Trách nhiệm vật chất đối với công chức theo pháp luật Việt Nam hiện nay - Pdf 12


bộ giáo dục và đào tạo bộ t pháp
trờng đại học luật hà nội
trần thị hiền

trách nhiệm vật chất đối với công chức
theo pháp luật việt nam hiện nay Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nớc và pháp luật
M số : 62 38 01 01

tóm tắt luận án tiến sĩ luật học
hà nội - 2008
Công trình đợc hoàn thành
tại Trờng Đại học Luật Hà Nội

chức", Nhà nớc và pháp luật, (12), tr. 22-26.
2. Trần Thị Hiền (2006) "Bàn về khái niệm trách nhiệm vật chất của
công chức", Luật học, (10), tr. 14-18.
3. Trần Thị Hiền (2007), "Bàn về trách nhiệm bồi thờng của nhà
nớc khi công chức thi hành công vụ, gây thiệt hại", Nghề
luật, (2), tr. 3-7.

1 2

Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
X hội muốn phát triển bền vững, phải đợc tạo dựng bởi những
con ngời hết lòng trung thành, có trí tuệ và năng lực. Pháp luật trách
nhiệm vật chất (TNVC) đối với công chức là một trong những yếu tố
góp phần nâng cao tinh thần trách nhiệm của công chức đối với công vụ.
Tuy nhiên, hiện nay vấn đề TNVC đối với công chức gây thiệt hại
trong khi thi hành công vụ cha đợc đánh giá đúng mức. Quan niệm về
TNVC đối với công chức tơng đối mờ nhạt, cha phân biệt rõ trách
nhiệm bồi thờng thiệt hại (BTTH) dân sự với TNVC đối với công chức.
Vấn đề TNVC đối với công chức ít đợc quan tâm, nghiên cứu. Pháp
luật thực định về TNVC đối với công chức lại chủ yếu xuất phát từ những
nguyên lý của luật dân sự, cha tính đến các yếu tố ảnh hởng của nền
công vụ. Điều này thể hiện rõ nét trong pháp luật, đó là sự thiếu rành
mạch trong các quy định của pháp luật và còn thiếu quá nhiều quy định
cụ thể làm cơ sở pháp lý cho việc truy cứu TNVC. Vì vậy, pháp luật
TNVC mang tính hình thức, hầu nh không đợc áp dụng trong thực tế.
Hoàn thiện pháp luật về TNVC đối với công chức đang là vấn đề có
tính cấp thiết. Trên cơ sở nhận thức, một hệ thống pháp luật hoàn thiện phải
đợc ban hành trên nền tri thức khoa học pháp lí phát triển và mong muốn
làm sáng tỏ các vấn đề lí luận, tìm hiểu pháp luật hiện hành về TNVC đối

Pháp luật Việt Nam về cán bộ, công chức đợc nhiều tác giả trong
nớc nghiên cứu ở các mức độ và phạm vi khác nhau, trong lĩnh vực này
có thể kể đến một số tác giả cùng với công trình khoa học của họ nh:
Tô Tử Hạ: Công chức và vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ công chức
trong giai đoạn hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, 1998. Đây là cuốn
sách giới thiệu tổng quan về pháp luật công chức của Việt Nam trong
giai đoạn đổi mới, đồng thời có so sánh phạm vi khái niệm công chức ở
Việt Nam và một số nớc khác trên thế giới. Đặc biệt mảng pháp luật về
nghĩa vụ, quyền lợi của công chức và tuyển dụng đào tạo công chức
3 4

đợc tắc giả nghiên cứu đa ra những nhận xét cụ thể, xác đáng; Cuốn
Công vụ, công chức nhà nớc, Nxb T pháp, Hà Nội, 2004 của PGS.TS
Phạm Hồng Thái, đ tập trung nghiên cứu về phạm vi khái niệm hoạt
động công vụ và phân tích, đánh giá về pháp luật công chức ở nớc ta.
Trong tác phẩm này, còn tìm thấy các quan niệm về công chức ở nớc ta
trong các giai đoạn đợc phân chia theo mốc thời gian ban hành các văn
bản pháp luật cơ bản về công chức. Qua đó, tác giả đa ra cách nhìn
nhận cá nhân về nền công vụ kiểu mới. Đặc biệt còn phải kể đến Luận
án tiến sĩ luật học của Ngô Hải Phan: Trách nhiệm pháp lý của công
chức trong điều kiện xây dựng Nhà nớc pháp quyền Việt Nam, Học
viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Luận án đ phản ánh trung thực
về thực trạng pháp luật điều chỉnh về trách nhiệm pháp lí (TNPL) đối
với công chức (đến năm 2004) đồng thời so sánh phân tích mối tơng
quan giữa các dạng TNPL đợc áp dụng đối với công chức vi phạm pháp
luật. Gần đây, phải kể đến đề tài nghiên cứu khoa học cấp trờng -
Trờng Đại học Luật Hà Nội, 2006: Trách nhiệm pháp lí - những vấn đề
lý luận và thực tiễn ở Việt Nam do TS. Lê Văn Long, chủ nhiệm đề tài.
Các tác giả tham gia nghiên cứu đ phân tích khái niệm TNPL từ góc độ
lý luận và thực tiễn. Trong đó có chuyên đề Trách nhiệm vất chất đối

về TNVC đối với công chức trong giai đoạn hiện nay.
* Nhiệm vụ của luận án
Nghiên cứu những vấn đề lí luận về TNPL nói chung và TNVC nói riêng
để xây dựng đợc khái niệm mang tính khoa học về TNVC đối với công chức.
Xác định đợc các đặc điểm và mục đích ý nghĩa của TNVC với tích cách là
một dạng trách nhiệm bồi thờng thiệt hại đặc biệt áp dụng đối với công chức
vi phạm pháp luật gây thiệt hại trong khi thi hành công vụ.
Xác định đợc các yếu tố cần thiết cho sự hình thành TNVC, phân tích vai trò
của các yếu tố đó làm cơ sở đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật về TNVC.
Khẳng định vi phạm pháp luật gây thiệt hại trong khi thi hành công vụ;
thiệt hại thực tế; lỗi của công chức; mối quan hệ nhân quả là cơ sở thực
5 6

tế làm phát sinh TNVC đối với công chức và chỉ ra mối liên hệ giữa
trách nhiệm bồi thờng nhà nớc với TNVC đối với công chức.
Phân tích một số quan niệm cơ bản về trách nhiệm bồi thờng nhà
nớc, chỉ ra mối liên hệ giữa trách nhiệm bồi thờng nhà nớc hay trách
nhiệm của nền công vụ với TNVC đối với công chức. Từ đó, rút ra
những điểm hợp lý, nhằm kiến nghị hoàn thiện pháp luật về TNVC.
Khái quát đợc quá trình hình thành và phát triển của pháp luật
Việt Nam về TNVC đối với công chức; phân tích, đánh giá thực trạng
pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật TNVC đối với công chức, đa
ra nhận xét cá nhân về những điểm tích cực, những điểm hạn chế của
pháp luật Việt Nam về TNVC hiện nay.
Phân tích để thấy rõ sự cần thiết khách quan phải hoàn thiện pháp
luật về TNVC đối với công chức; đa ra quan điểm hoàn thiện pháp luật,
đề xuất giải pháp chủ yếu cho việc hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực
hiện về TNVC đối với công chức.
* Phạm vi nghiên cứu của luận án
Luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về

Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống và
tơng đối toàn diện ở góc độ lý luận và thực tiễn về vấn đề TNVC đối
với công chức theo pháp luật Việt Nam hiện nay.
Trên cơ sở những triết lý khoa học về TNVC đối với cán bộ, công chức
đợc phân tích, đánh giá một cách hợp lý, luận án đ đa ra góc nhìn mới
về TNPL, về TNPL của cán bộ, công chức , xây dựng hoàn chỉnh khái niệm
TNVC đối với công chức.
Luận án đ khắc họa rõ nét những đặc trng cơ bản của dạng TNVC
đối với công chức, nhằm chứng minh đây là một dạng trách nhiệm
BTTH đặc biệt. Từ đó, xác định pháp luật về TNVC đối với công chức
cần đợc xây dựng trên cơ sở những nguyên tắc khác biệt với trách
nhiệm bồi thờng ngoài hợp đồng của luật dân sự. Các yếu tố: Vi phạm
7 8

pháp luật trong khi thi hành công vụ; thiệt hại thực tế; lỗi của công
chức; mối quan hệ nhân quả đợc phân tích kỹ lỡng với tính cách là cơ
sở thực tế làm phát sinh TNVC đối với công chức.
Xác định đợc những tiêu chí để đánh giá tính phù hợp của pháp
luật về TNVC đối với công chức trên cơ sở phân tích vai trò của các yếu
tố cần thiết cho sự hình thành TNVC.
Đánh giá khách quan về thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng
pháp luật về TNVC đối với công chức trên cơ sở phân tích số liệu khảo
sát trung thực bằng phơng pháp điều tra x hội học đảm bảo độ tin cậy cao.
Lý giải có căn cứ tình trạng pháp luật TNVC không đợc áp dụng
trong thực tiễn và đề xuất đợc các giải pháp có tính khả thi nhằm hoàn
thiện pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về TNVC đối với công chức.
6. ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ sung, phát triển lý
luận về TNVC đối với công chức, giúp các cơ quan nhà nớc có thẩm
quyền nhìn nhận một cách toàn diện về chế độ TNVC đối với công chức

những hành vi nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần của chủ thể phía bên kia
hoặc phải bị hạn chế về quyền tự do cá nhân. Trách nhiệm vật chất là
mối quan hệ tài sản mà chủ thể này buộc phải dùng tài sản của mình
làm phơng tiện để thực hiện nghĩa vụ đối với chủ thể phía bên kia.
Xét về phơng diện pháp lý, TNPL có thể phát sinh do hai nguồn
gốc: Thứ nhất, phát sinh theo sự thỏa thuận ý chí của các bên trong quan
hệ pháp luật nhng không trái với pháp luật và đợc nhà nớc bảo đảm
thực hiện. Thứ hai, phát sinh ngoài ý chí của chủ thể, trên cơ sở qui định
của pháp luật. Chủ thể vi phạm pháp luật phải gánh chịu TNPL trớc
nhà nớc hoặc trớc chủ thể có quyền theo qui định của pháp luật.
Theo nghĩa hẹp với ý nghĩa là sự gánh chịu hậu quả bất lợi do vi
phạm pháp luật, TNPL đợc định nghĩa nh sau:
9 10

Trách nhiệm pháp lý là sự gánh chịu hậu quả bất lợi do vi phạm
pháp luật, thể hiện mối quan hệ đợc pháp luật xác lập và điều chỉnh.
Trong đó, chủ thể vi phạm pháp luật bị hạn chế về vật chất hay tinh
thần bởi các biện pháp cỡng chế đợc dự liệu trong chế tài pháp luật
hoặc các biện pháp do các bên thỏa thuận nhng phù hợp với pháp luật
và đợc nhà nớc bảo đảm thực hiện.
TNPL của công chức luôn gắn liền với những biện pháp cỡng chế
đợc qui định trong chế tài pháp luật. Theo đó, TNPL của công chức
đợc định nghĩa nh sau:
Trách nhiệm pháp lý của công chức là hậu quả pháp lý bất lợi về
vật chất hoặc tinh thần, mà công chức phải gánh chịu trớc nhà nớc, do
thực hiện vi phạm pháp luật có liên quan đến công vụ, bị áp dụng các
biện pháp cỡng chế nhà nớc đợc xác định trong chế tài pháp luật.
Luận án đề cập đến TNVC đối với công chức là loại TNPL theo cách
nhìn nhận ở nghĩa hẹp và thuộc loại TNPL mà chủ thể là công chức phải
dùng tài sản của mình để thực hiện nghĩa vụ đối với chủ thể phía bên kia

Thứ nhất: TNVC đối với công chức có mục đích giáo dục nhằm
nâng cao đạo đức công vụ.
Thứ hai: TNVC đối với công chức nhằm mục đích khắc phục thiệt
hại bảo vệ tài sản nhà nớc.
Thứ ba: TNVC đối với công chức có mục đích bảo vệ công vụ.
Thứ t: TNVC đối với công chức có mục đích trừng phạt.
1.2. Các yếu tố pháp lý cần thiết cho sự hình thành trách nhiệm
vật chất đối với công chức
Nội dung phần này bàn đến các yếu tố pháp lý tạo nên TNVC, mỗi
yếu tố có một vai trò nhất định, giữa chúng có mối liên hệ nh các mắt
xích kết nối thống nhất, tạo ra dạng TNPL này. Các yếu tố cần thiết cho
sự hình thành trách nhiệm vật chất đối với công chức gồm các yếu tố sau:
11 12

1.2.1. Vi phạm pháp luật gây thiệt hại trong khi thi hành công vụ -
yếu tố cơ sở để hình thành trách nhiệm vật chất đối với công chức
Vi phạm pháp luật gây thiệt hại trong khi thi hành công vụ là yếu
tố đầu tiên cho sự hình thành TNVC, trả lời câu hỏi có hay không có
TNVC đợc đặt ra, đồng thời xác định chủ thể phải gánh chịu TNVC.
Sự tác động buộc chủ thể vi phạm pháp luật phải gánh chịu TNPL
nhằm mục đích làm thay đổi nhận thức của chủ thể về cách xử sự sao
cho phù hợp với pháp luật. TNVC đối với công chức chỉ đợc xác định
trên cơ sở có hành vi trái pháp luật, có lỗi, gây thiệt hại trong khi công
chức thi hành công vụ.
1.2.2. Chế tài buộc bồi thờng thiệt hại - yếu tố xác định nội
dung trách nhiệm vật chất
Bản thân TNPL không phải là chế tài, càng không phải là cỡng chế
nhà nớc, nhng giữa chúng có mối liên hệ không thể tách rời. Chế tài
là yếu tố đặt ra nghĩa vụ bắt buộc chủ thể vi phạm pháp luật phải gánh
chịu những hậu quả bất lợi, đồng thời chỉ rõ hậu quả bất lợi phải gánh

1.3. Cơ sở thực tế làm phát sinh trách nhiệm vật chất đối với
công chức
ở mức độ khái quát, xác định cơ sở thực tế làm phát sinh TNVC đối
với công chức gồm các yếu tố sau đây.
1.3.1. Hành vi trái pháp luật do công chức thực hiện trong khi thi
hành công vụ
Vi phạm pháp luật là căn cứ phát sinh TNVC đối với công chức, không
thể thiếu hai dấu hiệu cơ bản là: chủ thể thực hiện vi phạm pháp luật là công
chức và vi phạm pháp luật phải thực hiện trong khi thi hành công vụ.
* Chủ thể thực hiện vi phạm pháp luậti là công chức
Trong phần này luận án đ phân tích các quan niệm về công chức và
lập luận, đa ra ý kiến cá nhân về phạm vi công chức. Theo đó, công chức
là một bộ phận những ngời làm việc trong các cơ quan nhà nớc, đợc
tuyển dụng, bổ nhiệm giao giữ những công việc nhất định trong các cơ
quan nhà nớc, đợc xếp vào ngạch công chức và hởng lơng từ ngân
sách nhà nớc theo pháp luật qui định.
13 14

* Hành vi trái pháp luật thực hiện trong khi thi hành công vụ.
Hành vi trái pháp luật phải thực hiện trong khi thi hành công vụ thì
trách nhiệm BTTH đặt ra mới là TNVC đối với công chức. Xác định vi
phạm pháp luật thực hiện trong khi thi hành công vụ phải đồng thời căn
cứ vào ba yếu tố: thời gian, không gian thực hiện hành vi và tính chất
liên quan đến công vụ của hành vi.
1.3.2. Có thiệt hại thực tế
Có thiệt hại thực tế xảy ra là một trong những điều kiện quyết định
có đặt ra TNVC đối với công chức hay không, đồng thời cũng là yếu tố
căn cứ để quyết định mức BTTH.
Mặc dù diễn đạt khác nhau nhng các quan điểm trên đều đánh giá thiệt
hại là những tổn thất về vật chất hoặc tinh thần có thể tính thành tiền. Đối

chức thực hiện việc công mà vi phạm pháp luật, gây thiệt hại tài sản
của Triều đình hoặc của dân thì phải bồi thờng. Vấn đề BTTH trong
pháp luật của Nhà nớc phong kiến không đợc qui định thành một chế
định độc lập mà thờng đợc lồng ghép trong các quy định về tội phạm
hình sự.
2.1.2. Pháp luật trách nhiệm vật chất đối với công chức giai đoạn
1945 - 1975
Trong giai đoạn này, pháp luật về TNVC đối với công cha có sự
phân biệt trách nhiệm BTTH của hai đối tợng ngời lao động là công
nhân và viên chức. Mặt khác, cũng chỉ mới xác định TNVC của công
nhân, viên chức đối với trờng hợp gây thiệt hại tài sản của nhà nớc mà
cha xác định trách nhiệm bồi thờng đối với trờng hợp gây thiệt hại
tài sản của ngời khác. Mặc dù có những điểm hạn chế nhất định nh
vậy. Song, pháp luật về TNVC của công nhân, viên chức vẫn có một ý
nghĩa quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển của chế định
TNVC của công chức. Bớc đầu định hình về khái niệm TNVC của
công chức, giúp cho việc quy định về TNVC của công chức trong các
văn bản sau này đợc rõ nét hơn, hoàn thiện hơn.
15 16

2.1.3. Khái quát pháp luật trách nhiệm vật chất đối với công chức
từ 1975 đến nay
Trong giai đoạn này, nhiều văn bản pháp luật về TNVC đợc ban
hành trực tiếp điều chỉnh về vấn đề TNVC của công chức. Các văn bản
này có sự kế thừa những u điểm của các văn bản pháp luật công chức,
viên chức trớc đó và cũng có nhiều điểm phát triển mới phù hợp với xu
thế hiện nay. Song, pháp luật về công chức nói chung và chế định pháp
luật về TNVC của công chức nói riêng vẫn cần đợc tiếp tục hoàn thiện.
2.2. Thc trng pháp luật Việt Nam hiện hành về trách nhiệm
vật chất đối với công chức

chức gây thiệt hại tài sản của cơ quan, tổ chức, đơn vị
* Mức và phơng thức BTTH đối với công chức trong trờng hợp
gây thiệt hại tài sản của cơ quan, tổ chức, đơn vị
2.2.4. Trách nhiệm vật chất đối với công chức gây thiệt hại tài
sản của ngời khác
Pháp luật Việt Nam đ qui định về trách nhiệm BTTH đối với công
chức thi hành công vụ gây thiệt hại cho ngời thứ ba, nhng nhìn chung về
vấn đề này, pháp luật nghiêng nhiều theo hớng qui định về trách nhiệm
BTTH do ngời có thẩm quyền tiến hành tố tụng gây ra, đặc biệt là trong
hoạt động tố tụng hình sự. Việc xử lí TNVC đối với cán bộ, công chức gây
thiệt hại cho ngời thứ ba đợc tiến hành theo quy trình gồm hai giai đoạn:
Giai đoạn thứ nhất: Cơ quan quản lý và sử dụng công chức đứng ra
BTTH do công chức gây ra cho ngời bị thiệt hại.
Giai đoạn thứ hai: Công chức phải hoàn trả khoản tiền mà cơ quan, tổ
chức quản lý, sử dụng công chức đ bồi thờng cho ngời bị thiệt hại.
2.3. Thực trạng nhận thức và áp dụng pháp luật trách nhiệm
vật chất đối với công chức
Hiện nay, pháp luật về TNVC đối với công chức hầu nh không đợc
thực hiện trong thực tế. Các cơ quan có trách nhiệm quản lí sử dụng công
chức không xử lí TNVC và không tiến hành công tác thống kê các vụ việc
17 18

xử lí TNVC đối với công chức. Thực trạng áp dụng pháp luật đợc thực
hiện thông qua phơng pháp điều tra x hội học. Đối tợng điều tra là
cán bộ, công theo pháp luật hiện hành. Dựa vào kết quả điều tra, luận án
đ đa ra kết luận về các nội dung sau:
1- Nhận thức của cán bộ, công chức về pháp luật TNVC đối với công chức
2. Thực tiễn xử lí TNVC tại nơi cán bộ, công chức làm việc
3. Mong muốn của cán bộ, công chức đối với pháp luật về TNVC
2.4. Đánh giá chung về pháp luật Việt Nam hiện nay về trách

3.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm vật
chất đối với công chức
Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp
dụng pháp luật TNVC đối với công chức, luận án đ chỉ ra sự cần thiết
phải tiếp tục hoàn thiện pháp luật về TNVC đối với công chức. Trong
bối cảnh hiện nay, hoàn thiện pháp luật Việt Nam về TNVC đối với
công chức là sự cần thiết khách quan bởi các yếu tố sau:
* Hoàn thiện pháp luật TNVC để nâng cao tính phù hợp, đảm bảo
tính khả thi.
* Hoàn thiện pháp luật TNVC nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm
công vụ.
* Hoàn thiện pháp luật TNVC để góp phần đảm bảo công bằng x hội.
* Hoàn thiện pháp luật TNVC là yêu cầu của nền hành chính hiện đại
* Hoàn thiện pháp luật TNVC đáp ứng yêu cầu chủ động hội nhập.
3.2. Quan điểm hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm vật chất
đối với công chức
Luận án xác định quan điểm hoàn thiện pháp luật dựa trên cơ sở
đánh giá về thực trạng pháp luật và các yếu tố đợc xác định là cần thiết
khách quan của việc hoàn thiện pháp luật TNVC đối với công chức.
19 20

* Hoàn thiện pháp luật TNVC đối với công chức trên cơ sở quán
triệt đờng lối của Đảng và qui định của Hiến pháp về tăng cờng sự
bảo hộ của pháp luật đối với các lợi ích hợp pháp của nhà nớc, của
tập thể và của cá nhân.
* Hoàn thiện pháp luật TNVC đối với công chức đáp ứng yêu cầu
của việc xây dựng pháp luật trong Nhà nớc pháp quyền x hội chủ
nghĩa (XHCN) Việt Nam.
* Hoàn thiện pháp luật TNVC chức nhằm tăng cờng trách nhiệm
và kỷ luật công vụ, không gây tác động xấu đến tính chủ động, tích cực

7. Thay đổi hình thức hoạt động của Hội đồng xử lí TNVC đối với công
chức theo hớng đảm bảo tính khách quan, minh bạch và thực sự khoa học.
8. Pháp luật TNVC đối với công chức nên qui định: Cán bộ, công
chức đợc quyền khiếu nại hoặc khởi kiện đối với quyết định bồi thờng
của ngời đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của mình.
9. Thủ tục xử lí trách nhiệm bồi thờng trong trờng hợp công chức
gây thiệt hại cho ngời thứ ba cần sửa đổi theo hớng đảm bảo tính
công bằng, khách quan đối với ngời bị thiệt hại và đối với công chức
gây thiệt hại.
10. Sử dụng thống nhất thuật ngữ chỉ nghĩa vụ bồi thờng của công
chức khi gây thiệt hại về tài sản trong khi thi hành công vụ.
11. Kết hợp qui định về trách nhiệm bồi thờng công chức trong
Luật Bồi thờng nhà nớc.
3.3.2. Giải pháp tổ chức thực hiện pháp luật trách nhiệm vật chất
đối với công chức
* Nâng cao hiểu biết pháp luật của cán bộ, công chức.
* Tăng cờng cơ chế kiểm tra, giám sát hoạt động xử lý TNVC đối
với công chức.
21 22

* Tăng cờng các biện pháp pháp lý đảm bảo hiệu lực của quyết
định xử lí TNVC.
* Phơng thức bồi thờng thuận lợi, dễ thực hiện tạo điều kiện để
công chức thực hiện nghĩa vụ bồi thờng hoặc hoàn trả, không ảnh
hởng lớn đến đời sống kinh tế của công chức.
* Khắc phục tình trạng không xử lý TNVC.
* Tạo điều kiện cho cán bộ, công chức tham gia vào quá trình soạn
thảo các văn bản pháp luật có liên quan đến cán bộ, công chức để pháp
luật phản ánh đúng nguyện vọng của họ.

TNCV chỉ đợc xác định khi có yếu tố lỗi của công chức thi hành công
vụ. Hơn nữa, trong TNVC đối với công chức thì thiệt hại thực tế và lỗi cần
đợc nhìn nhận là các yếu tố lợng mức bồi thờng. Nhân thân công chức
và hoàn cảnh kinh tế gia đình cần đợc xem là căn cứ để xét miễn, giảm
bồi thờng. Việc xử lí TNVC không thể dựa trên nguyên tắc thỏa thuận
mà phải đợc quyết định theo phơng thức hành chính dựa trên thiệt hại
thực tế, lỗi, tính chất liên quan đến công vụ của hành vi gây thiệt hại.
Cũng khác với các dạng trách nhiệm BTTH khác, mục đích của TNVC
đối với công chức không chủ yếu nhằm khắc phục đền bù thiệt hại, mà
hớng đến mục đích chính là giáo dục nâng cao ý thức trách nhiệm, đạo
đức công vụ. Luận án cũng phân tích các học thuyết khác nhau về trách
nhiệm bồi thờng nhà nớc, đánh giá mối liên hệ giữa trách nhiệm bồi
thờng nhà nớc với trách nhiệm bồi thờng của công chức, trong
trờng hợp công chức gây thiệt hại cho ngời khác khi thi hành công vụ.
Từ đó, rút ra những điểm hợp lý nhằm áp dụng vào quá trình xây dựng
và hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi thờng nhà nớc và TNVC
đối với cán bộ, công chức ở Việt Nam.
Về thực trạng pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật TNVC:
Pháp luật TNVC đối với công chức hiện nay, thiếu tính thống nhất và
đồng bộ, hình thức văn bản pháp luật có giá trị pháp lý thấp, tản mạn,
23 24

cha có độ bao quát chung, thiếu tính toàn diện, thiếu nhiều qui định
pháp luật cụ thể, dẫn đến việc truy cứu TNVC đối với cán bộ, công chức
thiếu tính chính xác và minh bạch, nhiều qui định của pháp luật TNVC
đối với cán bộ, công chức có nội dung cha hợp lí, cha tạo ra cơ chế
hữu hiệu cho việc bảo vệ tài sản của nhà nớc và của các chủ sở hữu hợp
pháp khác, mục đích của pháp luật TNVC cha đạt đợc.
Pháp luật hiện hành về TNVC đối với cán bộ, công chức cha có
những điểm khác biệt rõ nét, so với trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng

kinh tế - x hội của Việt Nam; khắc phục những điểm hạn chế của pháp
luật hiện hành.
Kết hợp nghiên cứu về phơng diện lý luận, nội dung pháp luật
hiện hành và điều tra, khảo sát thực tế, chúng tôi đa ra hai nhóm giải
pháp: 1) Nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về TNVC đối với
công chức - chủ yếu tập trung theo hớng khắc phục những điểm hạn
chế và bổ sung thêm những qui định mới cho phù hợp với đặc thù quản
lý nhà nớc và điều kiện phát triển kinh tế - x hội của Việt Nam hiện
nay. 2) Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện pháp luật về TNVC chủ
yếu theo hớng nâng cao trình độ nhận thức pháp luật của công chức và
thiết lập cơ chế kiểm soát hữu hiệu việc xử lý TNVC đối với công chức.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status