1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HOÀNG VĂN HỮU
TRÁCH NHIỆM BỒI THƢỜNG
DO CÔNG CHỨNG VIÊN GÂY RA TRONG HOẠT ĐỘNG
CÔNG CHỨNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
luận văn thạc sĩ luật học
Người hướng dẫn khoa học: TS. Tuấn Đạo Thanh Hà nội - 2014
3
LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính
xác và trung thực. Những kết luận khoa học của
luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
1.1.
Tổng quan về trách nhiệm bồi thường thiệt hại
6
1.1.1.
Khái niệm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại
6
1.1.2.
Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại
8
1.1.3.
Phân loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại
10
1.2.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của công chứng viên
22
1.2.1.
Khái niệm về công chứng
22
1.2.2.
Khái niệm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do công chứng
viên gây ra trong hoạt động công chứng
27
1.2.3.
Mục đích và ý nghĩa của việc quy định chế định bồi thường
thiệt hại do công chứng viên gây ra trong hoạt động công chứng
28
1.3.
Lịch sử hình thành quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt
hại do công chứng viên gây ra trong hoạt động công chứng
theo quy định của pháp luật Việt Nam
2.2.2.
Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật
44
2.2.3.
Có lỗi
45
2.2.4.
Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại
48
2.3.
Cơ chế bảo đảm trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với
công chứng viên hành nghề tại Phòng công chứng và Văn
phòng công chứng
52
2.3.1.
Cơ chế bồi thường thiệt hại đối với công chứng viên hành
nghề tại phòng công chứng
53
2.3.2.
Cơ chế bồi thường thiệt hại đối với công chứng viên hành
nghề tại văn phòng công chứng
69
Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TRÁCH NHIỆM BỒI
THƢỜNG THIỆT HẠI DO CÔNG CHỨNG VIÊN GÂY
RA TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG
78
3.1.
Ban hành thống nhất các quy định về bảo hiểm trách nhiệm
nghề nghiệp bắt buộc đối với công chứng viên và tổ chức
phạt vi phạm
99
3.3.
Xây dựng các tiêu chí nhằm xác định cụ thể nghĩa vụ của
công chứng viên làm cơ sở xác định trách nhiệm bồi thường
103
KẾT LUẬN
115
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
116
7
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Luật công chứng được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 10 thông qua
ngày 29/11/2006 đến nay chưa đầy 8 năm song đã đạt được những kết quả
đáng ghi nhận, trong đó đáng chú ý là bước đầu đã thực hiện xã hội hóa công
tác công chứng, xây dựng được mạng lưới công chứng rộng khắp trong cả
nước. Theo Báo cáo tổng kết 5 năm triển khai Luật công chứng 2006 của Bộ
Tư pháp năm 2013:
Trước khi Luật công chứng được ban hành, cả nước có 353
công chứng viên được bổ nhiệm. Đến năm 2012, sau 5 năm thi
hành Luật công chứng, tổng số công chứng viên được bổ nhiệm là
1.606 người (tăng 1.253 người). Nhìn chung, số lượng các công
chứng viên được bổ nhiệm tăng dần theo từng năm: Năm 2007: bổ
công chứng, do tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa các tổ chức công
chứng với nhau còn bộc lộ nhiều bất cập dẫn tới tình trạng công chứng viên
công chứng sai gây thiệt hại cho đương sự. Bên cạnh đó những bất cập, sự
không đồng nhất trong quy định của pháp luật liên quan đến bồi thường thiệt
hại do công chứng viên gây ra như: Luật công chứng 2006, Luật trách nhiệm
bồi thường của nhà nước 2009, Luật viên chức 2010, Bộ luật dân sự 2005…
dẫn đến khi có tranh chấp xảy ra, vấn đề có hay không trách nhiệm bồi
thường thiệt hại của công chứng viên được đặt ra cấp bách hơn bao giờ hết.
Cơ sở pháp lý giải quyết bồi thường thiệt hại đối với công chứng viên và điều
kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do công chứng viên gây ra
gồm những gì? Cách thức xác định mức bồi thường thiệt hại là bao nhiêu?
Các biện pháp bảo đảm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do công chứng viên
gây ra trong hoạt động công chứng như thế nào?
Trước yêu cầu của thực tế, để giải quyết triệt để vấn đề bồi thường thiệt
hại do công chứng viên gây ra trong hoạt động công chứng, tránh những thiệt
hại xảy ra không đáng có cho các bên và công chứng viên; đồng thời góp phần 9
làm sáng tỏ về mặt lý luận, tác giả chọn đề tài:"Trách nhiệm bồi thường do
công ch
ứ
ng viên gây ra trong ho
ạ
t
độ
ng công ch
ứ
ng theo pháp
lu
10
3. Phạm vi nghiên cứu
Với phạm vi nghiên cứu này, luận văn nghiên cứu về bồi thường thiệt
hại do công chứng viên gây ra dưới góc độ lý luận, phân tích những quy định
của pháp luật về bồi thường thiệt hại do công chứng viên gây ra đồng thời chỉ
ra vướng mắc trong hoạt động thực tiễn của những chế định này.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài
Để hoàn thành luận văn, tác giả đã dựa trên cơ sở phương pháp luận
của chủ nghĩa Mác - Lênin (chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy
vật lịch sử), tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta
về pháp luật, về cải cách tư pháp.
Đồng thời, luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể
sau: Phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp thống kê, so sánh;
phương pháp lịch sử; phương pháp đàm thoại (trao đổi ý kiến với các chuyên
gia đầu ngành, những người làm công tác thực tiễn lâu năm); phương pháp
khảo sát thực tiễn vấn đề bồi thường thiệt hại do công chứng viên gây ra.
5. Tình hình nghiên cứu đề tài và những điểm mới của luận văn
Từ trước tới nay chỉ có một số bài viết rất sơ sài về công chứng, trách
nhiệm của công chứng viên, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu về
trách nhiệm bồi thường thiệt hại do công chứng viên gây ra trong hoạt động
công chứng. Luận văn là công trình khoa học đầu tiên về vấn đề bồi thường
thiệt hại do công chứng viên gây ra trong hoạt động công chứng theo pháp
luật Việt Nam từ trước tới nay.
Là công trình luận văn đầu tiên đề cập và giải quyết vấn đề bồi thường
thiệt hại do công chứng viên gây ra trong hoạt động công chứng, luận văn có
những điểm mới sau:
- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận về vấn đề bồi thường thiệt hại do công
chứng viên gây ra, góp phần nâng cao nhận thức về nội dung, bản chất của
vấn đề bồi thường thiệt hại do công chứng viên gây ra.
1.1.1. Khái niệm về trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại đã trải qua một quá trình phát triển
với nhiều giai đoạn thể hiện bản chất khác biệt. Chúng ta có thể khái quát các
giai đoạn phát triển cơ bản của trách nhiệm bồi thường thiệt hại như sau:
Giai đoạn thứ nhất: Trong thời kỳ cổ đại, khi chính quyền trong xã
hội còn chưa được tổ chức một cách vững chãi, các cá nhân, mỗi khi bị xâm
phạm vào quyền lợi được tự ý trả thù để trừng phạt đối phương, hoặc bắt đối
phương làm nô lệ, hay lấy tài sản của họ. Chế độ này còn được gọi là chế độ
tư nhân phục thù.
Giai đoạn thứ hai: Người gây ra sự tổn hại có thể nộp một số tiền
chuộc hay thục kim cho nạn nhân để tránh trả thù. Chế độ này còn được gọi là
chế độ thục kim. Chế độ thục kim đã trải qua hai giai đoạn phát triển: 1) Khi
chưa có sự can thiệp của pháp luật, các bên tự thỏa thuận với nhau về tiền
chuộc, đó là chuộc lỗi tự nguyện; 2) Nhờ sự can thiệp của chính quyền, các
bên tranh chấp bắt buộc phải giải quyết tranh chấp bằng cách trả cho nhau số
tiền chuộc lỗi theo ngạch giá do pháp luật quy định, đó là chế độ thục kim bắt
buộc. Tiền thục kim này có thể coi như vừa là một hình phạt, vừa có tính chất
bồi thường thiệt hại. Vào thời kỳ Luật 12 bảng, Cổ luật La Mã mới bắt đầu
chuyển từ chế độ tự ý thục kim sang bắt buộc thục kim.
Giai đoạn thứ ba: Chứng kiến sự phân biệt hai trách nhiệm hình sự và
dân sự. Chính quyền, trước hết can thiệp để trừng phạt những tội phạm chỉ 13
liên quan đến trật tự xã hội, không liên hệ đến cá nhân. Sự can thiệp này rất
cần thiết vì nếu không có sự thanh trừng của xã hội, những vụ phạm pháp này
không được chú ý tới vì không làm hại trực tiếp đến quyền lợi của tư nhân. Sự
can thiệp của chính quyền dần dần được nới rộng đến sự phạm pháp liên quan
đến quyền lợi của các cá nhân như các vụ ẩu đả, trộm cắp. Về phương diện
hình sự, cá nhân mất hết quyền phục thù và chỉ còn quyền xin bồi thường tổn
nêu lên một nguyên tắc tổng quát nào về trách nhiệm dân sự.
Ở giai đoạn hiện nay, trách nhiệm bồi thường thiệt hại được quy định
và điều chỉnh bởi Luật tư và các nguyên tắc tổng quát về trách nhiệm này đã
được đặt ra ở tất cả các nước. Ở Việt Nam, bồi thường thiệt hại hiện nay được
hiểu là một loại trách nhiệm dân sự theo đó người có hành vi gây ra thiệt hại
cho người khác phải bồi thường những tổn thất mà mình gây ra.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành thì trách nhiệm bồi
thường thiệt hại được quy định tại Điều 307 Bộ luật dân sự 2005 và chương XXI
Bộ luật dân sự 2005 về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Tuy
nhiên, trong cả hai phần này đều không nêu rõ khái niệm trách nhiệm bồi thường
thiệt hại mà chỉ nêu lên căn cứ phát sinh trách nhiệm, nguyên tắc bồi thường,
năng lực chịu trách nhiệm, thời hạn hưởng bồi thường… Tiếp cận dưới góc
độ khoa học pháp lý chúng ta thấy rằng, mỗi người sống trong xã hội đều phải
tôn trọng quy tắc chung của xã hội, không thể vì lợi ích của mình mà xâm
phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Khi một người vi phạm
nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại cho người khác thì chính người đó phải
chịu bất lợi do hành vi của mình gây ra. Sự gánh chịu một hậu quả bất lợi
bằng việc bù đắp tổn thất cho người khác được hiểu là bồi thường thiệt hại.
Như vậy, có thể hiểu trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một loại trách
nhiệm dân sự mà theo đó khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình
gây tổn hại cho người khác phải bồi thường những tổn thất do mình gây ra.
1.1.2. Đặc điểm của trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại
Là một loại trách nhiệm pháp lý nên ngoài những đặc điểm của trách
nhiệm pháp lý nói chung như do cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng, áp 15
dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật, luôn mang đến hậu quả bất
lợi cho người bị áp dụng, được đảm bảo thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước
trách nhiệm bồi thường thiệt hại còn có những đặc điểm riêng sau đây:
1.1.3. Phân loại trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại
• Trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng và trách nhiệm
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh, trách nhiệm bồi thường thiệt hại được
phân thành trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng và trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Đây là cách phân loại cơ bản nhất, xác định
được rõ hai loại trách nhiệm này sẽ giúp cho việc áp dụng pháp luật dân sự
một cách đúng đắn.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng là loại trách nhiệm
dân sự mà theo đó người có hành vi vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng gây ra
thiệt hại cho người khác thì phải chịu trách nhiệm bồi thường những tổn thất
mà mình gây ra. Như vậy, cơ sở để phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
theo hợp đồng bao gồm:
- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng bao giờ cũng phải
dựa trên cơ sở một hợp đồng có trước, tức là giữa người được hưởng bồi thường
và người gây ra thiệt hại trước đó phải có một quan hệ hợp đồng. Nếu giữa
hai bên không tồn tại một hợp đồng nào thì nếu có thiệt hại xảy ra bao giờ
cũng sẽ là những thiệt hại phát sinh ngoài hợp đồng và bên gây thiệt hại chỉ
có thể phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Chính vì
vậy, bồi thường thiệt hại trong trường hợp hợp đồng vô hiệu, hủy bỏ hợp
đồng và vi phạm đề nghị giao kết hợp đồng là bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng bởi lẽ hợp đồng chưa được giao kết giữa các bên hoặc được coi là chưa
hề tồn tại.
- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng chỉ phát sinh khi có
hành vi vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng, tức là không thực hiện hoặc thực
hiện không đúng hợp đồng gây ra. Nếu giữa các bên tồn tại quan hệ hợp đồng 17
nhưng hành vi gây thiệt hại không phải là do vi phạm hợp đồng thì trách nhiệm
18
luật quy định. Trong khi đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng
chỉ có thể phát sinh trên cơ sở sự thỏa thuận của các bên như: Buộc thực hiện
nghĩa vụ theo hợp đồng, phạt vi phạm và/ hoặc bồi thường thiệt hại.
- Về điều kiện phát sinh trách nhiệm: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi có đủ các điều kiện do pháp luật quy định
như: Có thiệt hại xảy ra, có hành vi trái pháp luật, có mối quan hệ nhân quả
giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra, có lỗi. Tuy nhiên, bồi thường
thiệt hại theo hợp đồng, cơ sở phát sinh trách nhiệm là do các bên thỏa thuận
nên các bên cũng có thể thỏa thuận đặt ra các điều kiện phát sinh có thể không
bao gồm đầy đủ những điều kiện trên như bên vi phạm hợp đồng không có lỗi
cũng vẫn phải bồi thường thiệt hại
- Về chủ thể chịu trách nhiệm: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng ngoài việc áp dụng đối với người có hành vi trái pháp luật thì còn
áp dụng đối với người khác như cha mẹ của người chưa thành niên, người
giám hộ đối với người được giám hộ, pháp nhân đối với người của pháp nhân
gây ra thiệt hại Tuy nhiên, trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng
chỉ có thể áp dụng đối với các bên tham gia hợp đồng mà không thể áp dụng
đối với người thứ ba.
- Về mức bồi thường: Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về nguyên
tắc là người gây thiệt hại phải bồi thường toàn bộ thiệt hại xảy ra. Thiệt hại
chỉ có thể được giảm trong một trường hợp đặc biệt đó là người gây thiệt hại
có lỗi vô ý và thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu
dài của họ. Còn đối với bồi thường thiệt hại theo hợp đồng thì các bên có thỏa
thỏa thuận ngay trong hợp đồng về mức bồi thường bằng, thấp hơn hoặc cao
hơn mức thiệt hại xảy ra và khi phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì
mức bồi thường sẽ áp dụng mức do các bên thỏa thuận.
Việc phân biệt trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng và trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đặc biệt có ý nghĩa trong việc thực
vị trí, vai trò tương tự như "vé" trong hợp đồng vận chuyển hành khách, cụ 20
thể: "vé là bằng chứng của việc giao kết hợp đồng vận chuyển hành khách
giữa các bên" (khoản 2 Điều 528 Bộ luật dân sự 2005 và các điều 68, 69, 70
và 71 Luật giao thông đường bộ năm 2008). Theo cá nhân tôi, căn cứ vào bản
chất của trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng, trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng và tính chất đặc thù của công chứng viên cho
nên trách nhiệm bồi thường thiệt hại của công chứng viên phải là trách nhiệm
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
•
Trách nhi
ệ
m b
ồ
i th
ườ
ng thi
ệ
t h
ạ
i v
ậ
t ch
ấ
t và
trách nhi
ệ
m b
nó luôn gắn liền, đi đôi với các hợp đồng, giao dịch trong nhiều lĩnh vực khác
nhau như: Dân sự, kinh tế, thương mại… (xem Điều 2 Luật công chứng 2006).
Tuy nhiên, có hay không trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần trong
hoạt động công chứng hiện vẫn là câu hỏi chưa có lời giải đáp một cách thỏa
đáng. Có ý kiến cho rằng trong hoạt động công chứng không thể tồn tại thiệt
hại về tinh thần, có quan điểm lại cho rằng trong hoạt động công chứng vẫn
có thiệt hại về tinh thần. Theo Từ điển Luật học do Nhà xuất bản Từ điển
Bách Khoa, Nhà xuất bản Tư pháp ấn hành năm 2006:
Thiệt hại về tinh thần là tổn thất về danh dự, uy tín, nhân
phẩm hoặc suy sụp về tâm lý, tình cảm của cá nhân. Khác với thiệt
hại về vật chất, thiệt hại về tinh thần không có tiêu chí chung để xác
định cho mọi cá nhân bởi điều kiện, hoàn cảnh của từng cá nhân là
khác nhau [52].
Giả sử khi công chứng viên công chứng những hợp đồng, giao dịch có
liên quan tới quan hệ nhân thân như công chứng di chúc, văn bản phân chia
tài sản chung vợ chồng…sự suy sụp về tâm lý, tình cảm đối với người yêu
cầu công chứng có thể xảy ra. Vì vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh
thần trong hoạt động công chứng cũng được đặt ra.
• Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của con người gây ra
và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra
Căn cứ vào nguyên nhân gây ra thiệt hại, trách nhiệm bồi thường thiệt
hại được phân chia thành trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của con
người gây ra và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra. Trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của con người gây ra được hiểu là trách
nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi thiệt hại xảy ra là kết quả tất yếu do 22
hành vi của con người gây ra. Trường hợp này người gây thiệt hại đã thực
hiện hành vi dưới dạng hành động hoặc không hành động và hành vi đó chính
trách nhiệm bồi thường thiệt hại là người chiếm hữu hợp pháp bởi lẽ tài sản
hiện đang thuộc quyền nắm giữ, quản lý và kiểm soát của người này.
Đối chiếu với Luật công chứng 2006, bồi thường thiệt hại do hành vi
của con người gây ra chính là hành vi của công chứng viên khi tác nghiệp.
Hành vi của công chứng viên "chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của
hợp đồng, giao dịch khác" [33, Điều 2] nếu gây thiệt hại cho người yêu cầu
công chứng thì phải bồi thường thiệt hại. Hành vi gây thiệt hại của công
chứng viên có thể phát sinh khi công chứng viên công chứng không đúng
pháp luật đối với một yêu cầu công chứng cụ thể và cũng có thể phát sinh khi
công chứng viên từ chối những yêu cầu công chứng hợp pháp của cá nhân, tổ
chức. Nói theo cách khác, thiệt hại trong hoạt động công chứng hoàn toàn có
thể xảy ra bởi hành vi hành động hoặc không hành động của công chứng viên.
Ngược lại, đối với bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra trong hoạt động công
chứng thì dường như không tồn tại.
•
Trách nhi
ệ
m b
ồ
i th
ườ
ng liên
đớ
i và trách nhi
ệ
m b
ồ
i
th
ườ
bồi thường thiệt hại riêng rẽ nêu trên, chúng ta thấy hiện vẫn chưa có một quan
điểm thống nhất về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của công chứng viên và
tổ chức hành nghề công chứng là trách nhiệm liên đới hay riêng rẽ. Có ý kiến
cho rằng công chứng viên phải "Chịu trách nhiệm trước pháp luật về văn bản
công chứng" [33, Khoản 3, Điều 3] và "Công chứng viên vi phạm quy định
của Luật này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử
phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì
phải bồi thường theo quy định của pháp luật" [33, Điều 58]. Trong khi tổ chức
hành nghề công chứng có nghĩa vụ "Bồi thường thiệt hại do lỗi mà công
chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng gây ra cho người yêu cầu công
chứng" [33, Khoản 5 Điều 32] và "Tổ chức hành nghề công chứng vi phạm quy
định của Luật này thì bị xử phạt vi phạm hành chính, nếu gây thiệt hại phải
bồi thường theo quy định của pháp luật" [33, Điều 59]. Như vậy, chính trong
Luật công chứng 2006 lại ngầm quy định, trách nhiệm bồi thường thiệt hại của
công chứng viên và tổ chức hành nghề công chứng hoàn toàn độc lập với nhau. 25
Tuy nhiên, về mặt nguyên tắc tổ chức hành nghề công chứng vẫn là
chủ thể duy nhất có trách nhiệm đứng ra bồi thường thiệt hại cho dù thiệt hại
đó do công chứng viên hay tổ chức hành nghề công chứng gây ra. Sau đó đến
lượt mình, tổ chức hành nghề công chứng hoàn toàn có thể yêu cầu người gây
thiệt hại bồi hoàn lại khoản tiền mà tổ chức hành nghề công chứng đã đứng ra
chi trả cho người yêu cầu công chứng sẽ phù hợp với tinh thần Điều 618 và
Điều 619 Bộ luật dân sự 2005.
• Trách nhiệm hỗn hợp và trách nhiệm độc lập
Căn cứ vào yếu tố lỗi và mức độ lỗi của cả người gây thiệt hại và
người bị thiệt hại, trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được phân thành
trách nhiệm hỗn hợp và trách nhiệm độc lập. Trách nhiệm hỗn hợp là trách
nhiệm bồi thường thiệt hại mà trong đó cả người gây thiệt hại và người bị