PHẠM VŨ DŨNG
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬT KINH TẾ
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
ĐĂNG KÝ XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU CÔNG
NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
2014 - 2016
PHẠM VŨ DŨNG
HÀ NỘI - 2016
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
ĐĂNG KÝ XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
PHẠM VŨ DŨNG
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được rất nhiều sự động viên, giúp đỡ
của các thầy cô và bạn bè, đồng nghiệp:
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS,TS Phạm Hữu Nghị
đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn
thành luận văn.
Xin được trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu; cán bộ, giảng viên Khoa Đào
tạo sau đại học – Viện Đại học mở Hà Nội cùng toàn thể các thầy cô giáo đã
quan tâm giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Xin được trân trọng cảm ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn
động viên và dành những điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình tôi học
tập và hoàn thành luận văn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2016
Người viết
PHẠM VŨ DŨNG
4
MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Sự cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế thị trường, đặc biệt là sự bùng nổ của
kinh tế tri thức khiến các quốc gia, doanh nghiệp ngày càng phải quan tâm nhiều
hơn đến vấn đề nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu khoa học, kỹ thuật vào sản
xuất kinh doanh. Điều này đã góp phần làm chuyển hoá và gia tăng không ngừng
Trung Quốc, Thái Lan, Singapore… đã sớm quan tâm đến cơ chế bảo hộ quyền
SHCN và đưa ra các chương trình, chính sách thúc đẩy mang tính quốc gia về mặt
SHTT với các nội dung: đẩy mạnh các hoạt động tư vấn, giáo dục đào tạo về SHTT;
tổ chức đào tạo trực tuyến nhằm cung cấp miễn phí những khoá đào tạo về SHTT
cho các doanh nghiệp và công chúng; xúc tiến các hoạt động hỗ trợ tạo ra tài sản trí
tuệ như giảm 50% phí nộp đơn cho các doanh nghiệp nhỏ, giảm 70% phí nộp đơn
cho các doanh nghiệp vừa; đối với nhà đầu tư không có khả năng chi trả thực hiện
giảm 100% phí nộp đơn; thúc đẩy thương mại các sản phẩm trí tuệ bằng cách thành
lập “Hội đồng về thương mại các công nghệ được bảo hộ sáng chế” và tiến hành hỗ
trợ thương mại điện tử với các sản phẩm được bảo hộ có chất lượng cao. Nhờ các
chính sách quan tâm và đầu tư có hiệu quả cho hoạt động bảo hộ quyền SHCN mà
nhiều quốc gia, doanh nghiệp đã đạt được những thành tựu phát triển vượt bậc trong
việc thúc đẩy sáng tạo khoa học kỹ thuật, chuyển giao công nghệ và xây dựng các
thương hiệu nổi tiếng mang tầm quốc tế.
Với mục tiêu tạo lập môi trường pháp lý an toàn để thúc đẩy hoạt động nghiên
cứu sáng tạo, phát triển sản xuất kinh doanh, thu hút đầu tư trong và ngoài nước, tạo
nền tảng đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng
hiện đại như tinh thần nghị quyết của Đảng đặt ra, Nhà nước ta đã không ngừng hoàn
thiện hệ thống cơ chế, chính sách, pháp luật nói chung, trong đó có hệ thống cơ chế,
chính sách, pháp luật về bảo hộ quyền SHCN. Theo quy định của Luật SHTT Việt
Nam, đại đa số các đối tượng SHCN là được xác lập quyền và bảo hộ trên cơ sở
quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục
đăng ký. Với cơ chế mà Luật SHTT quy định, vấn đề đăng ký xác lập quyền SHCN
6
có vai trò rất quan trọng trong hoạt động bảo hộ quyền SHCN. Đăng ký xác lập
quyền SHCN không chỉ xác định địa vị và phạm vi bảo hộ của các đối tượng SHCN
mà nói còn là căn cứ cho các hoạt động thực thi quyền SHCN trên thực tế.
Hà Nội, năm 2006; cuốn “Những nội dung cơ bản của Luật sở hữu trí tuệ” của Vụ
Công tác lập pháp, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, năm 2006.
Về các đề tài nghiên cứu, các luận án, luận văn có các công trình sau:
“Những vấn đề lý luận và thực tiễn hoàn thiện khung pháp luật Việt Nam về bảo
hộ sở hữu trí tuệ trong xu thế hội nhập quốc tế và khu vực” (đề tài nghiên cứu
khoa học QG 01.10 do Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện); luận án
tiến sĩ “Bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam” của Nguyễn
Văn Luật, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2006; luận án tiến sĩ “Bảo hộ nhãn
hiệu nổi tiếng – Nghiên cứu so sánh giữa pháp luật Liên minh Châu Âu và Việt
Nam” của Phan Ngọc Tâm, Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, năm 2011; luận
án tiến sĩ “Bảo hộ quyền SHCN dưới góc độ thương mại đối với chỉ dẫn địa lý của
Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” của Lê Thị Thu Hà, Đại học
Ngoại thương, năm 2010; luận án tiến sĩ “Vấn đề thực thi quyền SHTT có yếu tố
nước ngoài của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”
của Nguyễn Vĩnh Diện, Đại học Luật Hà Nội, năm 2014. Luận văn thạc sĩ có:
“Quyền ưu tiên đối với việc đăng ký sở hữu công nghiệp tại Việt Nam” của Lê
Mai Thanh, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 1999; “Xác lập quyền sở
hữu công nghiệp theo quy định của pháp luật Việt Nam” của Trịnh Thu Hải, Khoa
Luật, Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2006; “Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với
các dấu hiệu dùng để phân biệt sản phẩm, dịch vụ theo quy định của pháp luật
Việt Nam” của Đoàn Thị Thuý Lan, Khoa Luật, Đại học Quốc Gia Hà Nội, năm
2006; “Bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu hàng hóa theo pháp luật Việt Nam
và pháp luật Hoa Kỳ”của Phạm Thị Nhị, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội,
năm 2006; “Thực thi quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp kiểm soát hàng hóa xuất
khẩu, nhập khẩu tại Cục hải quan tỉnh Lào Cai - Thực trạng và giải pháp” của Phí
Đình Mạnh, Đại học Luật Hà Nội, năm 2014…
Các bài viết có: “Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các qui định về xác lập
quyền sở hữu công nghiệp”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, chuyên đề về sở hữu trí
8
9
nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về đăng ký xác lập quyền sở hữu công
nghiệp, đồng thời chỉ ra các giải pháp để thúc đẩy và nâng cao hiệu quả của hoạt
động đăng ký xác lập quyền cho các đối tượng SHCN dùng trong hoạt động sản
xuất, kinh doanh.
3.2. Nhiệm vụ
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận liên quan về đăng ký xác lập quyền cho
các đối tượng SHCN trong hoạt động sản xuất và kinh doanh thương mại như: khái
niệm, đặc điểm, vai trò của đăng ký xác lập quyền SHCN; các quy định liên quan
của pháp luật về đăng ký xác lập quyền SHCN; các yếu tố tác động đến pháp luật về
đăng ký xác lập quyền SHCN;
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động đăng ký xác lập quyền SHCN đối
với các đối tượng SHCN trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các tổ chức, cá
nhân; trên cơ sở đó nêu những hạn chế và chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế
trong hoạt động đăng ký xác lập quyền đối với các đối tượng SHCN trong hoạt
động sản xuất kinh doanh làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp liên quan;
- Đề xuất phương hướng, giải pháp và các bảo đảm nhằm hoàn thiện các quy
định pháp luật về đăng ký xác lập quyền cho các đối tượng SHCN trong hoạt động
sản xuất kinh doanh, cũng như nâng cao hiệu quả của hoạt động đăng ký xác lập
quyền đối với các đối tượng SHCN dùng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Trên cơ sở mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu nêu trên, đối tượng nghiên cứu
của luận văn bao gồm:
- Thứ nhất, là các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về vấn đề đăng
ký xác lập quyền SHCN cho các đối tượng SHCN dùng trong hoạt động sản xuất
kinh doanh thương mại.
11
- Chương 3: Yêu cầu, định hướng, giải pháp thúc đẩy đăng ký xác lập quyền
quyền sở hữu công nghiệp ở Việt Nam.
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐĂNG KÝ XÁC LẬP
QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
1.1 Khái niệm và đặc điểm của quyền sở hữu công nghiệp
1.1.1 Khái niệm quyền sở hữu công nghiệp
Theo quan niệm truyền thống, quyền SHTT được phân chia thành hai lĩnh
vực đó là “Bản quyền tác giả” và “Quyền SHCN”. Điều 2, khoản 8 Công ước thành
lập tổ chức SHTT thế giới (WIPO) ký tại Stockholm ngày 14 tháng 7 năm 1967 đã
chỉ rõ: “Sở hữu trí tuệ sẽ bao gồm các quyền liên quan tới:
(1) Các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học;
(2) Chương trình biểu diễn của các nghệ sĩ biểu diễn, các bản ghi âm và
chương trình phát thanh, truyền hình;
(3) Sáng chế trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người;
(4) Các phát minh khoa học;
(5) Kiểu dáng công nghiệp;
(6) Nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ, các chỉ dẫn và tên thương mại;
(7) Bảo hộ chống cạnh tranh không lành mạnh…và tất cả những quyền khác
là kết quả của hoạt động trí tuệ trong lĩnh vực công nghiệp, khoa học, văn học hoặc
nghệ thuật”.
Trong đó, những đối tượng nêu ở mục (1) thuộc về nhóm bản quyền còn gọi
là quyền tác giả. Các đối tượng nêu ở mục (2) thuộc về nhóm quyền liên quan còn
gọi là quyền kế cận –tức quyền nảy sinh từ bản quyền, có liên quan trực tiếp đến
đối tượng quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi
hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá.
13
2. Đối tượng quyền sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, kiểu dáng công
nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên
thương mại, chỉ dẫn địa lý.
3. Đối tượng quyền đối với giống cây trồng là giống cây trồng và vật liệu
nhân giống”.
Với tư cách là một bộ phận của quyền SHTT, khái niệm quyền SHCN được
hình thành, phát triển cùng với quá trình áp dụng trí tưởng tượng và tri thức của con
người trong hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động đổi mới và sáng tạo. Ngày
nay, khái niệm này cũng được đề cập nhiều trong các sách báo và công trình khoa
học. Đồng thời, khái niệm này đã và đang được sử dụng một cách rộng rãi trong đời
sống xã hội.
Theo Từ điển bách khoa, khái niệm “quyền SHCN” được hiểu là “các quyền
của cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể khác do pháp luật quy định đối với sáng chế,
giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, tên gọi xuất xứ hàng
hoá hoặc các đối tượng khác. Các quyền đó phát sinh trên cơ sở đăng ký với cơ
quan nhà nước có thẩm quyền (Cục SHCN) theo trình tự và thủ tục do pháp luật
quy định. Chứng chỉ xác nhận quyền được gọi là văn bằng bảo hộ quyền SHCN có
giá trị hiệu lực trong một thời hạn nhất định. Người được cấp văn bằng bảo hộ được
coi là chủ sở hữu, tức là người nắm giữ quyền SHCN. Trong thời hạn hiệu lực của
văn bằng bảo hộ, người được cấp văn bằng đó được thực hiện một số quyền liên
quan đến đối tượng SHCN được bảo hộ, trong đó quan trọng nhất là quyền sử dụng,
khai thác đối tượng và quyền kiện người khác sử dụng đối tượng khi không được
phép của mình” [30, tr. 639].
Khái niệm mà Từ điển bách khoa đưa ra về cơ bản đã bao hàm hết các nội
đã quy định khá cụ thể về quyền SHCN. Theo đó, quyền SHCN được hiểu là
“quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí
mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh
do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh”.
Khái niệm này về cơ bản đã phù hợp với yêu cầu của hiệp định TRIPS và các điều
ước, thông lệ quốc tế.
15
Từ những quan niệm nêu trên về quyền SHCN và những đối tượng SHCN
được bảo hộ, chúng ta có thể hiểu như sau về quyền SHCN: Quyền SHCN là quyền
của các tổ chức, cá nhân đối với các đối tượng SHCN, bao gồm sáng chế, giải pháp
hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu,
tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu
và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh.
1.1.2. Đặc điểm của quyền sở hữu công nghiệp
Quyền SHCN là một loại quyền tài sản, nó có đầy đủ các đặc điểm của
quyền sở hữu tài sản nói chung, đó là chủ sở hữu có toàn quyền đối với tài sản của
mình và không ai được sử dụng tài sản đó nếu không được chủ sở hữu cho phép.
Bên cạnh những đăc điểm chung này, quyền sở hữu công nghiệp còn có một số đặc
điểm khác biệt sau:
Một là, đối tượng của quyền SHCN đều là các đối tượng có tính vô hình,
chúng bao gồm: sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, chỉ
dẫn địa lý, tên thương mại, bí mật kinh doanh và quyền chống cạnh tranh không
lành mạnh. Mặc dù các đối tượng này tồn tại dưới hình thức khác nhau nhưng
chúng đều có điểm chung là có tính vô hình. Do đó chúng ta không thể cầm nắm
các đối tượng này một cách trực tiếp như các loại tài sản hữu hình khác. Chẳng hạn,
một chiếc máy tính, nó có hình dạng vật chất cụ thể, chiếm một vị trí nhất định
trong không gian vật chất, nên chúng ta có thể sờ thấy và cầm nắm được nó một
đối với bất kỳ chiếc xe máy SH nào sau đó. Do tính độc quyền chi phối, nên người
được trao quyền SHCN được độc quyền khai thác, sử dụng đối tượng SHCN mà họ
đã bảo hộ, đồng thời họ còn có quyền ngăn cấm người khác làm giả, làm nhái hàng
hóa mang đối tượng SHCN mà họ đã bảo hộ.
Bốn là, quyền SHCN là quyền lợi mang tính lãnh thổ. Theo đó, quyền SHCN
đối với các đối tượng SHCN được bảo hộ chỉ giới hạn trong phạm vi lãnh thổ của
một quốc gia. Còn ngoài phạm vi lãnh thổ quốc gia đó, quyền SHCN đối với một
đối tượng SHCN nào đó lại không đương nhiên được pháp luật bảo hộ. Trong khi
đó, quyền sở hữu đối với các đối tượng tài sản thông thường (động sản) lại không bị
chi phối bởi yếu tố lãnh thổ. Vì vậy, những động sản này nếu được chiếm hữu hợp
pháp thì cho dù người chiếm hữu tài sản này mang nó đi đâu, kể cả là ngoài lãnh thổ
quốc gia, quyền sở hữu tài sản của họ vẫn được pháp luật nước sở tại bảo vệ.
17
Năm là, quyền sở hữu công nghiêp thường là quyền lợi mang tính thời hạn.
Trừ quyền SHCN đối với chỉ dẫn địa lý, quyền SHCN đối với các đối tượng khác
đều có thời hạn bảo hộ nhất định. Chẳng hạn, theo quy định của Điều 93 Luật
SHTT Việt Nam, thời hạn của quyền SHCN đối với sáng chế là 20 năm kể từ ngày
nộp đơn đăng ký bảo hộ; thời hạn của quyền SHCN đối với giải pháp hữu ích là 10
năm tính từ ngày nộp đơn; thời hạn của quyền SHCN đối với kiểu dáng công nghiệp
là 5 năm kể từ ngày nộp đơn và có thể gia hạn hai lần liên tiếp, mỗi lần là 5 năm;
thời hạn của quyền SHCN đối với nhãn hiệu là 10 năm kể từ ngày nộp đơn và có
thể gia hạn hiệu lực nhiều lần, mỗi lần là 10 năm…
Ngoài ra, quyền SHCN cũng có một số điểm khác biệt so với quyền tác giả,
quyền liên quan và quyền đối với giống cây trồng về phương diện đối tượng quyền,
nội dung quyền và thời hạn bảo hộ.
1.1.3. Pháp luật về quyền sở hữu công nghiệp
Luật SHTT được Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày
cạnh tranh không lành mạnh. Trong đó, các quy định về đăng ký xác lập quyền
SHCN chỉ là một bộ phận nhỏ điều chỉnh các quan hệ nhằm xác lập quyền đối với
các đối tượng SHCN trong sản xuất kinh doanh.
1.2. Khái niệm và đặc điểm của đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp
1.2.1 Khái niệm đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp
Căn cứ quy định khoản 3, Điều 6, Luật SHTT 2005, quyền SHCN đối với
các đối tượng SHCN được xác lập trên cơ sở sau:
“a) Quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết
kế bố trí, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng
bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định tại Luật
này hoặc công nhận đăng ký quốc tế theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; đối với nhãn hiệu nổi tiếng, quyền sở
hữu được xác lập trên cơ sở sử dụng, không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký;
b) Quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại được xác lập trên cơ sở
sử dụng hợp pháp tên thương mại đó;
19
c) Quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh được xác lập trên cơ
sở có được một cách hợp pháp bí mật kinh doanh và thực hiện việc bảo mật bí mật
kinh doanh đó;
d) Quyền chống cạnh tranh không lành mạnh được xác lập trên cơ sở hoạt
động cạnh tranh trong kinh doanh. ”
Theo các quy định nêu trên, việc xác lập quyền SHCN đó như thế nào là phụ
thuộc vào loại hình đối tượng SHCN cụ thể. Nhưng về phương diện xác lập quyền
có thể khẳng định, tùy theo đối tượng SHCN, việc xác lập quyền SHCN được thực
hiện theo một trong các cơ chế sau: một là xác lập quyền SHCNtrên cơ sở quyết
định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký; hai là,
xác lập quyền SHCN trên cơ sở hành vi có được và sử dụng hợp pháp các đối tượng
quyền SHCN sẽ xác định khuôn khổ, hành lang hợp pháp cho các chủ thể trong hoạt
động này, đồng thời đảm bảo trật tự, tính công bằng pháp luật giữa các chủ thể
trong quá trình đăng ký xác lập quyền SHCN.
Thứ hai, về phương diện chủ thể, ngoài các chủ thể cơ bản tham gia vào quá
trình đăng ký xác lập quyền SHCN như người nộp đơn đăng ký xác lập quyền
SHCN và cơ quan xét nghiệm đối tượng xin đăng ký xác lập quyền SHCN, tùy theo
từng giai đoạn hoặc từng trường hợp nhất định, để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của
mình có liên quan đến đối tượng SHCN xin đăng ký hoặc nhằm đảm bảo tính pháp
chế trong quá trình thực hiện hoạt động đăng ký xác lập quyền SHCN, chủ thể tham
gia vào hoạt động đăng ký xác lập quyền SHCN còn có thể là tổ chức, cá nhân có
quyền lợi liên quan hoặc tổ chức, cá nhân bất kỳ có quyền giám sát hoạt động của
các cơ quan nhà nước. Nhưng để đảm bảo tính bình thường của hoạt động đăng ký
xác lập quyền SHCN, các chủ thể không cơ bản này chỉ được tham gia trong những
trường hợp cần thiết có liên quan, đồng thời họ phải đưa ra được lý do và chứng cứ
xác đáng cho việc tham gia của mình vào hoạt động đăng ký xác lập quyền SHCN.
Thứ ba, không phải tất cả các đối tượng quyền SHCN đều xác lập quyền theo
cơ chế nộp đơn đăng ký. Căn cứ theo quy định của Luật SHTT và cũng là thông lệ
21
chung của quốc tế, các đối tượng được xác lập quyền SHCN theo có chế đăng ký
bao gồm:
1) Sáng chế;
2) Giải pháp hữu ích;
3) Kiểu dáng công nghiệp;
4) Thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn;
5) Nhãn hiệu;
6) Chỉ dẫn địa lý.
Chính vì vậy, quyền SHCN đối với các loại tài sản trí tuệ nêu trên chỉ được
toàn và hiệu quả đối với các thành quả sáng tạo, thành quả đầu tư của mình được
kết tinh dưới dạng tài sản trí tuệ. Thông qua cơ chế đăng ký xác lập quyền SHCN,
nhà nước không chỉ công nhận quyền SHCN cho các chủ thể, mà trong trường hợp
các quyền SHCN này bị người khác xâm phạm hoặc sử dụng trái phép, nhà nước
còn đứng ra bảo vệ các quyền lợi hợp pháp này. Hơn nữa, với cơ chế đăng ký và
trao quyền SHCN, khi xảy ra tranh chấp hoặc xâm phạm quyền SHCN, các chủ thể
này sẽ nắm trong tay một bằng chứng xác đáng, có tính thuyết phục, có lợi cho việc
chứng minh quyền lợi hợp pháp của mình. Khi đó, người nắm giữ trong tay văn
bằng hoặc giấy chứng nhận đăng ký bảo hộ quyền SHCN sẽ không phải mất nhiều
thời gian, công sức và tiền của cho việc chứng minh quyền lợi của mình. Đây chính
là lợi thế của cơ chế đăng ký xác lập quyền SHCN so với cơ chế tự động xác lập
quyền SHCN.
b) Đăng ký xác lập quyền SHCN còn góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng
của người tiêu dùng
Đăng ký xác lập quyền SHCN không chỉ là biện pháp để bảo vệ quyền lợi
chính đáng của người sản xuất kinh doanh, mà còn là cơ sở để đấu tranh đối với các
hành vi xâm phạm quyền SHCN, góp phần làm hạn chế nạn hàng giả, hàng nhái
trên thị trường. Do vậy một hệ thống đăng ký xác lập quyền SHCN tối ưu, cùng với
một cơ chế thực thi quyền SHCN hiệu quả sẽ mang lại tác động tích cực đối với
23
việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người tiêu dùng; là cơ sở đảm bảo cho
người tiêu dùng có cơ hội được sử dụng những sản phẩm, dịch vụ tốt về chất lượng
do được áp dụng những thành quả sáng tạo trong quá trình sản xuất, đúng về nguồn
gốc xuất xứ do việc sử dụng các dấu hiệu nhận diện đã được bảo hộ. Do vậy, người
tiêu dùng sẽ không phải mất nhiều thời gian, công sức và chi phí cho việc lựa chọn
sản phẩm, dịch vụ mà họ mong muốn sử dụng. Mặt khác, cơ chế bảo hộ quyền
SHCN còn tạo môi trường thuận lợi khuyến khích việc sáng tạo ra các sản phẩm
Để tạo ra một công nghệ mới, một sản phẩm mới với năng xuất, chất lượng
cao hơn, kiểu dáng hấp dẫn hơn hay để gây dựng được một nhãn hiệu có uy tín,
được người tiêu dùng ưa chuộng, các chủ thể đã phải đầu tư rất nhiều thời gian,
công sức và tiền của mới có được. Cho nên, những chi phí mà họ đã bỏ ra cần được
tính đến và bù đắp. Giải quyết vấn đề lợi ích này, nhà nước mới cho phép chủ sở
hữu đối tượng SHCN được độc quyền khai thác, sử dụng chúng trong một thời hạn
nhất định. Đây chính là một biện pháp hữu hiệu nhằm bù đắp chi phí cho người
sáng tạo, tạo ra sự khích lệ quan trọng cho các hoạt động nghiên cứu, sáng tạo trong
toàn xã hội. Bên cạnh đó, việc đăng ký xác lập quyền SHCN còn tạo ra bầu không
khí có lợi cho các hoạt động chuyển giao công nghệ trong và ngoài nước bằng sự an
toàn mà hệ thống này đem lại. Bởi vì, một khi quyền sở hữu đối với các đối tượng
SHCN được công nhận và bảo hộ trên thực tế sẽ buộc các chủ thể khác có nhu cầu
sử dụng các đối tượng SHCN này phải thông qua hoạt động chuyển giao quyền
SHCN mới được quyền khai thác, sử dụng chúng. Ngược lại, nếu thiếu đi cơ chế
xác lập và bảo hộ quyền SHCN sẽ làm triệt tiêu các hoạt động đầu tư, nghiên cứu và
sáng tạo. Lúc đó, thay vì các hoạt động chuyển giao người ta sẽ tiến hành sử dụng
trái phép các đối tượng SHCN dưới dạng công nghệ của người khác để khỏi phải
tốn kém kinh phí đầu tư.
1.3. Các yếu tố tác động đến hoạt động đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp
1.3.1. Sự phát triển kinh tế- xã hội
Trước hết phải khẳng định, kinh tế là yếu tố thuộc về cơ sở hạ tầng của xã
hội. Sự phát triển kinh tế xã hội không chỉ có tác động trực tiếp tới nhu cầu điều
chỉnh pháp luật về lĩnh vực SHCN, mà còn có ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động
đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp. Ảnh hưởng của sự phát triển kinh tế xã
25