Bài tập lớn học kỳ – Môn Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước
MỤC LỤC
MỤC LỤC.....................................................................................................................1
1.Khái niệm............................................................................................................2
4.Ban hành và chuyển giao quyết định giải quyết bồi thường..............................8
5. Chi trả tiền bồi thường.....................................................................................10
KẾT THÚC VẤN ĐỀ..................................................................................................11
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................................11
ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam đang trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền – Nhà nước mà
trong đó không chỉ mỗi cá nhân, tổ chức mà bản thân nhà nước và những người đứng
đầu chính quyền đều phải tôn trọng pháp luật và bảo đảm quyền con người. Trách
nhiệm bồi thường nhà nước (BTTH ) là trách nhiệm của nhà nước trước nhân dân về
tính hợp pháp trong các hoạt động của mình. Nội dung cơ bản nhất của trách nhiệm
này là cam kết khi cán bộ, công chức, người thi hành công vụ có hành vi xâm phạm
quyền và lợi ích của các cá nhân, tổ chức trong xã hội và gây thiệt hại thì nhà nước sẽ
bồi thường cho các thiệt hại mà cá nhân và tổ chức này đã gánh chịu. Trong phạm vi
bài tập lớn học kỳ, em xin chọn đề tài : “Thủ tục giải quyết bồi thường do người thi
hành công vụ gây ra trong hoạt động thi hành án dân sự”. Do thời gian và tầm hiểu
Bài tập lớn học kỳ – Môn Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước
biết còn nhiều hạn chế, bài làm không thể tránh khỏi những sai sót, rất mong nhận
được sự góp ý của các thầy cô để bài làm của nhóm được hoàn thiện hơn. Em xin
chân thành cảm ơn!
NỘI DUNG
I.
Khái niệm và đặc điểm pháp lý của trách nhiệm bồi thường thiệt hại của
nhà nước.
Người gây thiệt hại thuộc cơ quan thi hành án dân sự hoặc được cơ quan thi
hành án dân sự uỷ quyền
Ngoài ra, những quyết định, hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ
trong hoạt động thi hành án dân sự phải có những đặc điểm sau :
Bài tập lớn học kỳ – Môn Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước
Các quyết định, hành vi trái pháp luật của thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự,
chấp hành viên thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của nhà nước quy định tại
Điều 38 Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước.
Các quyết định, hành vi trái pháp luật của thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự,
chấp hành viên đã gây thiệt hại cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền, lợi ích và
nghĩa vụ liên quan đến thi hành án dân sự.
Các quyết định, hành vi trái pháp luật của thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự,
chấp hành viên phải được xác định trong quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc
quyết định giải quyết khiếu nại lần hai của cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu
nại trong thi hành án dân sự theo quy định tại Mục 1 Chương VI Luật thi hành án dân
sự hoặc quyết định giải quyết tố cáo của cơ quan có thẩm quyền giả quyết tố cáo tỏng
thi hành án dân sự theo quy định tại Mục 2 Chương VI Luật thi hành án dân sự.
III. Thủ tục giải quyết bồi thường do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt
động thi hành án dân sự
Trình tự thủ tục giải quyết bồi thường về mặt lý thuyết được chia thành 5 bước:
Yêu cầu giải quyết bồi thường, thủ tục giải quyết bồi thường, xác minh thiệt hại và
thương lượng, ban hành và chuyển giao quyết định giải quyết bồi thường, chi trả bồi
thường. Trình tự này được quy định cụ thể tại chương IV Luật trách nhiệm BTCNN,
thông tư liên tịch số 24/2011/TTLT-BTP-BQP.
1.
Yêu cầu giải quyết việc bồi thường.
Theo điểm a, khoản 1 Điều 3 Thông tư 24/2011/TTLT-BTP-BQP ( sau đây
4. Thời hiệu khiếu nại đã hết.
5. Việc khiếu nại đã có quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực thi hành, trừ
trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 và điểm b khoản 7 Điều 142 của Luật này”.
Sau đó, cá nhân có thẩm quyền giải quyết khiếu nại phải xem xét và kết luận
bằng văn bản về có hay không hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ. Văn
bản kết luận này là bắt buộc bởi chỉ khi có văn bản kết luận về việc hành vi của người
thi hành công vụ có trái pháp luật hay không thì cơ quan có thẩm quyền giải quyết
khiếu nại, tố cáo mới có cơ sở để thụ lý hồ sơ yêu cầu bồi thường của người bị thiệt
hại. Khi nhận được văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công
vụ, người yêu cầu bồi thường phải gửi hồ sơ yêu cầu bồi thường đến có quan có trách
nhiệm bồi thường . Những cơ quan này đã được quy định rõ tại Điều 14 Luật trách
nhiệm BTCNN 2009 và Điều 10 của thông tư thông tư 24.
Về hồ sơ yêu cầu bồi thường cũng được quy định tại Điều 16 Luật trách
nhiệm BTCNN và cụ thể hơn Điều 11 thông tư 24
“Điều 11. Hồ sơ yêu cầu bồi thường
Người bị thiệt hại gửi 01 bộ hồ sơ yêu cầu bồi thường đến cơ quan có trách nhiệm
bồi thường, bao gồm:
a) Đơn yêu cầu bồi thường theo Mẫu số 01a; 01b ban hành kèm theo Thông tư liên
tịch này;
b) Bản sao văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi trái pháp
luật của người thi hành công vụ;
c) Tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc yêu cầu bồi thường”
Bài tập lớn học kỳ – Môn Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước
2. Thụ lý đơn yêu cầu bồi thường.
Sau khi đã có văn bản của cơ quan có thẩm quyền xác nhận hành vi trái pháp
luật của người thi hành công vụ, người yêu cầu giải quyết bồi thường sẽ làm hồ sơ
yêu cầu bồi thường và gửi đến cơ quan có trách nhiệm giải quyết việc bồi
thườngtrong thời hạn hai năm kể từ ngày có văn bản của cơ quan có thẩm quyền xác
Bài tập lớn học kỳ – Môn Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước
thiệt hại hoặc là một trong những người liên quan của người thi hành công vụ gây ra
thiệt hại, tập thể lãnh đạo cơ quan cùng thảo luận, thống nhất cử một đại diện lãnh
đạo cơ quan chịu trách nhiệm về việc giải quyết bồi thường.
Ngoài ra, Điều 13 thông tư 24 còn quy định cơ quan thi hành án dân sự cấp
trên trực tiếp của cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm bồi thường cử người đại
diện thực hiện việc giải quyết bồi thường trong các trường hợp : Cơ quan thi hành án
dân sự chỉ có 01 Lãnh đạo và đồng thời là người gây ra thiệt hại; cơ quan thi hành án
dân sự chỉ có 01 Lãnh đạo và đồng thời là người có liên quan của người bị thiệt hại
hoặc của người gây ra thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều 7 Nghị định số
16/2010/NĐ-CP;Lãnh đạo cơ quan thi hành án dân sự là người gây ra thiệt hại và
Lãnh đạo còn lại của cơ quan thi hành án dân sự đó không có đủ thẩm quyền, điều
kiện để cử người đại diện.
Trong trường hợp cơ quan có trách nhiệm bồi thường là Chi cục Thi hành án
dân sự mà không có công chức có đủ các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 7 Nghị
định số 16/2010/NĐ-CP thì chấp hành viên của Chi cục được cử làm người đại diện
trong việc giải quyết bồi thường.
3. Xác minh thiệt hại và thương lượng
3.1 Xác minh thiệt hại
Có thiệt hại thực tế xảy ra là một trong các căn cứ phát sinh trách nhiệmBTCNN
do đó việc xác minh thiệt hại là là rất quan trọng. Hơn nữa tại Điều 8 và Điều 9 Luật
Trách nhiệmBTCNN thì việc xác minh thiệt hại đặt ra cho cả 2 bên. Để xác định
chính xác mức bồi thường, đảm bảo lợi ích hợp pháp cho cả người bị thiệt hại người
thi hành công vụ gây ra thiệt hại và nhà nước, luật trách nhiệm BTCNN đã có những
quy định cụ thể và rất chặt chẽ trong việc xác định thiệt hại và trách nhiệm thương
lượng giữ các bên tại Điều 18 của Luật này.
Vể thời hạn:Theo quy định tại Điều 14 thông tư 24 thì sau 5 ngày kể từ ngày thụ
lý đơn, người đại diện phải tổ chức việc xác minh thiệt hại.Theo quy định tại khoản
Thương lượng việc bồi thường được ghi nhận là một trong ba nguyên tắc của giải
quyết bồi thường trong luật trách nhiệmBTCNN. Khoản 2 Điều 7 luật trách
nhiệmBTCNN quy định: việc bồi thường “Được tiến hành trên cơ sở thương lượng
giữa cơ quan có trách nhiệm bồi thường với người bị thiệt hại hoặc đại diện hợp
pháp của họ” thủ tục thương lượng nhằm bảo đảm tính dân chủ, khách quan, công
khai, minh bạch và bảo vệ lợi ích cho các chủ thể liên quan như người bị thiệt hại,
người thi hành công vụ và nhà nước. Thương lượng việc bồi thường được quy định
khá chi tiết tại Điều 19 Luật Trách nhiệmBTCNN và Điều 15 thông tư 24.
Thành phần thương lượng theo quy định tại khoản 2 Điều 19 Luật trách nhiệm
BTCNNbao gồm đại diện cơ quan có trách nhiệm bồi thường và người bị thiệt hại
hoặc đại diện hợp pháp của họ. trong trường hợp cần thiết, người thi hành công vụ
gây ra thiệt hại được mời vào thương lượng.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc việc xác minh thiệt hại,
người đại diện phải tiến hành thương lượng với người bị thiệt hại.Thời hạn thực hiện
việc thương lượng là 30 ngày kể từ ngày kết thúc việc xác mịnh thiệt hại. Đối với các
vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp thì thời hạn thương lượng có thể kéo dài thêm
Bài tập lớn học kỳ – Môn Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước
nhưng không quá 45 ngày, theo quy định tại khoản 1 Điều 19 Luật trách nhiệm
BTCNN.
Địa điểm thương lượng là trụ sở của cơ quan có trách nhiệm bồi thường hoặc trụ
sở của ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có người bị thiệt hại cư trú, trừ
trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
Việc thương lượng phải lập thành biên bản và biên bản phải ghi rõ những nội
dung theo như quy định tại khoản 4 Điều 19 Luật trách nhiệm BTCNN :
“4. Việc thương lượng phải lập thành biên bản. Biên bản thương lượng phải ghi rõ
những nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm tiến hành thương lượng;
b) Địa điểm thương lượng, thành phần tham gia thương lượng;
Đại diện ủy ban nhân dân cấp xã nơi cá nhân bị thiệt hại cư trú, tổ chức bị thiệt
hại đặt trụ sở, trong trường hợp chuyển giao quyết định giải quyết bồi thường thông
qua ủy ban nhân dân cấp xã.
Những người khác do pháp luật quy định.
Việc chuyển giao quyết định, giải quyết bồi thường được thực hiện theo thủ tục
quy định tại điều 10, Nghị định số 16/2010 NĐ- CP “ 2. Thủ tục chuyển giao quyết
định giải quyết bồi thường
a) Người thực hiện việc chuyển giao phải trực tiếp chuyển giao quyết định giải
quyết bồi thường cho người bị thiệt hại. Người bị thiệt hại phải ký nhận vào biên bản
hoặc sổ giao nhận quyết định giải quyết bồi thường. Ngày ký nhận của người bị thiệt
hại được tính là ngày nhận được quyết định giải quyết bồi thường.
b) Trong trường hợp người bị thiệt hại vắng mặt thì quyết định giải quyết bồi
thường có thể được giao cho người thân có đủ năng lực hành vi dân sự cùng cư trú
với họ. Người thân của người bị thiệt hại phải ký nhận vào biên bản hoặc sổ giao
nhận quyết định giải quyết bồi thường. Ngày ký nhận của người thân cùng cư trú
được tính là ngày người bị thiệt hại nhận được quyết định giải quyết bồi thường.
Trong trường hợp người bị thiệt hại không có người thân có đủ năng lực hành
vi dân sự cùng cư trú hoặc có nhưng họ từ chối nhận hộ quyết định giải quyết bồi
thường thì có thể chuyển giao quyết định giải quyết bồi thường thông qua Ủy ban
nhân dân cấp xã nơi người bị thiệt hại cư trú.
Trong trường hợp việc chuyển giao quyết định giải quyết bồi thường qua người
khác thì người thực hiện việc chuyển giao phải lập biên bản ghi rõ việc người bị thiệt
hại vắng mặt, quyết định giải quyết bồi thường đã được giao cho ai; lý do; ngày, giờ
giao; quan hệ giữa người nhận hộ với người bị thiệt hại; cam kết giao ngay tận tay
quyết định giải quyết bồi thường cho người bị thiệt hại. Biên bản có chữ ký của
người nhận chuyển quyết định giải quyết bồi thường và người thực hiện việc chuyển
giao quyết định giải quyết bồi thường, người chứng kiến.”
Trong trường hợp: người bị thiệt hại không có người thân, có đủ năng lực hành
vi dân sự cùng cư trú hoặc có nhưng từ chối nhận hộ quyết định giải quyết bồi
thường, thì quyết định bồi thường có thể được gửi tới UBND cấp xã nơi người bị
cơ quan giải quyết bồi thường và người bị thiệt hại ký biên bản kết thúc
việc thương lượng.
5. Chi trả tiền bồi thường.
Căn cứ vào quyết định giải quyết bồi thường đã có hiệu lực của cơ quan có trách
nhiệm bồi thường hoặc bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của toàn án, cơ
quan có trách nhiệm bồi thường thực hiện việc chi trả tiền bồi thường cho người bị
thiệt hại theo quy định tại Chương VI Luật và quy định tại thông tư 24, cụ thể là
“trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày bản án, quyết định giải quyết bồi
thường có hiệu lực pháp luật, cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải chuyển ngay
Bài tập lớn học kỳ – Môn Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước
hồ sơ đề nghị bồi thường đến cơ quan quản lý nhà nước về công tác thi hành án dân
sự ở trung ương để thực hiện thủ tục cấp phát, chi trả tiền bồi thường cho người bị
thiệt hại, cụ thể như sau:
a) Trong trường hợp cơ quan có trách nhiệm bồi thường là cơ quan thi hành án dân
sự do Bộ Tư pháp quản lý thì phải chuyển hồ sơ đề nghị bồi thường đến Tổng cục Thi
hành án dân sự - Bộ Tư pháp;
b) Trong trường hợp cơ quan có trách nhiệm bồi thường là cơ quan thi hành án dân
sự do Bộ Quốc phòng quản lý thì phải chuyển hồ sơ đề nghị bồi thường đến Cục Thi
hành án dân sự - Bộ Quốc phòng.
2. Thủ tục cấp, chi trả tiền bồi thường cho người bị thiệt hại thực hiện theo quy định
tại Chương VI của Luật TNBTCNN và pháp luật có liên quan”.
KẾT THÚC VẤN ĐỀ
Việc quy định trách nhiệm BTTH của nhà nước là phù hợp với yêu cầu của
thực tiễn khách quan, với việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN. Nhà nước
BTTH do hành vi sai phạm của mình gây ra không chỉ có ý nghĩa bù đắp tổn thất,
phục hồi quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị thiệt hại mà còn nâng cao trách
nhiệm của người thi hành công vụ trong việc thực hiện hoạt động của mình, giữ gìn
uy tín của hệ thống cơ quan nhà nước, duy trì niềm tin của nhân dân và đảm bảo công