Tổ chức hành nghề công chứng theo pháp luật Việt Nam hiện nay (tt) - Pdf 46

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ KIM THƯ

TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CHỨNG
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 603801.07

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội, 2017


Cụng trỡnh c hon thnh ti: Hc vin Khoa hc xó hi
Ngi hng dn khoa hc: PGS.TS NGUYN TRUNG TN

Phản biện 1: PGS.TS Bựi Ngc Cng
Phản biện 2: TS. Nguyn Vn Tuyn

Luận văn sẽ đ-ợc bảo vệ tr-ớc Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp tại:
Học viện Khoa học xã hội 13 giờ 00 ngày 25 tháng 10 năm 2017

Có thể tìm hiểu luận văn tại: Th- viện Học viện Khoa học xã hội


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài

là khi luật công chứng 2006 ra đời và cho đến nay là Luật công
chứng 2014 đã cho phép thành lập nên các tổ chức hành nghề công
chứng, một mô hình mới nhằm đáp ứng được những nhu cầu của xã
hội và xu hướng chung của thế giới. Tuy nhiên việc ra đời của tổ
chức hành nghề công chứng vẫn còn nhiều hạn chế mà luật công
chứng chưa tiên liệu hết những vướng mắc, khó khăn và nhiều biến
động, thêm vào đó là nhân thức của một số cán bộ và người dân về tổ
chức này vẫn còn mơ hồ chưa hiểu rõ. Chính vì vậy tôi chọn đề tài
Tổ chức hành nghề công chứng theo pháp luật Việt Nam hiện nay
làm đề tài luận văn kinh tế của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay ở nước ta đã có một số đề tài nghiên cứu về công
chứng dưới góc độ như quản lý nhà nước về công chứng, xã hội hóa
công chứng, thực trạng pháp luật về công chứng, hoạt dộng của công
chứng, chứng thực... Tuy nhiên chưa có công trình nghiên cứu nào
nói về tổ chức hành nghề công chứng, là một tổ chức rất được quan
tâm trong thời gian gần đây khi mà luật công chứng sửa đổi năm
2014 đã đi vào thực tế và đang còn gặp nhiều vướng mắc.
Tổ chức hành nghề công chứng theo pháp luật Việt Nam hiện nay
là đề tài nghiên cứu tương đối hệ thống về tổ chức hành nghề công
chứng thông qua những kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện hơn
tổ chức hành nghề công chứng cũng như nâng cao hiệu quả thực hiện
của Luật công chứng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
- Mục đích của luận văn là từ những lý luận thực tiễn về công
chứng làm sáng tỏ và phân tích rõ về tổ chức hành nghề công
2




từ trước tới này. Từ đó đánh giá những thuận lợi và hạn chế trong
thực tế thi hành Luật công chứng 2014, đề ra những giải pháp phù
hợp giải quyết những khúc mắc còn tồn đọng.
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp: Đây là một phương pháp
quan trọng trong quá trình nghiên cứu. Trên cơ sở các tài liệu, thông
tin và dữ liệu thu thập được, tác giả sẽ phân tích, đánh giá, xem xét
trên các khía cạnh. Qua đó tổng hợp lại để có những kết luận, những
đề xuất mang tính khoa học, phù hợp với lý luận và thực tiễn công
tác quản lý nhà nước về hoạt động công chứng;
6.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về lý luận, luận văn đã hệ thống, phân tích, bổ sung những vấn
đề có tính lý luận về công chứng và tổ chức hành nghề công chứng;
chỉ ra những điểm khác trong tổ chức giữa phòng công chứng và văn
phòng công chứng; những bất cập còn tồn tại trong Luật công chứng
2014 và đề xuất đưa ra những giải pháp phù hợp;
Về thực tiễn, các luận cứ và giải pháp của đề tài có thể sử dụng
được cho việc hoàn thiện các chế định pháp luật có liên quan đến tổ
chức hành nghề công chứng trên thực tế; luận văn còn là tài liệu tham
khảo phục vụ cho nghiên cứu, đào tạo về luật học.
7.Kết cấu của luân văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,
kết cấu Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp lý về tổ chức hành
nghề công chứng;
Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về tổ chức hành
nghề công chứng;
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về tổ
chức hành nghề công chứng
4


Điều 2 khoản 1 Luật công chứng ngày 20 tháng 6 năm 2014
quy định: “ Công chứng là việc công chứng viên của một tổ
chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp
pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản
(sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp
pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn
bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước
ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy
định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức
tự nguyện yêu cầu công chứng”.

Đặc điểm của công chứng:

5


- Thứ nhất, công chứng là hành vi do công chứng viên thực hiện.
Điều này phân biệt với chứng thực là hành vi do người đại diện của
cơ quan hành chính công quyền thực hiện
- Thứ hai, nội dung cơ bản của công chứng là xác nhận tính đúng
đắn, hợp pháp của các giao dịch, hợp đồng; tính chính xác, hợp pháp,
không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt
sang tiếng nước ngoài, hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt theo
yêu cầu của công dân, tổ chức và chứng nhận các hợp đồng, giao
dịch theo quy định của pháp luật.
- Thứ ba, văn bản công chứng có giá trị chứng cứ và có hiệu lực thi
hành với các bên, những tình tiết, sự kiện trong văn bản công chứng
có giá trị chứng cứ không phải chứng minh đã được Luật công chứng
(Khoản 3-Điều 5) và Bộ luật tố tụng dân sự (Điều 80, 83) quy định,

+ Tổ chức hành nghề công chứng thực hiện một số hoạt động có
tính chịu trách nhiệm cao hơn.
Cùng với một số điểm giống nhau thì phòng công chứng và văn
phòng cũng có những điểm khác biệt như:
+ Công chứng viên thuộc Phòng công chứng là công chức, viên
chức nhà nước được hưởng lương từ ngân sách còn văn phòng công
chứng công chứng viên không phải công chức, viên chức.
+ Phòng công chứng có kinh phí được nhà nước cấp còn văn
phòng là tự chủ tự chịu trách nhiệm về kinh phí hoạt động
+ Do đặc thù là tổ chức dịch vụ pháp lý nên cơ cấu tổ chức, hoạt
động của tổ chức hành nghề công chứng được quy định theo Luật
công chứng; ngoài ra với hình thức hoạt động Văn phòng công chứng
còn được quy định trong cả Luật doanh nghiệp. Điều này ứng với
loại hình văn phòng công chứng. Văn phòng công chứng hoạt động
theo loại hình Công ty hợp danh, hoạt động trên cơ sở tự chủ tài
chính, hạch toán độc lập, tuy nhiên lại chịu sự quản lý khắt khe và
chặt chẽ hơn so với các công ty hợp danh thông thường khác.
1.3

Quản lý nhà nước về tổ chức hành nghề công chứng
7


Quản lý nhà nước về tổ chức hành nghề công chứng có ý nghĩa
rất lớn, đảm bảo cho sự hình thành, tổ chức và hoạt động của các tổ
chức hành nghề công chứng nhằm đạt được mục tiêu đề ra đối với
hoạt động công chứng.
*) Bộ Tư pháp: Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ
trong việc thực hiện hoạt động quản lí nhà nước về công chứng
*) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực

phương diện toàn cục thì các phòng công chứng do nhà nước
thành lập vẫn phát huy tính tích cực của nó trong bối cảnh
điều kiện kinh tế hiện nay, nhất là những nơi có điều kiện
kinh tế xã hội khó khăn, khi mà những nơi này kinh tế chưa
phát triển thì các giao dịch dân sự kinh tế còn rất hạn chế. Ở
những nơi này việc phát triển các văn phòng công chứng là
rất khó khăn, có nơi không có văn phòng công chứng việc xã
hội hóa công chứng ở những địa bàn này còn nhiều bất cập.
- Đối với những vùng có kinh tế, xã hội phát triển đủ điều kiện
để xã hội hóa công chứng thì lúc này nhà nước và chính phủ
xem xét xem có thể thực hiện được chủ trương xã hội hóa
hay chưa, từ đó chuyển đổi mô hình phòng công chứng sang
một hướng khác vừa có lợi cho nhà nước vừa có lợi cho
phòng công chứng.
- Theo quy định của Luật công chứng 2014, Phòng công chứng
chỉ dược thành lập thại những địa bàn chưa có đủ điều kiện
9


phát triển được Văn phòng công chứng . Điều này được hiểu
là các địa bản không thuộc vùng có điều kiện kinh tế khó
khăn thì không được phép thành lập phòng công chứng.
- Điều 21 Luật công chứng 2014 quy định trong trường hợp
không cần thiết duy trì Phòng công chứng thì Sở Tư pháp lập
đề án chuyển đổi Phòng công chứng thành Văn phòng công
chứng. Tuy nhiên xoay quanh vấn đề này vẫn còn rất nhiều
khó khăn như: tâm lý của cán bộ công chức; viên chức,
vướng mắc trong việc xử lý tài sản, vấn đè giải quyết chế độ
cho cán bộ công chức; viên chức và người lao động.
- Ở những nơi hoạt động công chứng đã được xã hội hóa ở mức

đồng giao dịch dân sự hoặc không có đủ công chứng viên
như đăng ký hoạt động ban đầu...
- Đối với việc hợp nhất hoặc sáp nhập văn phòng công chứng
thì Điều 28 Luật công chứng 2014 quy định. Có thể thấy rằng, với
hình thức sáp nhập, Văn phòng công chứng nhận sáp nhập vẫn giữ
được tên cũ, tức là vẫn giữ được “thương hiệu” đã xây dựng trong
suốt quá trình hoạt động lúc trước sáp nhập; đồng thời thu hút được
thêm lượng khách hàng thân thiết đã làm với Văn phòng công chứng
cũ bị sáp nhập. Với dạng hợp nhất, do hậu quả pháp lý là tạo ra một
Văn phòng công chứng mới nên không thể tận dụng được danh tiếng
của các Văn phòng công chứng hợp nhất đã có trước đó. Đây cũng là
một bất lợi cho Văn phòng công chứng mới khi gần như phải gây
dựng lại “thương hiệu” mới.
- Theo Luật Công chứng năm 2014 thì Văn phòng công chứng
được tổ chức và hoạt động theo loại hình công ty hợp danh, phải có
từ hai công chứng viên hợp danh trở lên và không có thành viên góp
vốn (Điều 22 khoản 1). Sở dĩ, Luật Công chứng năm 2014 quy định
về tổ chức, hoạt động của Văn phòng công chứng như trên là nhằm
khắc phục những tồn tại, hạn chế của mô hình Văn phòng công
chứng hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân; xây dựng các
11


Văn phòng công chứng quy mô lớn, ổn định bảo đảm thống nhất về
loại hình hoạt động Văn phòng công chứng . Có nguyên nhân khách
quan là thiếu nguồn công chứng viên ở một số địa phương có điều
kiện kinh tế chưa pháp triển như nói ở trên. Tuy nhiên, các nguyên
nhân chủ quan cũng có tác động không nhỏ đến những hạn chế của
quá trình chuyển đổi Văn phòng công chứng . Đó là nhiều địa
phương chưa đánh giá hết tác động của quy định về chuyển đổi Văn

so với giấy tờ được dịch; công chứng viên phải kiểm tra các giấy
tờ được dịch trước khi công chứng, công chứng viên chứng nhận
chữ ký người dịch và chịu trách nhiệm về tính hợp pháp của các
giấy tờ được dịch, về tư cách pháp lý của người dịch và trình tự,
thủ tục công chứng bản dịch giấy tờ đó. Quy định này nhằm
ràng buộc trách nhiệm giữa công chứng viên với người dịch,
người dịch phải chịu trách nhiệm nội dung bản dịch với công
chứng viên, công chứng viên chịu trách nhiệm với người yêu cầu
công chứng, do đó chất lượng bản dịch sẽ tốt hơn.
Pháp luật qui định đối với tổ chức hành nghề công chứng thì
chức thực bản sao giấy tờ đều phải có bản chính, chứng nhận chữ ký
phải có người ký trước mặt công chứng viên để xác nhận đúng người
đúng việc và tránh để trường hợp giả mạo giấy tờ hoặc chữ ký của
người đó.
Pháp luật qui định đối với tổ chức hành nghề công chứng thì
chức thực bản sao giấy tờ đều phải có bản chính, chứng nhận chữ ký
phải có người ký trước mặt công chứng viên để xác nhận đúng người
đúng việc và tránh để trường hợp giả mạo giấy tờ hoặc chữ ký của
người đó. Tuy nhiên trên thực tế thì một số các văn phòng công
chứng thậm chí là phòng công chứng vẫn ký một số các giấy tờ bản
sao mà không có bản chính, hoặc bản chính đã không còn nguyên
vẹn nhứng vẫn được sao y bình thường. Ngoài ra việc sao y bản
13


chính không lưu lại bản photo tại nơi đóng dấu bản sao cũng gặp
những ý kiến trái chiều cần xem xét. Mặc dù đã có quy định xử phạt
cụ thể tuy nhiên chưa đủ sức răn đe với các tổ chức hành nghề công
chứng.
c) Thực trạng về hoạt động chứng thực chữ ký

khi có yêu cầu công chứng cũng được phục vụ kịp thời, tiện lợi.
Quy hoạch phát triển tổ chức hành nghề công chứng đã đề ra
giải pháp thực hiện là “xây dựng cơ chế, chính sách thu hút các
nguồn lực tham gia hoạt động hành nghề công chứng… quy hoạch
phát triển đội ngũ công chứng viên đến năm 2020 gắn với Quy hoạch
tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng đến năm 2020”.
Đây là một đòi hỏi tất yếu đặt ra, chỉ có thể phát triển tổ chức hành
nghề công chứng theo quy hoạch khi và chỉ khi phát triển được một
đội ngũ công chứng viên tương ứng về số lượng và chất lượng.
Do vậy Nhà nước chỉ đạo cho Ủy ban nhân dân các tinh, thành
phố nên tạo điều kiện cho tổ chức hành nghề công chứng phát triển
và thành lập được ở nhiều nơi đảm bảo phù hợp với điều kiện kinh
tế- xã hội của từng vùng miền nhằm đáp ứng nhu câu của người dân
một cách tốt nhất.
Việc giải thể tổ chức hành nghề công chứng trong luật công
chứng cũng nêu rằng: Chỉ thành lập Phòng công chứng ở những địa
bản chưa có điều kiện phát triển được Văn phòng công chứng. Ở nơi
nào đã có Văn phòng Công chứng thì Nhà nước cũng có thể chuyển
đổi hoặc giải thể Phòng Công chứng để tinh giản biên chế, bộ máy,
tiết kiệm kinh phí cho Nhà nước. Việc phát triển thêm tổ chức hành
nghề công chứng trên từng địa bàn phải căn cứ trên sự phát triển kinh
15


tế, xã hội của địa bàn đó, không nên phát triển tràn lan dẫn đến cạnh
tranh không lành mạnh.
. Việc Luật công chứng 2014 quy định hình thức của Văn phòng
công chứng bắt buộc phải hoạt động theo loại hình công ty hợp danh
mà bỏ đi hình thức Một thành viên như Luật công chứng 2006 nhằm
mục đích đảm bảo sự hoạt động chặt chẽ của Văn phòng công chứng.

ra tổ chức hành nghề cong chứng làm thủ tục cho đúng với quy định
của pháp luật.
Tăng cường nhiều hơn những buổi tập huấn nghiệp vụ để cac
công chứng viên và chuyên viên pháp lý được trau dồi kiến thức
chuyên môn, tiếp thu những văn bản luật mới có liên quan đến lĩnh
vực công chứng như Luật đất đai, Luật bất động sản...
Đưa ra nhiều chế tài xử phạt hơn nữa với các hành đong làm trái
pháp luật của công chứng viên trong hoạt động công chứng để thúc
đẩy tinh thần làm việc có trách nhiệm và nghiêm túc hơn, kỷ luật
hơn.
Tăng cường vị thế cho tổ chức hành nghề công chứng bằng những
văn bản phối hợp liên nghành với các cơ quan có liên quan để hoạt
động giao dich được thuận lợi hơn,
Xây dựng được cơ sở dữ liệu thông tin về bất động sản, tạo nền
tảng kết nối, chia sẻ thông tin giữa các tổ chức hành nghề công
chứng với Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, các tổ chức tín
dụng và các tổ chức, cá nhân có liên quan để khắc phục rủi ro trong
hoạt động hành nghề của công chứng viên.
b) Giải pháp hoàn thiện pháp luật về hoạt động chứng thực
bản sao, bản dịch
Cần đẩy mạnh, đổi mới công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về
công chứng, chứng thực để nâng cao nhận thức, hiểu biết của cán bộ,
17


công chức, viên chức và các tầng lớp nhân dân về tính chất, vị trí, vai
trò, lợi ích thiết thực của hoạt động công chứng.
Cần xây dựng các chính sách đồng bộ, thống nhất giữa các lĩnh
vực, giữa Trung ương và địa phương đối với lĩnh vực công chứng.
Về lâu dài cần nghiên cứu sửa đổi Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Nghị

chứng viên chứ không nhận bản đã ký sẵn tránh trường hợp giả mạo
chữ ký. Các văn bản bằng tiếng nước ngoài cần tạo điều kiện cho
người dịch và cho khách hàng để giải quyết nhanh chóng nhất.
Ngoài ra đối với việc gia nhập hiệp hội công chứng thì cũng nên
có những qui định của hội để hội công chứng phát huy thế mạnh của
mình trong việc là tiếng nói chung của công chứng viên, bảo vệ công
chứng viên. Hiệp hội công chứng nên tổ chức những buổi tập huấn
cho các công chưng viên về nghiệp vụ chuyên môn cũng như thảo
luận các văn bản, chính sách mới có hiệu lực để trau dồi kiến thức.
Nên quan tâm, chia sẻ và giúp đỡ các công chứng viên tạo cho các
thành viên gần gũi nhau hơn và từ đó cũng phát huy được sự vững
mạnh của hiệp hội.

19


KẾT LUẬN
Tổ chức hành nghề công chứng ra đời cùng những quy định của
Luật và những văn bản hướng dẫn đã phần nào cho thấy được tầm
quan trọng của nghề công chứng và tổ chức hành nghề công chứng,
dưới sự quan tâm của Đảng và Nhà nước tổ chức hành nghề công
chứng ngày càng được nâng lên một tầm cao mới.
Việc hoàn thiện và nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức
hành nghề công chứng là yêu cầu cần thiết hiện nay, góp phần thiết
thực vào công tác quản lý nhà nước đối với các giao dịch dân sự,
kinh doanh và giải quyết các quan hệ trong đời sống xã hội. Trong
thời kỳ đổi mới, chúng ta càng không thể phủ nhận vai trò của công
chứng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và
cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, góp phần phòng
ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Bằng


21




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status