Dịch vụ chuyển giao công nghệ theo pháp luật việt nam hiện nay tt - Pdf 52

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN VĂN NAM

DỊCH VỤ CHUYÊN GIAO CÔNG NGHỆ
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY

Ngành : Luật Kinh tế
Mã số : 938.01.07

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, 2019


Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. TRẦN VĂN HẢI

Phản biện 1: GS.TS. Nguyễn Thị Mơ
Phản biện 2: PGS.TS. Đoàn Đức Lương
Phản biện 3: PGS.TS. Nguyễn Thị Quế Anh

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học
viện họp tại: Học viện khoa học xã hội
Vào hồi…..giờ….., ngày………tháng……….năm………

Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
Thư viện Học viện khoa học xã hội

2.1. Mục đích nghiên cứu
Dựa trên phân tích các cơ sở lý luận về chuyển giao công nghệ, dịch vụ
chuyển giao công nghệ, thông qua nghiên cứu một số trường hợp cụ thể
trong áp dụng pháp luật về chuyển giao công nghệ tại Việt Nam, luận án rút
ra những điểm bất cập của quy định hiện hành về dịch vụ chuyển giao công
nghệ. Từ đó đưa ra những đề xuất để thực thi các quy định của pháp luật về
dịch vụ chuyển giao công nghệ, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động dịch
vụ chuyển giao công nghệ hiện nay ở nước ta.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, đề tài luận án cần thực hiện được các
nhiệm vụ cụ thể sau đây:
1


- Trên cơ sở các luận điểm khoa học phân tích sự cần thiết phải nghiên
cứu về dịch vụ chuyển giao công nghệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội
nhập quốc tế hiện nay.
- Nghiên cứu so sánh hệ thống quan điểm, quan niệm khoa học trên
bình diện quốc tế cũng như của các tác giả Việt Nam, từ đó làm rõ những
vấn đề lý luận chung về dịch vụ chuyển giao công nghệ;
- Làm sáng tỏ nội dung những quy định hiện hành của pháp luật về
dịch vụ chuyển giao công nghệ tại Việt Nam, đồng thời phân tích những ưu
điểm và hạn chế của quy định hiện hành về dịch vụ chuyển giao công nghệ
ở Việt Nam.
- Nghiên cứu đề xuất giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật về dịch vụ
chuyển giao công nghệ ở Việt Nam, góp phần thúc đẩy và nâng cao hiệu
quả hoạt động chuyển giao công nghệ.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Luận án tập trung nghiên cứu về dịch vụ chuyển giao công nghệ theo
quy định của pháp luật Việ Nam hiện hành.

Những vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu
- Nghiên cứu để làm rõ hơn nội hàm khái niệm và nội dung pháp luật
về dịch vụ chuyển giao công nghệ mới chỉ được quy định một cách khái
quát trong Luật chuyển giao công nghệ, nhưng chưa được cụ thể hóa trong
các văn bản dưới luật.
- Tiếp tục nghiên cứu đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật, chủ yếu là
Luật chuyển giao công nghệ trong thực tiễn, phân tích những ưu điểm và
hạn chế trong thực tiến triển khai các dịch vụ chuyển giao công nghệ ở Việt
Nam.
- Bên cạnh giải pháp về tiếp tục hoàn thiện pháp luật, luận án tập trung
đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần thúc đẩy dịch vụ chuyển giao công
nghệ ở Việt Nam trong thời gian tới.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Về mặt khoa học
Luận án đã góp phần hệ thống hóa và làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực
tiễn về dịch vụ chuyển giao công nghệ theo pháp luật Việt Nam hiện nay;
thông qua việc đánh giá toàn diện về pháp luật và quá trình thực thi các quy
định pháp luật liên quan đến dịch vụ chuyển giao công nghệ, Luận án chỉ ra
những thành công và hạn chế của pháp luật nước ta điều chỉnh lĩnh vực này,
đồng thời đề xuất các giải pháp tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về
dịch vụ chuyển giao công nghệ ở Việt Nam.
Về mặt thực tiễn
Nội dung của luận án là cơ sở cho các cơ quan có thẩm quyền xem xét, sửa
đổi, bổ sung, hoàn thiện các văn bản luật và dưới luật về dịch vụ chuyển giao
công nghệ.
8. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, những
công trình nghiên cứu liên quan đến luận án đã được công bố; phân nội
dung của luận án được kết cấu gồm 4 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên

ươm tạo doanh nghiệp trong các trường đại học Việt Nam). Tác giả đề
cập một số nội dung chủ yếu nhằm phát triển thị trường khoa học và công
nghệ bao gồm: Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ
trong các trường đại học Việt Nam nhằm thực thi và bảo vệ quyền sở hữu
trí tuệ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân tham gia
thị trường khoa học và công nghệ; tập trung phát triển đồng bộ hệ thống hạ
tầng, nguồn nhân lực và các thiết chế hệ trung gian của thị trường khoa học
và công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động ứng dụng, chuyển giao
công nghệ; thúc đẩy quan hệ cung, cầu đối với các sản phẩm và dịch vụ
khoa học và công nghệ.
Năm 2010, Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức hội nghị “Thực hiện
Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ 2001-2010, đánh giá kết
quả hoạt động khoa học và công nghệ 2006-2010 và định hướng nhiệm
vụ 2011-2015” . Báo cáo đánh giá một số tồn tại trong hoạt động khoa học
và công nghệ thời gian qua như: Nhiều nội dung, giải pháp thực thi chính
4


sách phát triển còn chậm và khó đi vào cuộc sống; nhận thức về đặc thù, sự
khác biệt giữa quá trình nghiên cứu khoa học và thương mại hóa kết quả
nghiên cứu còn chưa thấu đáo;
Định nghĩa dịch vụ chuyển giao công nghệ đã được đã được các tác giả
phân tích trong đề tài NCKH –Bộ Khoa học và công nghệ Nghiên cứu đề
xuất giải pháp thúc đẩy dịch vụ chuyển giao công nghệ, đã trình bày về
06 loại dịch vụ CGCN theo quy định của pháp luật Việt Nam năm 2016,
minh họa bằng các nghiên cứu tại Hà Nội và 04 địa phương trên cả nước;
dề xuất các giải pháp để tăng cường hiệu quả các loại dịch vụ này.
1.1.2. Nhóm công trình nghiên cứu lý luận về dịch vụ chuyển
giao công nghệ
Tác giả Trần Văn Hải nghiên cứu lĩnh vực chuyển giao công nghệ, thị

số nội dung của Luật Chuyển giao công nghệ hiện hành.
Nhóm công trình nghiên cứu về thực tiễn thành lập các doanh
nghiệp KH-CN trong các trường đại học, viện nghiên cứu
Tác giả Bạch Tân Sinh và cộng sự [36] trong nghiên cứu bàn về khái
niệm và quá trình hình thành doanh nghiệp KH&CN.Trong đó phân tích rõ
bản chất loại hình DN KH&CN, xác định các điều kiện hình thành DN
KH&CN, nghiên cứu mô hình chuyển đổi tổ chức NC&TK sang cơ chế
doanh nghiệp.
Hoàng Văn Tuyên [38] Viện chiến lược và chính sách KH&CN cung
cấp nghiên cứu khá toàn diện về khái niệm và kinh nghiệm quốc tế về mô
hình doanh nghiệp KH&CN, các hình thức đầu tư tài chính cho loại hình
doanh nghiệp này.
Tác giả Nguyễn Quân (2006), Bộ KH&CN đề cập đến khái niệm về
doanh nghiệp KH&CN, chính sách đối với DN KH&CN, một số vấn đề cần
quan tâm khi chuyển đổi các tổ chức KH&CN công lập thành DN KH&CN.
Tác giả coi đây là “quả đấm thép„ của nền kinh tế trong thời kỳ hội nhập.
Tác giả Nguyễn Thị Minh Nga và cộng sự [23]. Viện chiến lược và
chính sách KH&CN đã bàn về các khía cạnh pháp lý của doanh nghiệp
KH&CN như các thủ tục thành lập doanh nghiệp, hình thức hoạt động, tổ
chức và quản lý, liên kết nghiên cứu, các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp
KH&CN.
Đề cập trực tiếp đến spin-off, Trần Văn Dũng [09] về Điều kiện hình
thành DN spin-off trong các trường đại học ở Việt Nam (Nghiên cứu trường
ĐH Khoa học Tự nhiên – ĐHQGH), tác giả đưa ra 3 điều kiện hình thành
được doanh nghiệp spin-off trong các trường đại học: công nghệ có bản
quyền, đội ngũ nhà khoa học có tinh thần kinh thương và có vốn đầu tư.
Khi tổng quan nhóm các công trình nghiên cứu liên quan những vấn đề
về doanh nghiệp KH-CN tại các trường học, viện nghiên cứu, tác giả Luận
án nhận thấy, những nghiên cứu trên đây phần lớn mang tính tổng luận về
doanh nghiệp spin-off. Kết quả của các nghiên cứu này cho thấy bức tranh

Chủ đề về chuyển giao công nghệ cũng đã thu hút sự quan tâm của giới
nghiên cứu nước ngoài.
Năm 1992, các tác giả Barry Bozeman và Karen Coker đã thực hiện
nghiên cứu: “Assessing the effectiveness of technology transfer from US
government R&D laboratories: the impact of market orientation”. Nghiên
cứu này cho thấy, việc quan tâm tới thị trường chuyển giao chứng chỉ công
nghệ cũng như việc hợp tác với các dịch vụ chuyển giao công nghệ đã mang
lại lợi ích rất lớn cho các phòng thí nghiệm.
Năm 2000, tác giả Barry Bozeman đã xuất bản cuốn sách: Technology
transfer and public policy: a review of research and theory”. Cuốn sách
đã xem xét, tổng hợp các công trình chung nghiên cứu về chuyển giao công
nghệ cũng như hiệu quả chuyển giao công nghệ, trên cơ sở đó đưa ra quan
điểm của tác giả về các vấn đề lý thuyết liên quan đến quy trình chuyển
giao công nghệ.
Năm 2004, các tác giả Eric G. Campbell, Joshua B. Powers, David
Blumenthal, và Brian Biles [46b] đã công bố báo cáo: “Inside the Triple
Helix: Technology Transfer And Commercialization In The Life
Sciences”. Trong báo cáo này, các tác giả đã tập trung xem xét hiện trạng
của việc chuyển giao và thương mại hóa các quy trình công nghệ cũng như
yêu cầu tiềm năng để tối ưu hóa việc trao đổi kiến thức mới trong các ngành
khoa học đời sống giữa các viện nghiên cứu và ngành công nghiệp.
7


1.1.7. Đánh giá tình hình nghiên cứu
Những nghiên cứu trên là các tư liệu tham khảo có giá trị cho tác giả
luận án khi nghiên cứu về “Dịch vụ chuyển giao công nghệ theo pháp luật
Việt Nam hiện nay”.
Những thành tựu trong nghiên cứu mà luận án kế thừa và phát triển:
Một là, có nhiều nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam đã đề cập đến

2.1.2. Khái niệm dịch vụ chuyển giao công nghệ
8


Dịch vụ CGCN (Technology Transfer Services) là một thuật ngữ dùng
để chỉ các hoạt động liên quan đến môi giới CGCN, tư vấn CGCN, đánh giá
công nghệ, định giá công nghệ, giám định công nghệ và xúc tiến CGCN.
Theo khoản 12 điều 3 Luật CGCN: Dịch vụ CGCN là hoạt động hỗ trợ
quá trình tìm kiếm, giao kết và thực hiện hợp đồng CGCN.
Luật CGCN tại Điều 45 quy định về các loại hình dịch vụ chuyển giao
công nghệ:
1. Môi giới chuyển giao công nghệ.
2. Tư vấn chuyển giao công nghệ.
3. Đánh giá công nghệ.
4. Thẩm định giá công nghệ.
5. Giám định công nghệ.
6. Xúc tiến chuyển giao công nghệ.
2.1.3. Đặc điểm và phân loại dịch vụ chuyển giao công nghệ
2.1.3.1. Đặc điểm dịch vụ chuyển giao công nghệ
Theo Lưu Văn Nghiêm (2008), dịch vụ là một quá trình hoạt động bao
gồm các nhân tố không hiện hữu, giải quyết các mối quan hệ giữa người cung
cấp với khách hàng hoặc tài sản của khách hàng mà không có sự thay đổi
quyền sở hữu. Sản phẩm của dịch vụ có thể trong phạm vi hoặc vượt quá
phạm vị của sản xuất vật chất. Trên giác độ hàng hoá, dịch vụ là một hàng
hóa vô hình mang lại chuỗi giá trị thỏa mãn một nhu cầu nào đó của thị
trường.
2.1.3.2. Phân loại dịch vụ chuyển giao công nghệ
Phân loại theo quy định của pháp luật
Điều 28 Luật chuyển giao công nghệ quy định dịch vụ CGCN bao
gồm:

Về mặt lý thuyết trong CGCN, không tồn tại quan hệ mua – bán
thông thường mà thay vào đó là “đối tác” được nhấn mạnh với ý nghĩa
sự hợp tác trên cơ sở bền vững, hình thành mối quan hệ hợp tác cùng có
trách nhiệm với công nghệ được chuyển giao giữa bên cung và bên cầu
công nghệ, mối quan hệ này cần sự trợ giúp từ tư vấn, môi giới CGCN.
Môi giới CGCN là hoạt động hỗ trợ bên có công nghệ, bên cần công
nghệ trong việc tìm kiếm đối tác ký kết hợp đồng chuyển giao công nghệ.
2.1.5. Dịch vụ và dịch vụ chuyển giao công nghệ theo quy định của
Tổ chức thương mại quốc tế (WTO)
2.1.5.1. Khái niệm dịch vụ theo quy định của Hiệp định GATS
2.1.5.2. Cách phân loại dịch vụ theo Hiệp định GATS
WTO phân loại dịch vụ dựa trên nguồn gốc ngành kinh tế. Toàn bộ
lĩnh vực dịch vụ được chia ra 12 ngành. Mỗi ngành dịch vụ lại được chia ra
các phân ngành, trong các phân ngành có liệt kê các hoạt động dịch vụ cụ
thể. Việc phân loại dịch vụ theo WTO rất thích hợp cho việc xúc tiến đàm
phán về mở cửa thị trường dịch vụ quốc tế. Bởi vì, bản chất của các đàm
phán thương mại quốc tế là loại bỏ các hạn chế đối với việc kinh doanh các
sản phẩm hàng hoá và dịch vụ chứ không phải tập trung vào các qui tắc
điều chỉnh sản xuất ra các hàng hoá và dịch vụ đó.
Hệ thống phân loại của WTO phân chia dịch vụ thành 12 ngành:
Dịch vụ CGCN có thể được xếp vào nhóm (i). Các dịch vụ kinh
doanh, cụ thể là khoản a. Các dịch vụ chuyên ngành.
2.1.5.3. Các phương thức cung cấp dịch vụ theo GATS
Các hoạt động thương mại dịch vụ trong phạm vi quốc tế được quy
định trong GATS theo những quy chuẩn pháp lý quốc tế dựa trên 4 phương
10


thức cung cấp dịch vụ theo Điều I khoản 2 Hiệp định GATS).
2.2. Nội dung của dịch vụ chuyển giao công nghệ

Đối tượng của các dịch vụ chuyển giao công nghệ bao gồm sáng chế,
giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán
dẫn, phần mềm máy tính.
Ví dụ điển hình về đối tượng dịch vụ CGCN:
Sáng chế “Dùng khí đẩy nước chữa cháy thay máy bơm”
Nguồn: [Đề án Lên trời gọi mưa, 2018 trang 49] Tác giả luận án trao
đổi với ông Phan Đình Phương, chủ công nghệ, tháng 8/2018.
11


2.3.3 Nội dung của các hoạt động dịch vụ chuyển giao công nghệ
Nội dung của các hoạt động dịch vụ chuyển giao công nghệ là các
quyền và nghĩa vụ do các bên thỏa thuận khi các chủ thể thực hiện một, một
số loại dịch vụ CGCN, như hợp đồng tư vấn CGCN, hợp đồng xúc tiến
CGCN; hợp đồng môi giới CGCN.
Chương 3
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VỀ DICH VỤ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ TẠI VIỆT NAM
3.1. Sự hình thành chế định pháp luật về dịch vụ chuyển giao công
nghệ ở Việt Nam
3.1.1 Hệ thống pháp luật về dịch vụ chuyển giao công nghệ trước
năm 2006
Trước khi Luật Chuyển giao công nghệ 2006 được ban hành, hoạt
động chuyển giao công nghệ nói chung và dịch vụ chuyển giao công
nghệ nói riêng được quy định trong Bộ luật Dân sự và các văn bản
hướng dẫn thi hành.
3.1.2 Hệ thống pháp luật về dịch vụ chuyển giao công nghệ từ 20062017
3.1.2.1. Các đạo Luật
Bộ Luật Dân sự 2005
Ngày 14/06/2005 Quốc hội đã ban hành Bộ Luật Dân sự 2005, tại Phần

bù lãi suất đối với khoản vay của doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp
sáng tạo.
3.2 Thực trạng các quy định pháp luật hiện hành về dịch vụ
chuyển giao công nghệ
3.2.1 Thực trạng các quy định pháp luật hiện hành về các loại dịch
vụ chuyển giao công nghệ
Quy định về các loại hình dịch vụ chuyển giao công nghệ:
Các quy định của Luật Chuyển giao công nghệ 2017 liên quan đến
dịch vụ CGCN
Một là Luật CGCN 2017 quy định về phát triển mạnh thị trường công
nghệ; khuyến khích và thúc đẩy hoạt động ươm tạo công nghệ, ươm tạo
doanh nghiệp công nghệ; đẩy mạnh việc chuyển giao kết quả nghiên cứu
vào sản xuất, kinh doanh.
Hai là Luật CGCN 2017 quy định về nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân
kinh doanh dịch vụ chuyển giao công nghệ tại Điều 31.Nghĩa vụ của tổ
chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ chuyển giao công nghệ
Ba là Luật CGCN 2017 đã quy định bổ sung về các tổ chức môi giới,
tư vấn và xúc tiến chuyên giao công nghệ
Bốn là Luật CGCN 2017 quy định về tổ chức đánh giá, định giá và
giám định công nghệ
Luật này đã bãi bỏ quy định về việc phải có Giấy chứng nhận đăng ký
kinh doanh dịch vụ chuyển giao công nghệ do không phù hợp với quy định
của pháp luật hiện hành.
3.2.2 Thực trạng các quy định hiện hành về điều kiện kinh doanh
dịch vụ chuyển giao công nghệ
Nghị định 76/2018/NĐ-CP đã quy định tại Chương IV về điều kiện
hoạt động của các tổ chức thẩm định giá, đánh giá và giám định công nghệ.
Nhận xét của tác giả Luận án: do Nghị định 76/2018/NĐ-CP còn quy
định điều kiện, thẩm quyền, trình tự cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt
13

3
Khoa học y, dược
3
1,4
4
Khoa học nông nghiệp
12
5,7
5
Khoa học xã hội
32
15,1
6
Khoa học nhân văn
3
1,4
Tổng cộng
212
100
Nguồn: Cục Thông tin KH&CN quốc gia (2015), Kết quả
điều tra tiềm lực Khoa học và Công nghệ 2014. Hà Nội.
Bên cạnh đó, mạng lưới các tổ chức cung cấp dịch vụ chuyển giao
công nghệ ngoài công lập cũng phát triển mạnh mẽ trên tất cả các loại hình
dịch vụ: tư vấn, môi giới, xúc tiến chuyển giao công nghệ cũng như đánh
giá, định giá và giám định công nghệ. Cùng với các tổ chức công lập, các tổ
chức cung cấp dịch vụ chuyển giao công nghệ ngoài công lập ngày càng
đáp ứng các yêu cầu và thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của thị trường
công nghệ ở nước ta.
Về phân bố, các tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ tập trung
chủ yếu ở Hà Nội (27,8%) và Thành phố Hồ Chí Minh (13,2%). Trong khi

chức dịch vụ CGCN
(Nguồn: Kết quả khảo sát 2013, 2016 - Cục Ứng dụng và Phát triển công nghệ)
Về lĩnh vực cung cấp dịch vụ chuyển giao công nghệ, các đơn vị
trung gian hiện nay chủ yếu cung cấp dịch vụ chuyển giao công nghệ trong
lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp và môi trường. Số lượng các đơn vị
trung gian cung cấp dịch vụ chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực y tế,
chăm sóc sức khỏe, giáo dục đào tạo, viễn thông, tài chính ngân hàng.. là
khá thấp. Theo số liệu khảo sát của đề tài năm 2016, có 74,7% đối tượng
khảo sát là các đơn vị trung gian cung cấp dịch vụ chuyển giao công nghệ
trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường; 62,0% đối tượng khảo sát cung
cấp dịch vụ chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực công nghiệp. Tỷ lệ các
đơn vị trung gian cung cấp dịch vụ CGCN trong lĩnh vực dịch vụ là rất thấp
(Hình 4).

16


Hình 3.3: Tỷ lệ cung cấp dịch vụ chuyển giao công nghệ
trong các lĩnh vực [44]
Theo thống kê tại báo cáo đề án Hình thành và phát triển tổ chức trung
gian của thị trường khoa học và công nghệ phù hợp với đặc thù của hoạt
động nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng của Phan Tiến Dũng và
các cộng sự [10c] đến năm 2016, Việt Nam có khoảng 2.200 tổ chức đăng
ký hoạt động KH&CN. Trong số đó có trên 1.000 là tổ chức NC&TK (với
tên gọi, cấp trực thuộc và sở hữu khác nhau). Các tổ chức NC&TK chủ yếu
thuộc hai Viện Hàn lâm khoa học (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam và
Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam), bộ/ngành trung ương, đại
học/trường đại học/cao đẳng/học viện, doanh nghiệp và các tổ chức phi
chính phủ. Cũng tính đến năm 2016, Việt Nam có khoảng 420 trường đại
học, cao đẳng và học viện. Ở Việt Nam, cho đến nay các trường đại học và

và nghiên cứu chế tạo trong nước. Kỹ sư Lại Minh Chức đã được Cục Sở
hữu trí tuệ cấp nhiều bằng độc quyền sáng chế; đã được chuyên gia WIPO
xác định giá công nghệ khoảng 12 triệu euro. Tuy nhiên, do chưa tiếp cận
được với bất kỳ một tổ chức trung gian KH&CN nào trong và ngoài nước,
nên đến năm 2018, các dự kiến góp vốn bằng công nghệ của Kỹ sư Chức
vào các dự án nhà máy rác thải tại Nam Hà, Bắc Ninh, Trà Vinh vẫn chưa
được triển khai thành công.
3.3,2. Khái quát một số thành tựu chủ yếu trong việc thực hiện pháp luật
về CGCN

18


Bảng 3.3: Hợp đồng CGCN đăng ký tại các địa phương
Loại HĐ
TT
1
2
3
4
5
6
7
8

Năm
2007
2008
2009
2010

CGCN
12
09
34
36
32
21
22
21
187

Quy trình
CN
10
7
34
31
26
13
02
05
137

Nội dung chuyển giao công nghệ

Trợ giúp
Đào tạo
quyết
KT
9

0
0
9
6
2
01
01
25

(Nguồn: Bộ Khoa học và Công nghệ, Báo cáo tổng kết về thi hành
Luật chuyển giao công nghệ và đánh giá thực trạng hoạt động CGCN, năm
2016, trang 21)
3.3.3. Việc thực hiện dịch vụ chuyển giao công nghệ ở Việt Nam
hiện nay nhìn từ một số vụ điển hình liên quan đến chuyển giao công
nghệ
Báo cáo tổng kết về thi hành Luật chuyển giao công nghệ và đánh giá
thực trạng hoạt động CGCN, năm 2016 ghi nhận, doanh thu của các đơn vị
thực hiện thông qua các dịch vụ chuyển giao công nghệ tăng từ 10% - 50%
tùy từng đơn vị của các lĩnh vực khác nhau. Ngoài ra, nhờ có Techmart, có
một số đơn vị đã ký kết được nhiều hợp đồng sau Techmart và doanh thu
của đơn vị tăng 100%. Tiêu biểu nhất là Viện điện tử tin học và tự động hóa
đã đạt kết quả khả quan, doanh thu của Viện đã tăng 100% sau khi tham gia
các kỳ Techmart.
Thực tế cho thấy, từ Techmart quốc gia lần đầu tiên được tổ chức tại
Hà Nội (Techmart Vietnam 2003) cho đến nay hoạt động kết nối chuyển
giao công nghệ đã có những bước khởi sắc đáng ghi nhận. Tuy nhiên, thị
trường công nghệ nước ta chủ yếu vẫn là tìm kiếm mua bán máy móc thiết
bị, chưa có nhiều các giao dịch có hàm lượng công nghệ cao như mua bán
công nghệ, bản quyền sáng chế... Dù hiện nay, ngay trong các kỳ Techmart
có rất nhiều nhu cầu về chuyển giao công nghệ thiết bị, nhưng đa số chỉ

dịch vụ chuyển giao công nghệ;
3.5 Một số bài học đặt ra cho Việt Nam nhằm thúc đẩy hoạt động
dịch vụ chuyển giao công nghệ
- Việc tạo dựng môi trường pháp lý cho hoạt động mua bán, tư vấn,
đánh giá định giá và môi giới chuyển giao công nghệ đối với sản phẩm
KHCN đòi hỏi trước hết phải cụ thể hóa quyền sở hữu đối với kết quả
KH&CN.
- Cần bổ sung và hoàn thiện các quy định về quản lý nhà nước đối
với hoạt động tư vấn đánh giá, định giá và môi giới chuyển giao công nghệ.
- Mở rộng các chính sách khuyến khích phát triển hoạt động tư vấn
20


đánh giá, định giá và môi giới chuyển giao công nghệ.
- Cần nghiên cứu ban hành chính sách hỗ trợ hợp lý nhằm nâng cao
năng lực của đội ngũ tư vấn đánh giá, định giá và môi giới chuyển giao
công nghệ trong nước
- Cần có các chính sách thúc đẩy hình thành những mạng lưới các tổ
chức tham gia tư vấn đánh giá, định giá và môi giới chuyển giao công nghệ,
bao gồm cả liên kết trong nước và quốc tế.
Chương 4
GIẢI PHÁP TIẾP TỤC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ DỊCH VỤ
CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ VÀ THÚC ĐẨY DỊCH VỤ CHUYỂN
GIAO CÔNG NGHỆ TẠI VIỆT NAM
4.1. Phương hướng triển khai thực hiện pháp luật về dịch vụ
chuyển giao công nghệ
4.1.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về thúc đẩy chuyển giao
công nghệ và phát triển dịch vụ chuyển giao công nghệ
Tài sản trí tuệ và dịch vụ chuyển giao công nghệ được Đảng quan
tâm và đưa vào các văn kiện của Đảng. Báo cáo chính trị của Ban chấp

trong hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.
4.2. Giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật về dịch vụ
chuyển giao công nghệ
4.2.1 Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý liên quan để đảm bảo thức
đẩy phát triển các dịch vụ chuyển giao công nghệ.
Đối với Luật Khoa học công nghệ, cần được sửa đổi theo hướng thực
hiện cơ chế giao quyền sở hữu các kết quả KH&CN có sử dụng ngân sách
nhà nước cho cơ quan chủ trì hoặc cá nhân nhà khoa học để thúc đẩy hoạt
động ứng dụng và mua bán, thương mại hóa các kết quả KH&CN;
Đối với Luật Sở hữu trí tuệ: thực hiện Nghị quyết số 72/2018/NĐ-CP
ngày 12/11/2018 của Quốc hội về việc phê chuẩn Hiệp định CPTPP, cần
được sửa đổi theo hướng đáp ứng các cam kết của Việt Nam về sở hữu trí
tuệ tại Hiệp định này. Cần cụ thể hóa và quy định 14 nghĩa vụ có cam kết
theo CPTPP cao hơn so với mức cam kết tại Luật sở hữu trí tuệ và 04 nghĩa
vụ có thời gian chuyển tiếp từ 3-5 năm.
Các đạo luật khác có liên quan như Luật giá; Luật Giao dịch bảo đảm
cần được cụ thể hóa bằng các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành đảm
bảo tính thực thi đối với các quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia vào dịch
vụ chuyển giao công nghệ.
4.2.2 Xây dựng và ban hành văn bản dưới luật thay thế Thông tư số
16/2014/TT-BKHCN
Thông tư số 16/2014/TT-BKHCN ngày 13/6/2014 của Bộ trưởng Bộ
KH&CN quy định về điều kiện thành lập, hoạt động của tổ chức trung gian của
thị trường KH&CN (gọi tắt là Thông tư số 16). Tuy nhiên Thông tư 16 đã
không đi vào cuộc sống.Thực tế cần ban hành một Thông tư để thay thế Thông
22


tư 16/2014/TT-BKHCN, theo hướng thiết lập các nội dung hỗ trợ, cần nhanh
chóng đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn, bảo đảm việc thực hiện hiệu quả các cơ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status