài ra nó còn là quyền chủ động
của đương sự được yêu cầu và nghĩa vụ của cơ quan thi hành án, các tổ chức,
cá nhân có liên quan phải công bố. Quyền tiếp cận thông tin của đương sự thể
hiện ở các nội dung chủ yếu sau:
9
- Tìm kiếm thông tin: Đương sự có quyền chủ động để có được thông
tin cần thiết mà mình quan tâm. Đương sự có quyền yêu cầu và đề nghị các cơ
quan, tổ chức, đơn vị nắm giữ thông tin có nghĩa vụ cung cấp thông tin đó cho
mình. Quyền này được ghi nhận trong Luật THADS: Người được thi hành án
có quyền xác minh, cung cấp thông tin về điều kiện thi hành án của người
phải thi hành án (điểm đ khoản 1 Điều 7) và các cơ quan, tổ chức, cá nhân
đang nắm giữ thông tin phải có trách nhiệm cung cấp đúng, đầy đủ và kịp thời
các thông tin (Điều 176, Điều 177).
- Tiếp nhận thông tin: Đương sự được nhận thông tin qua các kênh
khác nhau và trách nhiệm của cơ quan nắm giữ thông tin là phải cung cấp
thông tin để đương sự biết, kể cả khi không có yêu cầu. Vì vậy, Luật THADS
đã quy định cơ quan đã ra bản án, quyết định phải có trách nhiệm cấp bản án,
quyết định cho đương sự (Điều 27) và cơ quan thi hành án phải thực hiện việc
thông báo về thi hành án cho đương sự để họ thực hiện quyền, nghĩa vụ theo
nội dung của văn bản đó.
- Phổ biến thông tin: Sau khi nhận được thông tin từ các cơ quan có
thẩm quyền, đương sự có quyền truyền thông tin. Trong hoạt động thi hành án
dân sự, khi nắm bắt được thông tin, đương sự có quyền bày tỏ quan điểm của
trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người của Liên hợp quốc năm 1948;
Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (ICCPR) và
Công ước quốc tế các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội năm 1966.
Hoạt động thi hành án là hoạt động liên quan đến các vấn đề về tài sản
và nhân thân trong các bản án dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình.
Các phán quyết của Tòa án trong nhóm quyền này thường là trả lại tài sản,
quyền có việc làm, quyền có chỗ ở và quyền được chăm sóc, giáo dục. Để bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, pháp luật quy định các chế tài đối
với người phải thi hành án trong trường hợp không tự nguyện thi hành án như
áp dụng các biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế (khoản 1 Điều 46 Luật
11
THADS). Bên cạnh việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người được
thi hành án thì cũng phải chú trọng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
người phải thi hành án như quy định về % khấu trừ vào thu nhập để bảo đảm
cuộc sống tối thiểu của người phải thi hành án và người được nuôi dưỡng
(Điều 78 Luật THADS) hay không được tiến hành kê biên tài sản của người
phải thi hành án là những vật dụng thiết yếu phục vụ cho cuộc sống tối thiểu
của người phải thi hành án và gia đình (Điều 87 Luật THADS)
Quyền khiếu nại, tố cáo của đương sự: Khiếu nại, tố cáo là một trong
những quyền chính trị cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp
2013, Luật khiếu nại 2011, Luật tố cáo 2011 và Luật THADS. Thực hiện
quyền khiếu nại, tố cáo là hình thức dân chủ trực tiếp để đương sự giám sát
hoạt động của cơ quan, công chức nhà nước; đồng thời là một biện pháp để
công dân, tổ chức bảo vệ mình trước sự vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ
chức, người có thẩm quyền. Việc Luật THADS quy định khiếu nại, tố cáo và
giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự là một phương thức để
đương sự thực hiện quyền kiểm tra, giám sát, hướng tới bảo vệ quyền, lợi ích
đó; 2. Là cho có được điều gì [35, tr.52].
Từ những định nghĩa nêu trên, có thể hiểu khái niệm: “Bảo đảm quyền
của đương sự là tổng thể các nguyên tắc, quy phạm pháp luật và các điều
kiện bảo dảm từ phía Nhà nước nhằm hiện thực các quyền của đương sự trên
thực tế”.
Có tác giả cho rằng: “...việc thi hành án dân sự không những phải bảo
đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự mà còn phải bảo đảm cả
quyền, lợi ích hợp pháp của những người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến
việc thi hành án dân sự, không được xâm phạm, gây thiệt hại đến quyền, lợi
ích hợp pháp của họ” [3].
Trong hoạt động thi hành án dân sự, bảo đảm quyền của đương sự phải
đáp ứng các yêu cầu sau:
13
- Trong THADS bên cạnh việc tôn trọng và bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp
của người được thi hành án còn phải tôn trọng và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp
của người phải thi hành án và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- Việc tổ chức THADS phải đúng pháp luật và đúng nội dung bản án,
quyết định được thi hành để bảo đảm quyền, lợi ích của người được thi hành
án và không xâm phạm đến quyền, lợi ích của người phải thi hành án và
những người liên quan đến việc THADS.
- Phải bảo đảm cho người được thi hành án, người phải thi hành án và
những người liên quan đến việc THADS được tham gia vào quá trình thi hành
án để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ và bảo đảm quyền khiếu nại, tố
cáo của họ đối với các hành vi trái pháp luật trong thi hành án.
Về quy định tại Điều 5 của Luật THADS năm 2008, thì bảo đảm quyền,
lợi ích hợp pháp của đương sự, nghĩa là trong quá trình THADS, quyền, lợi ích
hợp pháp của đương sự được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.
2. Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy
định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc
gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng [21].
Ngoài ra, theo quy định tại Điều 106 Hiến pháp năm 2013 thì: “Bản án,
quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ
chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm
chỉnh chấp hành”[21].
Bảo đảm quyền của đương sự trong THADS còn là sự cụ thể hóa các
quy định về nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự được quy định tại
Điều 2 Bộ luật Dân sự 2015. Cụ thể là theo quy định tại Khoản 1 Điều luật
này thì tất cả các quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác được tôn
trọng và được pháp luật bảo vệ... Khi quyền dân sự của một chủ thể bị xâm
phạm thì chủ thể đó có quyền tự bảo vệ theo quy định của Bộ luật này hoặc
yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận quyền dân sự của mình;
15
buộc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai; thực hiện nghĩa
vụ dân sự hoặc bồi thường thiệt hại. Khi Tòa án đã ra phán quyết thì quyền lợi
hợp pháp của đương sự đã được ghi nhận trong bản án, quyết định của Tòa án
được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ trong quá trình THADS.
Bảo đảm quyền của đương sự trong THADS được ghi nhận tại Điều 5
Luật THADS, cụ thể: trong quá trình thi hành án, quyền, lợi ích hợp pháp của
đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được tôn trọng và được
pháp luật bảo vệ. Theo đó, cơ quan thi hành án, Thừa phát lại và các chủ thể
có trách nhiệm hỗ trợ, phối hợp trong thi hành án dân sự phải tổ chức thi hành
án dân sự theo đúng pháp luật và đúng nội dung bản án, quyết định, không
xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và bảo đảm cho họ thực
hiện quyền.
thi hành án dân sự, phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh đối với những
cán bộ, công chức có hành vi vi phạm trong việc thực thi nhiệm vụ.
Hàng năm có kế hoạch hỗ trợ kinh phí cho các cơ quan thi hành án
dân sự trong việc đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, phương tiện và trang
thiết bị làm việc như: trụ sở, xe ô tô, xe máy, điện thoại, máy tính, máy
photocoppy, máy in...
Ngoài ra phong tục tập quán của mỗi dân tộc khác nhau tác động dến
hiệu quả của việc bảo đảm quyền của đương sự. Tuy các quyền con người có
tính tự nhiên và phổ biến nhưng mỗi cá nhân con người lại sống trong những
nền văn hóa khác nhau thể hiện ở sự khác biệt về truyền thống, phong tục tập
quán, nhận thức và lối sống... do đó, cách hiểu và áp dụng pháp luật khác
nhau, ảnh hưởng đến việc bảo đảm quyền con người. Đối với một số dân tộc
thiểu số thì tiếng nói của già làng, trưởng bản rất có trọng lượng được người
dân coi trọng. Do đó, trong quá trình thi hành án dân sự, Chấp hành viên cần
có sự hiểu biết về các phong tục tập quán của mỗi dân tộc để vận dụng vào
quá trình thi hành án, bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
17
1.3. Cơ chế bảo đảm quyền của đƣơng sự trong hoạt động thi hành
án dân sự
Bảo đảm quyền của đương sự trong việc thi hành án dân sự xuất phát từ
nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan thi hành án dân sự. Các bản
án và quyết định của Tòa án nhân dân (TAND) đã có hiệu lực pháp luật phải
được cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân
dân và mọi công dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm
chỉnh chấp hành. Vì vậy, tham gia vào quá trình THADS có rất nhiều các cơ
quan, tổ chức, cá nhân khác nhau, trong đó cơ quan có thẩm quyền tổ chức thi
hành các bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực thi hành của Tòa án, trọng
nhân, tổ chức có quyền lợi về tài sản liên quan đến người phải thi hành án
(trường hợp có tài sản thuộc sở hữu chung, nhận chuyển nhượng tài sản là đối
tượng thi hành án...). Thực tế cho thấy, trong nhiều trường hợp Chấp hành
viên và người được thi hành án không thể nắm hết được thông tin về tài sản
bảo đảm thi hành án của người phải thi hành án. Trong trường hợp này vai trò
của các cá nhân, cơ quan, tổ chức trong việc cung cấp thông tin là rất quan
trọng, giúp Chấp hành viên có thể thu thập thông tin về tài sản của người phải
thi hành án, qua đó đưa ra các quyết định kịp thời, bảo đảm quyền lợi cho
đương sự.
Để một bản án, quyết định được tổ chức thi hành thành công trên thực
tế, bảo đảm tối đa quyền lợi hợp pháp của đương sự thì không thể thiếu sự
phối hợp của các chủ thể này.
Nhằm tăng cường hiệu quả bảo đảm quyền của đương sự thì không thể
thiếu được đội ngũ Chấp hành viên. Điều 17 Luật THADS đã quy định: Chấp
hành viên là người được giao trách nhiệm thi hành án, quyết định của Tòa án
theo quy định của pháp luật. Qua đó cũng có thể hiểu được vai trò vô cùng
quan trọng của Chấp hành viên trong việc tổ chức thi hành án nhằm bảo đảm
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ
19
và quyền hạn của mình, Chấp hành viên chỉ và phải tuân theo pháp luật, chịu
trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành án được giao và được pháp luật
bảo vệ. Điều đó cho thấy hoạt động của Chấp hành viên vừa mang tính quyền
lực nhà nước, vừa thể hiện tính chuyên trách trong việc thực hiện pháp luật.
Quyền hạn và nhiệm vụ của Chấp hành viên được quy định cụ thể tại
Điều 20 Luật THADS như sau:
- Thi hành đúng nội dung bản án, quyết định của Toa án; áp dụng đúng
các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục thi hành án, bảo đảm lợi ích
Tóm lại, bảo đảm quyền của đương sự là nguyên tắc cơ bản và có tầm
quan trọng lớn trong pháp luật thi hành án dân sự nước ta hiện nay. Tất cả các
nguyên tắc còn lại đều có quan hệ gắn bó mật thiết với nguyên tắc trên, ngoài
việc tạo tính công bằng, minh bạch trong hoạt động thi hành án thì còn đều
hướng tới bảo vệ quyền lợi cho đương sự.
Tiểu kết chƣơng 1
Bảo đảm quyền con người nói chung và quyền của đương sự nói riêng
trong hoạt động thi hành án dân sự là bảo đảm các yếu tố, điều kiện cần và đủ
cho quá trình thực hiện quyền con người trong lĩnh vực thi hành án dân sự,
hiệu quả cao nhất. Cho nên ngoài các yếu tố bảo đảm quyền của đương sự
trong hoạt động thi hành án dân sự, thì vấn đề về tổ chức và hoạt động của các
cơ quan thi hành án dân sự, về cơ sở vật chất kỹ thuật, về cơ chế đảm bảo sự
phối hợp giữa các cơ quan tư pháp trong việc đảm bảo thực hiện quyền con
người... cũng cần đặc biệt quan tâm.
Luận văn đã đưa ra và luận giải được một số quan điểm lý luận cơ bản
về khái niệm, đặc điểm quyền của đương sự trong hoạt động thi hành án dân
sự; nội dung quyền của đương sự, khái niệm bảo đảm quyền của đương sự và
các yếu tố bảo đảm quyền và cơ chế bảo đảm quyền của đương sự trong hoạt
động thi hành án dân sự.
21