LUẬN văn LUẬT tư PHÁP bảo hộ QUYỀN sở hữu CÔNG NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM - Pdf 48

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
---  ---

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA 2005 – 2009
Đề tài

BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Cán bộ hướng dẫn:

Sinh viên thực hiện:

NGUYỄN PHAN KHÔI

PHẠM HẢI DUY
MSSV: 5054716
Lớp: Luật Tư pháp 2-K31

Cần Thơ, tháng 12/2008


Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp theo pháp luật Việt Nam

 NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN 

Trung

.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................

CBHD: NGUYỄN PHAN KHÔI

SVTH: PHẠM HẢI DUY


Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp theo pháp luật Việt Nam

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN


Trung

.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ
1.1 Lịch sử sở hữu trí tuệ……………………………………………………..3

Trung tâm
Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
1.2 Quyền sở hữu công nghiệp ……………………………………………...4
1.2.1 Luật quốc tế…………………………………………………………….5
1.2.2 Luật Việt Nam………………………………………………………….5
1.2.3 Đối tượng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp …………………………6
1.3 Ý nghĩa của việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp……………………..7
1.3.1 Ý nghĩa về kinh tế ……………………………………………………..7
1.3.1.1 Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp “chìa khóa của sự phát triển”……8
1.3.1.2 Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp và đầu tư ………………………...8
1.3.2 Ý nghĩa về xã hội………………………………………………………..9
CHƯƠNG 2
BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP TẠI VIỆT NAM
2.1 Giai đoạn trước năm 2005……………….……………………………….11
CBHD: NGUYỄN PHAN KHÔI

SVTH: PHẠM HẢI DUY


Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp theo pháp luật Việt Nam
2.1.1 Hệ thống văn bản pháp luật…………………………………………….11
2.1.2 Những hạn chế………………………………………………………….12
2.2 Giai đoạn sau năm 2005……………….……………………………….....13
2.3 Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp theo pháp luật Việt Nam……………..14
2.4 Đối tượng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp theo pháp luật Việt Nam.... 15
2.4.1 Sáng chế……………………………………………………………….. 15

2.4.2.1.2 Tính sáng tạo của kiểu dáng công nghiệp…………………………..25
2.4.2.1.3 Khả năng áp dụng công nghiệp……………………………………..25

CBHD: NGUYỄN PHAN KHÔI

SVTH: PHẠM HẢI DUY


Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp theo pháp luật Việt Nam
2.4.2.2 Quy trình cấp Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp……................25
2.4.2.2.1 Xét nghiệm hình thức………………………………………………25
2.4.2.2.2 Xét nghiệm nội dung……………………………………………….27
2.4.3 Thiết kế bố trí…………………………………………………………..29
2.4.3.1 Đối tượng bảo hộ……………………………………………………..29
2.4.3.2 Điều kiện bảo hộ ……………………………………………………..30
2.4.3.3 Quy trình cấp Giấy chứng nhận đăng ký thiết kế bố trí ……………...30
2.4.3.3.1 Xét nghiệm hình thức……………………………………………….30
2.4.3.3.2 Cấp, đăng bạ, công bố quyết định cấp Giấy chứng nhận đăng ký
thiết kế bố trí………………………………………………………………….31
2.4.4 Nhãn hiệu hàng hoá ………………………………………….................32
Đối tượng
bảo hộ……………………………………………………...32
2.4.4.1
Trung tâm
Học
liệu ĐH
Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
2.4.4.1.1 Nhãn hiệu tập thể …………………………………………………..32
2.4.4.1.2 Nhãn hiệu chứng nhận ……………………………………………..33
2.4.4.1.3 Nhãn hiệu nổi tiếng…………………………………………………33

3.1 Về các quy định của pháp luật……………………………………………47
3.1.1 Thủ tục tố tụng dân sự về thực thi quyền sở hữu trí tuệ………..............47
3.1.1.1 Vấn đề khởi kiện……………………………………………………...47
3.1.1.2 Vấn đề bồi thường…………………………………………………….47
3.1.1.2.1 Xác định thiệt hại theo pháp luật quốc tế…………………………...47
3.1.1.2.2 Theo pháp luật Việt Nam …………………………………………..48
3.1.1.3 Nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự…………………………...48
3.1.1.4 Những biện pháp hỗ trợ………………………………………………49

CBHD: NGUYỄN PHAN KHÔI

SVTH: PHẠM HẢI DUY


Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp theo pháp luật Việt Nam
3.1.2 Xử lí vi phạm hành chính………………………………………………49
3.1.2.1 Hình phạt chính……………………………………………………….50
3.1.2.2 Hình phạt phụ…………………………………………………………50
3.1.2.3 Những vấn đề liên quan khi xử phạt hành chính……………………...51
3.1.3 Truy cứu trách nhiệm hình sự………………………………..…………53
3.1.4 Thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại biên giới……………………………...53
3.2 Thực tế của việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp…………………….. 55
3.2.1 Hiện trạng chung của việc bảo hộ tại Việt Nam………………………..55
3.2.2 Thực tế bảo hộ tại Việt Nam……………………………………………55
3.2.3 Những hạn chế………………………………………………………….56
3.2.4 Phương hướng hoàn thiện……………………………………………....57
về các
quy Thơ
định của
3.2.4.1

quyền sở hữu công nghiệp ngày càng có dấu hiệu gia tăng. Nhìn chung, bức
tranh toàn cảnh của hoạt động thực thi và bảo đảm thực thi quyền sở hữu công
nghiệp vẫn còn nhiều điểm tối. Những người có quyền hưởng quyền sở hữu
công nghiệp chỉ tạo ra tác phẩm nhưng chưa quan tâm thực sự đến việc bảo vệ
quyền của mình thông qua cách đăng ký bảo hộ tại cơ quan nhà nước có thẩm
quyền. Các thiết chế hỗ trợ thực thi quyền sở hữu công nghiệp chưa thật sự
vào cuộc. Nhiều tổ chức, hiệp hội chưa nhận thức được sự cần thiết phải đứng
ra bảo vệ quyền lợi của các thành viên, ý thức chấp hành pháp luật của phần
lớn nhân dân trong xã hội chưa cao. Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
chưa quan tâm đúng mức đến việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Việc xử lý các
hành vi vi phạm của các cơ quan, tổ chức chưa được thực hiện một cách
nghiêm túc. Cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chưa đồng bộ, thiếu kinh
nghiệm và chưa đủ mạnh mẽ về chuyên môn cũng như các phương tiện cần
thiết để có khả năng xử lý các vi phạm một cách hữu hiệu. Vai trò các cơ quan
thực thi pháp luật chưa được phát huy một cách có hiệu quả. Việc xét xử các
tranh chấp về quyền sở hữu công nghiệp tại Toà án chiếm tỷ lệ khiêm tốn so
với các tranh chấp xảy ra trong thực tế. Những tồn tại trên có nguyên nhân
là do:
chế bảo
đảmThơ
thực thi
thiện,
chưa
đápvà
ứngnghiên
được yêu cứu
tâmchính
Học
liệucơĐH
Cần


2

Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp theo pháp luật Việt Nam
3. Phương pháp nghiên cứu :
Phương pháp nghiên cứu là nền tảng cơ bản để xây dựng đề tài với nội
dung và hình thức một cách logic và khoa học, để giải quyết các vấn đề mà đề
tài đặt ra. Nghiên cứu trên cơ sở phân tích luật viết, sử dụng phương pháp đối
chiếu, so sánh, tham khảo các tài liệu từ sách báo, tạp chí…
4. Kết cấu đề tài :
Chương 1 Tổng quan về sở hữu trí tuệ
Chương 2 Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp tại Việt Nam
Chương 3 Thực trạng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp và phương hướng
hoàn thiện

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

CBHD: NGUYỄN PHAN KHÔI

SVTH: PHẠM HẢI DUY


3

Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp theo pháp luật Việt Nam

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ
1.1 Lịch sử sở hữu trí tuệ
“Trí tưởng tượng quan trọng hơn là tri thức”, có lẽ khi phát biểu câu nói

có mộtThơ
hệ thống
luật về cứu
độc quyền năm 1642 là luật thành văn đầu tiên đã quy định việc cấp độc quyền
cho một sáng chế trong một khoảng thời gian có giới hạn.
Nửa sau thế kỷ XVIII, là thời kì hoàng kim của thương mại và công
nghiệp đối với nhiều nước và cũng là thời của sáng tạo nghệ thuật, đổi mới
khoa học và cách mạng chính trị. Chính trong thời Khai sáng này, một số nước
đã thiết lập hệ thống bằng độc quyền sáng chế đầu tiên của họ. Vd: luật về
bằng độc quyền sáng chế đầu tiên của Pháp, quy định về bảo hộ quyền của
người sáng chế đã được ban hành năm 1791, sau cách mạng Pháp và Tuyên
ngôn về quyền con người và quyền công dân. Ở Hoa Kỳ, năm 1788 Hiến pháp
đã quy định rõ về bằng độc quyền sáng chế. Trong trường hợp quyền tác giả,
chính sự lan rộng của máy in đã kích thích nhu cầu đối với quyền tác giả.
Trong thiên niên kỷ đầu tiên, nhân bản sách là một câu chuyện buồn chán và
chậm chạp. Những người viết sách đã viết sách và sao chép bằng tay. Tác
phẩm viết chỉ dành cho những tầng lớp quan trọng trong xã hội. Tôn giáo có tổ
chức là lực lượng chính thúc đẩy sự bảo tồn tri thức thông qua sách cũng như
làm tăng số lượng bản sao sách. Sáng chế về con chữ rời và máy in của
Johannes Gutenberg vào khoảng năm 1440 là một trong những sự kiện lịch sử
đã góp phần cho ra đời luật quyền tác giả đầu tiên trên thế giới. Giống như
trong bảo hộ sáng chế, cũng chính Venice đã cấp cho Jonh of Speyer, nhà in
đầu tiên, độc quyền “in chữ” vào năm 1469.

CBHD: NGUYỄN PHAN KHÔI

SVTH: PHẠM HẢI DUY


4

liệu
ĐHmại
Cần
học
và nghiên
định
thương
Việt Thơ
Nam –@
HoaTài
Kỳ liệu
đã được
ký tập
kết trong
đó có một cứu
chương về sở hữu trí tuệ; năm 2004 tham gia Công ước Berne về bảo hộ các
tác phẩm văn học và nghệ thuật; năm 2005 tham gia Công ước Geneva về bảo
hộ nhà sản xuất bản ghi âm chống việc sao chép không được bán bản ghi âm
của họ; và và mới đây nhất, ngày 12 tháng 01 năm 2006, Công ước Brussels
liên quan đến việc phân phối tín hiệu mang chương trình truyền hình qua vệ
tinh đã có hiệu lực tại Viêt Nam. (Vụ công tác lập pháp- Những nội dung cơ
bản của luật sở hữu trí tuệ- Nxb Tư pháp- Hà nội-2006).
Hiện nay sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra với tốc độ ngày càng tăng đã đặt vấn đề
bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trước nhiều thách thức. Các tiêu chuẩn mà Hiệp
định TRIPS của tổ chức thương mại thế giới (WTO) cũng như các cam kết
trong Hiệp định song phương về sở hữu trí tuệ mà Việt Nam ký kết đòi hỏi
hoạt đông sở hữu trí tuệ tiếp tục được đẩy mạnh theo hướng khuyến khích
toàn xã hội phát huy tài năng, trí tuệ, chất xám, sáng tạo công nghệ mới trên
mọi lĩnh vực trên cơ sở pháp luật Việt Nam và quốc tế về bảo hộ quyền sở hữu

- Hiệp định thương mại về Quyền Sở hữu trí tuệ (TRIPS) trong hệ
thống các hiệp định của WTO;
- Công ước thành lập Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) bắt đầu
có hiệu lực từ năm 1970.

Trung tâm1.2.2
Học
liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Luật Việt Nam
Ở nước ta, việc bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp bắt đầu được
thực hiện kể từ khi Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ra Nghị định số
31/HĐBT ngày 23 tháng 01 năm 1981 ban hành điều lệ về sáng kiến cải tiến
kỹ thuật, kợp lý hoá sản xuất và sáng chế. Theo văn bản này mọi nỗ lực sáng
tạo kỹ thật và hợp lý hoá sản xuất mang lại lợi ích thiết thực cho Nhà nước và
xã hội đều được đền đáp về mặt vật chất và tinh thần. Pháp luật công nhận và
bảo hộ quyền về tinh thần và vật chất của tác giả sáng chế, sáng kiến. Vấn đề
bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp ngày càng được Đảng và Nhà nước quan
tâm, điều đó thể hiện ở vịệc pháp luật về sở hữu công nghiệp ngày càng được
hoàn thiện bằng việc Hội đồng Bộ trưởng ban hành một loạt các nghị định về
bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá vào năm 1982, về kiểu dáng công nghiệp năm
1988, về bảo hộ giải pháp hữu ích năm 1988 và về li-xăng sở hữu công nghiệp
năm 1988; Hội đồng nhà nước ban hành pháp lệnh bảo hộ quyền sở hữu công
nghiệp năm 1989; Quốc hội thông qua Bộ luật dân sự năm 1995 và mới đây,
năm 2005, Bộ luật dân sự đã được sửa đổi bổ sung một cách toàn diện.
Bên cạnh đó, với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và
quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng nền kinh tế của thế giới, vai trò của việc
bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp ngày càng quan trọng và đóng vai trò cấp
thiết trong thời đại hiện tại, với việc tham gia những điều ước quốc tế quan
trọng về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp nói riêng như Công ước Paris về
bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp vào năm 1976, Thoả ước Madrid về đăng ký


- Thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn: là cấu trúc không gian của các
tử mạch
mốiCần
liên kếtThơ
các phần
đó trong
bánnghiên
dẫn.
tâmphần
Học
liệuvàĐH
@ tửTài
liệumạch
họctích
tậphợpvà
cứu
Theo quy định tại Điều 2 Hiệp ước IPIC (Hiệp ước về sở hữu trí tuệ
liên quan tới mạch tích hợp năm 1989) đã định nghĩa như sau:
- Mạch tích hợp là một sản phẩm, dưới dạng thành phẩm hay bán thành
phẩm, đó là các phần tử - với ít nhất một phần tử tích cực và một số hoặc tất cả
các mối liên kết được gắn liền bên trong hoặc bên trên tấm vật liệu bán dẫn và
nhằm thực hiện chức năng điện tử.
- Thiết kế bố trí là cấu trúc không gian ba chiều của các phần tử- với ích
nhất một phần tử tích cực và một số hoặc tất cả các mối liên kết được gắn liền
bên trong một mạch tích hợp, hay là một cấu trúc không gian ba chiều của một
mạch tích hợp dùng cho sản xuất…
Như vậy, so với quy định quốc tế, quy định của nước ta không có mấy
sự khác biệt, về cơ bản những yếu tố cấu thành nên mạch tích hợp và thiết kế
bố trí đều được cụ thể hoá, phù hợp với thực tiễn và áp dụng pháp luật của

về sở hữu trí tuệ, việc xây dựng Luật sở hữu trí tuệ nói chung và các quy định
về quyền sở hữu công nghiệp nói riêng phù hợp với thông lệ quốc tế trên cơ sở
tham khảo, nghiên cứu những kinh nghiệm thực tiễn của các nước và thực tiên
của nước ta, đạt được mục tiêu minh bạch, khả thi và đầy đủ. Tạo nền tảng
pháp lý vững chắc cho tiến trình hội nhập kinh tế thế giới của đất nước nhưng
vẫn đảm bảo được lợi ích quốc gia, ngay cả khi chúng ta phải thoả mãn những
chuẫn mực trong các điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ.
Ý nghĩa
việcCần
bảo hộThơ
quyền@
sở Tài
hữu công
Trung tâm1.3Học
liệucủaĐH
liệunghiệp
học tập và nghiên cứu
Tài sản thuộc sở hữu trí tuệ nói chung và sở hữu công nghiệp nói riêng
đang thành công trong vai trò thước đo khả năng tồn tại và hoạt động trong
tương lai của doanh nghiệp. Năm 1982, khoảng 62% tài sản doanh nghiệp ở
Hoa Kỳ là tài sản vật chất, nhưng đến năm 2000, con số này đã giảm xuống
còn 30%. Vào đầu những năm 1990 tài sản sở hữu trí tuệ chiếm trên 1/3 trong
tổng số tài sản của doanh nghiệp. (Kamil Idris - Sở hữu trí tuệ một công cụ
đắc lực để phát triển kinh tế - Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới, trang 54).
Dưới góc độ chủ thể quyền, việc bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp sẽ
bảo đảm việc xử lý, ngăn chặn và ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền; dưới
góc độ xã hội, bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp có tác dụng kích thích, thúc
đẩy hoạt động nghiên cứu, sáng tạo, tạo môi trường đầu tư, kinh doanh an toàn
và lành mạnh; dưới góc độ quốc tế, bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp luôn là
mối quan tâm to lớn không chỉ ở từng quốc gia mà ở cả bình diện quốc tế.

người tiêu dùng quyết định về sự lựa chọn của họ đối với sản phẩm trên thị
trường; (2) khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào việc phát triển, cung cấp
hàng hoá và dịch vụ với chất lượng mà người tiêu dùng mong muốn. Một nhãn
hiệu đích thực sẽ mang hai yếu tố đó, nhưng với nhãn hiệu bị làm giả thì hai
chức năng trên không tồn tại, và khi đó nó sẽ gây ra những thiệt hại cho chủ
thể của nhãn hiệu đó.

Trung

Ngoài ra, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp được xem như một công cụ
của chính sách công nghiệp có mạng lưới rộng khắp trong nền kinh tế. Trong
của ĐH
nước Cần
ta hiênThơ
nay, có
yếuliệu
tố xác
địnhtập
môi và
trường
có khả cứu
cảnh
tâmhoàn
Học
liệu
@haiTài
học
nghiên
năng tiếp nhận công nghệ. Một mặt nước ta phải nhận ra rằng, để hoà nhập với
xu thế toàn cầu hoá, hướng tới thương mại tự do hơn và để khuyến khích đầu

Đầu tư vào FDI là công việc khá tốn kém, các nhà đầu tư sẽ hoạt động
dưới mức cho các hoạt động như vậy nếu không được đảm bảo rằng không thể
thu hoạch những phần lợi nhuận sẽ phát sinh ở mức cao nhất, có thể lập luận
rằng sở hữu công nghiệp đóng vai trò là một chất xúc tác trong kích thích vốn
FDI. Hơn nữa, việc đảm bảo việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp còn góp
phần tích cực cho những nỗ lực thu hút vốn đầu tư, gia tăng ngoại thương,
cung cấp các điều kiện cho việc chuyển giao công nghệ. (Kamil Idris - Sở hữu
trí tuệ một công cụ đắc lực để phát triển kinh tế - Tổ chức sở hữu trí tuệ thế
giới, trang 37.39).

Trung

Ở nước ta hiên nay, vấn đề làm giả và chiếm đoạt quyền sở hữu công
nghiệp đã gây ra những tổn thất ở nhiều mức độ, cả tổn thất hữu hình và tổn
thất vô hình. Khi các nhà đầu tư có những bằng chứng đáng tin cậy cho thấy
rằng hàng giả, hàng chiếm đoạt được sản xuất mà pháp luật lại không có quy
định chế tài để ngăn chặn việc sản xuất như vậy thì tiếng xấu do nó tạo ra làm
nản lòng các nhà sản xuất hợp pháp trong việc thành lập các cơ sở của họ ở
nước ta. Những quyết định như vậy dẫn đến việc mất FDI, cũng như mất khả
năng được chuyển giao những công nghệ tiên tiến và những bí quyết công
nghệ tương ứng thường gắn với đầu tư FDI. Chu trình này sẽ tiếp diễn theo
những cách không chỉ gây thiệt hại cho nhà sản xuất nước ngoài mà cho cả
công nghiệp tại chổ của nước ta. Giới sáng tạo và sáng chế trong nước, những
sự tậpĐH
trungCần
nỗ lựcThơ
và các@
nguồn
của học
họ vàotập


SVTH: PHẠM HẢI DUY


10

Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp theo pháp luật Việt Nam
trí tuệ một công cụ đắc lực để phát triển kinh tế - Tổ chức sở hữu trí tuệ thế
giới, trang 311).
Trong khi thuốc giả có nhiều vấn đề hơn ở các nước đang phát triển, tất
cả chúng ta đều cảm nhận được hậu quả của nó, xi-rô paracetamol giả đã cướp
đi sinh mạng của 109 trẻ em ở Nigeria. Tại Hoa Kỳ, Cơ quan quản lý thực
phẩm và dược phẩm đã thu hồi lượng bơm tiêm động mạch chủ trị giá 7 triệu
USD, sau khi cơ quan này phát hiện ra các bộ phận giả trục trặc trong loại
bơm tiêm đó. Một phiên bản giả thuốc kháng sinh loại kháng sinh Ceclor đã là
cho trẻ em ở 7 bang của Hoa kỳ phải chịu đau đớn vì bị nhiểm trùng tai và có
khả năng chịu tổn thương tai vĩnh viễn ….
Tôi xin lấy một ví dụ minh họa về hậu quả của việc xâm phậm quyền
sở hữu công nghiệp “Vừa bước vào dãy những gian hàng đầu tiên của Hội
chợ triển lãm công nghệ phòng chống hàng giả, hàng nhái và bảo vệ nhãn hiệu
uy tín chất lượng, bà An (quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh) đã thốt lên: Vậy
là từ trước tới nay, chắc có lẽ tôi dùng, tôi ăn toàn đồ giả!.
Câu nói của bà An khiến những người xung quanh cũng lộ vẻ âu lo.
Bởi lẽ, mọi người đều đang "thực mục sở thị" trên 200 gian hàng tại hội chợ,
với hàng ngàn chủng loại... hàng giả. Từ sản phẩm thuộc hàng công nghiệp
nặng, đến cây kim sợi chỉ, giống "y chang" hàng thật. Bất cứ thứ gì trên thị
trường có, ở đây đều có.”

Trung


2.1 Giai đoạn trước năm 2005
Từ những năm đầu thập kỷ 80 thế kỷ XX, Nhà nước ta đã tiến hành xây
dựng hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ. Những văn bản này đã góp phần
quan trọng trong việc phát huy quyền tự do sáng tạo của mổi cá nhân, bảo hộ
nền sản xuất trong nước và từng bước thu hút sự quan tâm, chú ý của các nhà
đầu tư nước ngoài. Vào giữa những năm 80 thế kỷ XX đến nay, Việt Nam
bước sang thời kỳ đổi mới kinh tế - xã hội, phát huy sức mạnh nội lực và phát
triển hợp tác quốc tế nhằm mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Chính sách mở cửa và phát triển kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đã thúc
đẩy sự phát triển mạnh mẻ của khoa học, công nghệ và đã biến những thành
tựu trong lĩnh vực này thành một yếu tố của sản xuất, thương mại. Điều này
cũng dẫn đến đòi hỏi phải bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của những nhà
sáng chế, phát minh, các tác giả của công trình văn học, nghệ thuật khỏi những
sự xâm phạm.
2.1.1 Hệ thống văn bản pháp luật

Trung

Nhà nước ta đã ban hành các văn bản pháp luật nhằm bảo hộ các quyền
và lợi ích hợp pháp của các chủ thể sáng tạo. Bên cạnh khuyến khích những nỗ
tâmlực,
Học
Cần
Thơvào@hoạt
Tài
liệu
họccứu
tập
vàhọc,
nghiên

SVTH: PHẠM HẢI DUY


12

Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp theo pháp luật Việt Nam
Điều 60 Hiến pháp chỉ rõ: “công dân có quyền nghiên cứu khoa học, kỹ
thuật, phát minh, sáng chế, sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa kỹ thuật,
sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật và tham gia các hoạt động văn hóa
khác. Nhà nước bảo hộ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp”.
Để cụ thể hóa các quy định trên, cũng như nhằm tạo hành lang pháp lý
rõ ràng cho các chủ thể tham gia quá trình sáng tạo, tham gia hoạt động ứng
dụng và khai thác các thành quả nghiên cứu vào phát triển kinh tế - xã hội,
hàng loạt các văn bản pháp luật đã được ban hành để điều chỉnh các quan hệ
sở hữu trí tuệ, tạo nên một lĩnh vực pháp luật tương đối riêng biệt. Những quy
định về quyền sở hữu trí tuệ được quy định tại các Điều 788 đến 793 Bộ luật
dân sự 1995 xác lập quyền sở hữu công nghiệp, kèm theo đó là Nghị định
số12/1999/NĐ-CP ngày 06-3-1999 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp; Thông tư số 825/2000/TTBKHCNMT ngày 03-5-2000 của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường
hướng dẫn thi hành Nghị định số 12/1999/NĐ-CP ngày 6-3-1999 của Chính
phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, Luật
thương mại năm 1997 (tại các Điều 135,136 về chuyển giao công nghệ trong
gia công hàng hóa với thương nhân nước ngoài và trách nhiệm về quyền sở
hữu công nghiệp đối với hàng hóa gia công) hướng dẫn chi tiết để cụ thể hóa
những quy định này.
2.1.2 Những hạn chế
Tuy nhiên, có thể nhận thấy các văn bản này chỉ có giá trị dưới luật.

Trung tâmViệc
Học

và chủ yếu tập trung trong các văn bản dưới luật – cấp nghị định, thông tư,
quyết định. Các quy định này chưa tạo được mối liên hệ tương tác thích hợp
trong việc tham gia điều chỉnh các quan hệ có liên quan trong lĩnh vực kinh tế,
thương mại.

CBHD: NGUYỄN PHAN KHÔI

SVTH: PHẠM HẢI DUY


13

Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp theo pháp luật Việt Nam
Tuy nhiên, ở phương diện khách quan, có thể nói nguyên nhân lớn
nhất, bao hàm nhất là sự thiếu rõ ràng trong việc xác định vị trí của pháp luật
sở hữu trí tuệ trong hệ thống pháp luật thực định. Nói cách khác, mối quan hệ
giữa pháp luật về sở hữu trí tuệ và các lĩnh vực pháp luật khác chưa được làm
rõ, vai trò và tầm quan trọng của tài sản trí tuệ, cũng như pháp luật sở hữu trí
tuệ chưa được quan tâm đúng mức. Bởi vậy, việc xác định đúng vị trí của
pháp luật sở hữu trí tuệ trong hệ thống pháp luật mang tính tiền đề cho việc
hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ.
2.2 Giai đoạn sau 2005
Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiên đại hoá đất nước với những cơ hội và
thách thức đòi hỏi nhà nước ta phải có cơ chế chính sách thúc đẩy hoạt động
sáng tạo, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các hoạt động nghiên cứu
khoa học, phát triển công nghệ. Một trong những nội dung cơ bản của cơ chế
bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là phải ghi nhận một cách tuyệt đối và bảo vệ một
cách chặt chẽ nhất nhằm bảo vệ các chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp.
Đối với nước ta việc duy trì và xây dựng một hành lang pháp hoàn chỉnh và
phù hợp với thông lệ quốc tế là việc làm cấp thiết, để đáp ứng được hai chuẩn

các nghị định như:
- Nghị định l03/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 hướng dẫn thi hành một
số điều của Luật sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp, bao gồm việc xác lập
quyền sở hữu công nghiệp (đăng ký), quy định chi tiết về chủ thể, nội dung,
giới hạn, chuyển giao quyền, về hoạt động đại điện sở hữu công nghiệp và về
các biện pháp thúc đẩy hoạt động sở hữu công nghiệp;
- Nghị định l05-2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 hướng dẫn thi hành một
số điều của Luật sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, bao gồm việc
xác định hành vi, tính chất và mức độ xâm phạm đối với từng đối tượng sở
hữu trí tuệ , cách xác định thiệt hại, thủ tục yêu cầu và giải quyết yêu cầu xử lý
xâm phạm, quy định về xử lý xâm phạm bằng biện pháp hành chính, kiểm soát
hàng hoá xuất và nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ, về giám định sở hữu
trí tuệ, đồng thời quy định chi tiết về quản lý Nhà nước trong lĩnh vực sở hữu
trí tuệ;

CBHD: NGUYỄN PHAN KHÔI

SVTH: PHẠM HẢI DUY


14

Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp theo pháp luật Việt Nam
- Nghị định l06/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 quy định về xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp,…. Đã làm hoàn thiện hệ
thống pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp của nước ta, phù hợp với
những điều ước và thông lệ quốc tế mà ta tham gia kí kết.
Như vậy với việc ban hành những quy định chi tết cụ thể, được điều
chỉnh bởi một luật chuyên ngành đã xác định đúng vị trí và vai trò của việc
bảo hộ các sáng tạo của con người, tạo điều kiện tốt nhất về mặt pháp lý để

bảo hộ là cứu
các đối
tượng
đó.Cần
NgườiThơ
chủ sở hữu và được hưởng quyền đối với đối tượng sở hữu công nghiệp trong
phạm vi bảo hộ ghi trong văn bằng bảo hộ và trong thời hạn hiệu lực của văn
bằng bảo hộ. Khi xảy ra tranh chấp, chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp
có quyền sử dụng văn bằng bảo hộ làm căn cứ chứng minh quyền của mình
mà không cần chứng cứ nào khác.
Quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý được xác lập trên cơ
sở quyết định của Cục sở hữu trí tuệ về việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký chỉ
dẫn địa lý cho tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý.
Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu đăng ký quốc tế theo
Thoả ước Madrid và Nghị định thư Madrid được xác lập trên cơ sở quyết định
chấp nhận bảo hộ hoặc giấy chứng nhận nhãn hiệu đăng ký quốc tế được bảo
hộ tại Việt Nam do Cục sở hữu trí tuệ cấp theo yêu cầu của chủ nhãn hiệu.
Quyết định và giấy chứng nhận nói trên có giá trị như văn bằng bảo hộ cấp
cho người đăng ký nhãn hiệu tại Việt Nam.
Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nổi tiếng được xác lập
trên cơ sở thực tiễn sử dụng rộng rãi khiến cho nhãn hiệu đó trở thành nổi
tiếng mà không cần thực hiện thủ tục đăng ký tại Cục Sở hữu trí tuệ. Khi sử
dụng quyền và giải quyết tranh chấp quyền đối với nhãn hiệu nổi tiếng, chủ sở
hữu nhãn hiệu đó phải chứng minh quyền của mình bằng các chứng cứ phù
hợp quy định tại Điều 75 của Luật Sở hữu trí tuệ.

CBHD: NGUYỄN PHAN KHÔI

SVTH: PHẠM HẢI DUY


liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
công thức thuốc nổ TNT.
Bằng độc quyền sáng chế là một văn bằng do cơ quan nhà nước có
thẩm quyền ban hành cấp trên cơ sở một đơn yêu cầu bảo hộ, trong đó mô tả
một sáng chế và thiết lập một điều kiện pháp lý mà theo đó sáng chế đã cấp
quyền độc quyền chỉ có thể được khai thác bình thường với sự cho phép của
chủ bằng độc quyền sáng chế. Sáng chế nghĩa là một giải pháp cho một vấn đề
cụ thể trong lĩnh vực công nghệ, sáng chế có thể liên quan đến một sản phẩm
hay một quy trình. Theo quy định của pháp luật Việt Nam bằng độc quyền
sáng chế có giá trị trong thời hạn 20 năm.
Bằng đôc quyền sáng chế thường được coi như độc quyền. Hiệu quả
của việc cấp bằng độc quyền sáng chế là sáng chế được cấp độc quyền không
bị người khác khai thác trong phạm vi quốc gia cấp bằng độc quyền sáng chế
ngoài chủ sở hữu bằng độc quyền sáng chế, trừ khi chủ sở hữu bằng độc quyền
đồng ý với việc khai thác đó. Như vậy tuy pháp luật không quy định trao
quyền khai thác sáng chế nhưng lại có quyền ngăn cấm người khác khai thác
thương mại sáng chế đó, đó là quyền ngăn cấm người khác sản xuất, sử dụng
hoặc bán sáng chế của mình. Quyền khởi kiện chống lại bất kì người nào khai
thác sáng chế trong phạm vi quốc gia cấp bằng độc quyền mà không có sự
đồng ý của chủ sở hữu bằng độc quyền sáng chế là quyền quan trọng của quy
định này, và từ quyền mà pháp luật đã quy định nhằm giúp chủ sở hữu thu
được những lợi ích vật chất đối với những gì anh ta có quyền hưởng như một
phần thưởng đối với những gì mà anh ta đã nỗ lực và lao động trí tuệ và bù
CBHD: NGUYỄN PHAN KHÔI

SVTH: PHẠM HẢI DUY


16


bảoTài
hộ, sáng
phải tập
thuộcvà
đối nghiên
tượng bảo cứu
hộ sáng chế. Đối tượng bảo hộ được pháp luật quy định tại Điều 59 Luật sở
hữu trí tuệ năm 2005, tại quy định này không quy định những đối tượng cần
được bảo hộ, mà chỉ quy định những ngoại lệ của việc bảo hộ sáng chế,
nguyên tắc chung là bảo hộ sáng chế trên mọi lĩnh vực công nghệ. Theo quy
định, những đối tượng sau đây bị loại trừ khỏi phạm vi đối tượng được bảo hộ
sáng chế: “phát minh về lý thuyết khoa học, phương pháp toán học; sơ đồ, kế
hoạch, quy tắc và phương pháp để thực hiện các hoạt động trí óc, huấn luyện
vật nuôi, thực hiện trò chơi, kinh doanh, chương trình máy tính; cách thức thể
hiện thông tin; giải pháp chỉ mang tính thẩm mỹ; giống thực vật, động vật; quy
trình sản xuất động vật, thực vật chủ yếu mang bản chất sinh học mà không
phải là quy trình vi sinh; phương pháp phòng ngừa, chuẩn đoán và chữa bệnh
cho người và động vật”. Bên cạnh đó Nhà nước còn quy định loại trừ việc bảo
hộ những sáng chế, mà khi khai thác thương mại sáng chế đó sẽ là trái đạo đức
hoặc trật tự xã hội.
2.4.1.1.2 Khả năng áp dụng công nghiệp (có ích)
Một sáng chế để đựợc cấp bằng độc quyền phải là một sáng chế có khả
năng áp dụng công nghiệp, tức là phải có khả năng áp dụng thực tế chứ không
chỉ thuần túy là lý thuyết. Nếu sáng chế là một vật phẩm hay một sản phẩm thì
sản phẩm đó phải có khả năng được sản xuất. Và nếu sáng chế đó là một quy
trình hay một phần của quy trình thì quy trình đó phải có khả năng thực hiện
được hay sử dụng quy trình đó trong thực tiễn.
CBHD: NGUYỄN PHAN KHÔI

SVTH: PHẠM HẢI DUY

tâmkhông
Họcđược
liệuduĐH
Thơ
@ Tài
liệu
học
tập
vàcả nghiên
nhập Cần
vào nước
ta trước
khi tạo
ra sáng
chế,
ngay
khi những cứu
kiến thức này được lưu truyền rộng rãi ở nước ngoài trước ngày tạo ra sáng
chế. Một quan điểm nữa là dựa trên sự phân biệt bộc lộ qua xuất bản phẩm in
ấn và các loại hình bộc lộ khác như thông qua việc công bố miệng …
Như vậy vấn đề là ta phải xác định việc như thế nào là bộc lộ sáng chế?
Theo cách hiểu thông thường nhất, bộc lộ sáng chế tại thời điểm tình trạng kỹ
thuật đã biết được thể hiện ở những điểm đó là: sáng chế được mô tả trong
một ấn phẩm; được trình bày trước công chúng bằng miệng, lời nói; và sử
dụng công khai sáng chế đó tức là đưa vào sử dụng sáng chế đó. Trong đó, bộc
lộ qua ấn phẩm đòi hỏi phải có một vật mang tin, có nghĩa là đó là một văn
bản theo nghĩa rộng và phải được phát hành, được công khai dưới bất kỳ hình
thức kể cả chào bán hoặc lưu trữ tại thư viện. Đối với dạng bộc lộ qua trình
bày miệng theo ngữ nghĩa, ngụ ý rằng hình thức bộc lộ không nhất thiết phải
ghi nguyên văn lại, và bao gồm các bài giảng và các chương trình phát thanh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status