Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với Kiểu dáng công nghiệp theo pháp luật Việt Nam - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ THANH MAI

BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
QUYỀN ĐỐI VỚI KIỂU DÁNG CÔNG NGHIỆP
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật dân sự
Mã số: 60 38 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ QUẾ ANH
HÀ NỘI - 2013

LỜI CAM ĐOAN

1.1.3. Mối quan hệ giữa kiểu dáng công nghiệp và sáng chế, nhãn hiệu,
quyền tác giả, 10
1.1.4. Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng công nghiệp 11
1.1.5. Ý nghĩa của việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng
công nghiệp 14
1.2. Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng công nghiệp
theo các Điều ước quốc tế và pháp luật của một số quốc gia. 15
1.2.1. Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng công nghiệp theo
các Điều ước quốc tế 15
1.2.2. Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng công nghiệp theo
pháp luật của một số quốc gia 19
1.3. Sự hình thành và phát triển của pháp luật Việt Nam về bảo hộ
quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng công nghiệp 29
1.3.1. Quy định của pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với
kiểu dáng công nghiệp trước khi có Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 29
1.3.2. Quy định của pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với
kiểu dáng công nghiệp sau khi có Luật Sở hữu trí tuệ 2005 32

Chương 2: NHỮNG QUY ĐỊNH HIỆN HÀNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT
NAM VỀ BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI
KIỂU DÁNG CÔNG NGHIỆP 39
2.1. Điều kiện bảo hộ kiểu dáng công nghiệp 39
2.1.1. Tính mới 39
2.1.2. Tính sáng tạo 43
2.1.3. Khả năng áp dụng công nghiệp 43
2.1.4. Các đối tượng không được pháp luật bảo hộ với danh nghĩa là kiểu
dáng công nghiệp 45
2.2. Xác lập và chấm dứt quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng
công nghiệp 46
2.2.1. Xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng công nghiệp 46

Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
ĐƯQT
Điều ước quốc tế
EU
Liên minh châu Âu
GATT
Hiệp định chung về thuế quan và thương mại
Hiệp ước Locarno
Hiệp ước Locarno về thiết lập Phân loại quốc tế đối với
KDCN năm 1968
KDCN
Kiểu dáng công nghiệp
Luật SHTT 2005
Luật sở hữu trí tuệ nước CHXHCN Việt Nam năm 2005
sửa đổi, bổ sung năm 2009
MFN
Nguyên tắcđối xử tối huệ quốc (Most Favoured Nation)
NT
Nguyên tắcđối xử quốc gia (National Treatment)
SHCN
Sở hữu công nghiệp
SHTT
Sở hữu trí tuệ
Thỏa ước Lahay
Thỏa ước Lahay về đăng kí quốc tế kiểu dáng công nghiệp
được thông qua trong khuôn khổ Công ước Paris ngày
6/11/1925 và có hiệu lực từ ngày 01/06/1928, Thỏa ước đã
được sửa đổi bổ sung nhiều lần, hai văn kiện của Thỏa ước
hiện có hiệu lực là: Văn kiện London 1934 và Văn kiện
Lahay 1960, trong phạm vi luận văn chỉ tập trung nghiên

nghiệp đối với kiểu dáng công nghiệp có ý nghĩa quan trọng. Mục đích của việc xác
định các hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng công
nghiệp là để giải quyết hiệu quả các vụ việc cụ thể trong công tác thực thi quyền sở
hữu trí tuệ.
Vấn đề bảo hộ quyền SHCN nói chung và bảo hộ KDCN nói riêng vẫn
không ngừng vận động và phát triển cùng với hoạt động giao lưu thương mại quốc
tế theo hướng mở rộng các quyền năng cho chủ sở hữu, mở rộng phạm vi các đối
tượng được bảo hộ. Bảo hộ SHCN không chỉ mang ý nghĩa riêng lẻ đối với từng
quốc gia mà còn mang tính toàn cầu trong bối cảnh tự do hóa, toàn cầu hóa thương
mại. Khi nhu cầu hội nhập là vấn đề mang tính tất yếu khách quan, kinh tế tri thức
chiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế toàn cầu thì việc bảo hộ SHCN càng trở nên
bức thiết đối với bất cứ quốc gia nào, đặc biệt là Việt Nam.
Trong sự vận động và phát triển của xã hội, KDCN có vai trò to lớn, phục
vụ ngày càng tốt và hoàn hảo hơn cho nhu cầu của con người. Xã hội càng phát
triển cao, thẩm mỹ và nhu cầu của con người về kiểu dáng càng đòi hỏi khắt khe
và tinh vi hơn, các nhà sản xuất phải làm sao cho sản phẩm của mình mới lạ, hấp
dẫn và chất lượng. 2
Thực tế ở Việt Nam cho thấy, trong nền kinh tế yếu kém trước đây, người
dân chủ yếu chỉ quan tâm đến số lượng và chất lượng của sản phẩm; các nhà sản
xuất cũng chỉ dựa vào đó để sản xuất mà không mấy chú trọng đến kiểu dáng của
sản phẩm. Tuy nhiên, bước vào thế kỷ XXI, sự lựa chọn cuối cùng của người tiêu
dùng luôn thuộc về các sản phẩm đáp ứng được cả chất lượng lẫn kiểu dáng. Một
kiểu dáng hấp dẫn người tiêu dùng sẽ làm tăng giá trị thương mại của sản phẩm và
trở thành tài sản vô hình quan trọng của nhà sản xuất đó.
Song song với sự thay đổi này, nạn trộm cắp, làm hàng giả, hàng nhái KDCN
xảy ra với quy mô và số lượng ngày càng lớn. Nhiều khi hàng thật chưa được tung ra
thị trường thì hàng giả đã xuất hiện. Xuất phát từ thực trạng đó, nếu không có một hệ

thiểu những tranh chấp và vướng mắc phát sinh liên quan đến chế định này và tạo ra
cơ sở để các cơ quan thực thi pháp luật giải quyết các vướng mắc phát sinh.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Khi tiếp cận vấn đề nghiên cứu, luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, các quan điểm
của Đảng Cộng sản Việt Nam trong qua trình đổi mới, xây dựng đất nước Việt Nam
xã hội chủ nghĩa và vấn đề cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền.
- Phương pháp nghiên cứu của luận văn là đi từ lý luận đến thực tiễn, dùng
thực tiễn kiểm chứng lý luận. Các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành
như phương pháp lịch sử, phân tích, so sánh, chứng minh, tổng hợp và phương pháp
thống kê cũng được sử dụng để hoàn thành luận văn.
5. Ý nghĩa của Luận văn
Ngoài ý nghĩa là một công trình nghiên cứu riêng của bản thân về quyền sở
hữu công nghiệp đối với kiểu dáng công nghiệp để hoàn thành chương trình học tập
và báo cáo tốt nghiệp lớp cao học Luật Dân sự của Khoa Luật- Đại học Quốc gia Hà
Nội, việc nghiên cứu đề tài còn có ý nghĩa phân tích các quy định của pháp luật
cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật đối với việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
đối với kiểu dáng công nghiệp ở Việt Nam, từ đó đưa ra những đề xuất, kiến nghị
nhằm mục đích xây dựng và hoàn thiện pháp luật điều chỉnh vấn đề này. 4
6. Cơ cấu của luận văn
Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về kiểu dáng công nghiệp và bảo hộ quyền sở hữu công
nghiệp đối với kiểu dáng công nghiệp
Chương 2: Những quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về bảo hộ
quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng công nghiệp
Chương 3: Thực trạng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng
công nghiệp ở Việt Nam và những kiến nghị hoàn thiện pháp luật

sản phẩm. Kiểu dáng công nghiệp là một trong các đối tượng của quyền sở hữu
công nghiệp. Vì thế, kiểu dáng công nghiệp cũng có những đặc tính chung của tài
sản trí tuệ như: tính sáng tạo, tính chất vô hình, tính dễ phổ biến, lan truyền. Tuy
nhiên về nội hàm kiểu dáng công nghiệp hiện nay trên thế giới vẫn tồn tại nhiều
cách hiểu khác nhau với các tiêu chí khác nhau. Có thể dẫn ra một số ví dụ như sau:
Theo định nghĩa của Tổ chức SHTT thế giới (WIPO), KDCN là “các khía cạnh
mang tính chất trang trí hay thẩm mỹ của sản phẩm. Kiểu dáng có thể bao hàm các khía
cạnh 3 chiều, ví dụ như hình dạng hoặc bề mặt của sản phẩm, hoặc các khía cạnh hai
chiều như mẫu hoa văn, đường nét hoặc màu sắc. (http: www.wto.int).
Có thể thấy, theo WIPO, KDCN được xác định trước hết ở tính chất trang trí
hay thẩm mỹ của nó. KDCN cũng được xác định là biểu hiện bên ngoài của sản
phẩm và biểu hiện đó có thể ở không gian hai chiều hoặc ba chiều. Định nghĩa đã
lấy ví dụ về các cách thể hiện ở không gian ba chiều và không gian hai chiều của
KDCN. Định nghĩa của WIPO mang tính “mở”, cho phép hiểu về KDCN theo một
nghĩa rất rộng.
Theo pháp luật Mỹ, KDCN “bao gồm các đặc tính trang trí được thể hiện hay
áp dụng trong một sản phẩm. Vì kiểu dáng được thể hiện ở hình dáng bên ngoài nên
đối tượng bảo hộ kiểu dáng có thể là hình dạng của một sản phẩm, là trang trí mặt
ngoài của một sản phẩm, hay là sự kết hợp giữa hình dạng và trang trí bề ngoài. Một
kiểu dáng trang trí bề ngoài không thể tách rời sản phẩm mà nó trang trí và do vậy
không thể tự thân tồn tại một mình được”. 6
Pháp luật Mỹ đã nhấn mạnh đặc tính trang trí của KDCN và cũng khẳng định
KDCN được thể hiện ở không gian hai chiều hoặc ba chiều. Ngoài ra, pháp luật Mỹ
còn đặt ra yêu cầu KDCN phải luôn gắn liền với sản phẩm cụ thể.
Khác với WIPO và Mỹ, pháp luật của Liên minh Châu Âu và một số quốc
gia khác trên thế giới chỉ xác định KDCN là biểu hiện bên ngoài của sản phẩm và
liệt kê cụ thể các yếu tố hợp thành KDCN như đường nét, màu sắc, bố cục v.v

không gắn liền với sản phẩm sẽ không được bảo hộ với danh nghĩa KDCN. Pháp
luật của hầu hết các nước đều quy định về khả năng áp dụng công nghiệp của
KDCN. Theo đó, KDCN phải là hình dáng bên ngoài của sản phẩm được sản xuất
bằng phương pháp công nghiệp hoặc thủ công nghiệp (Hoa Kỳ, EU, Indonesia,
Malaysia, Philippines…) hoặc hình dáng bên ngoài của sản phẩm được sản xuất
công nghiệp (Nhật Bản, Hàn Quốc…)
Pháp luật Việt Nam hiện hành cũng đã đưa hai tiêu chí trên vào trong định
nghĩa về KDCN. Có thể thấy pháp luật Việt Nam về KDCN khá tương đồng với
pháp luật các nước trên thế giới.
Ví dụ về kiểu dáng công nghiệp:

Nguồn: />bao-ho-kieu-dang-cong-nghiep-hs.html 8
Với các đặc điểm trên, KDCN có những chức năng cụ thể như sau:
- KDCN mang chức năng thẩm mỹ, tức là KDCN cần phải có tính thẩm mỹ,
làm hài lòng người tiêu dùng, người sử dụng sản phẩm mang kiểu dáng đó. Đây là
chức năng cơ bản và quan trọng nhất của KDCN. Một trong những tiêu chí cơ bản
để một KDCN được bảo hộ đó là tính thẩm mỹ, từ đó, ta có thể thấy, đề cập tới
KDCN là đề cập tới vẻ đẹp, tính hấp dẫn ở hình khối, dáng vẻ bên ngoài của sản
phẩm. Chính tính thẩm mỹ này mang lại giá trị kinh tế cho KDCN.
- KDCN có chức năng nâng cao tiện ích của sản phẩm. Bên cạnh chức năng
quan trọng nhất là chức năng thẩm mỹ, còn một chức năng khác của KDCN là chức
năng nâng cao sự thuận tiện và lợi ích của sản phẩm. Mặc dù không như giải pháp
hữu ích nhưng thực tế cho thấy, thông thường cùng với sự sáng tạo KDCN hướng
đến tính thẩm mỹ thì đồng thời cũng cần quan tâm đến khả năng tiện dụng trong
việc sử dụng sản phẩm. Nếu sản phẩm gây bất tiện do người sử dụng hoặc làm mất
đi bản chất đặc trưng của sản phẩm thì sản phẩm sẽ không còn hữu dụng cho mục
đích sử dụng như ban đầu nó hướng tới. Do đó, khi sáng tạo KDCN, không chỉ có

vòng ngoài bằng những hình vẽ trang trí bắt mắt… Và tổng thể hình dáng, họa tiết
bên ngoài của sản phẩm đã tạo nên tính khác biệt của sản phẩm đó.
(iii) Kiểu dáng công nghiệp là sự kết hợp của hình dáng và màu sắc
Đối với loại KDCN này thì hình dáng bên ngoài của sản phẩm được biểu hiện
bởi dáng vẻ, hình thù kết hợp cùng màu sắc trang trí. Màu sắc ở đây là màu của chính
sản phẩm có được do nguyên liệu được sử dụng trong thực thể hoặc màu của thuốc
nhuộm hoặc sơn phủ lên sản phẩm. Cùng là ví dụ về chiếc điện thoại di động như nói
trên, trong trường hợp này, kiểu dáng của chiếc điện thoại lại được thể hiện bởi dáng
vẻ cùng với màu sắc được dùng để trang trí, tạo nên sự độc đáo cho sản phẩm.
(iv) Kiểu dáng công nghiệp là sự kết hợp của hình dáng, họa tiết và màu sắc
Khác với các loại KDCN nói trên, loại KDCN này mang trong nó tất cả các
yếu tố thể hiện: hình dáng, họa tiết và màu sắc. Chiếc điện thoại di động lúc này
được thể hiện bởi hình dáng, các hình vẽ và cả màu sắc trang trí. Hiện nay, loại
KDCN này là phổ biến nhất do nhu cầu về thẩm mỹ ngày càng cao cùng với trình
độ sáng tạo và khoa học kỹ thuật phát triển giúp tạo ra những KDCN này. 10
1.1.3. Mối quan hệ giữa kiểu dáng công nghiệp và sáng chế, nhãn hiệu,
quyền tác giả,
1.1.3.1. Mối quan hệ giữa kiểu dáng công nghiệp và sáng chế
KDCN và sáng chế đều có điểm chung đó là những hoạt động sáng tạo do
con người thực hiện. Tuy nhiên, nếu như sáng chế là những ý tưởng kỹ thuật được
tạo ra bằng cách ứng dụng các quy luật tự nhiên và được bảo hộ dưới góc độ kỹ
thuật thì KDCN được bảo hộ dưới góc độ thẩm mỹ. Theo quy định của nhiều nước
trên thế giới, luật pháp về KDCN không được áp dụng cho hình dáng của vật không
có tính trang trí và không có khả năng áp dụng công nghiệp, tuy nhiên trên thực tế
không phải lúc nào cũng có thể phân biệt hoàn toàn hai loại hình bảo hộ này, và do
vậy một số quốc gia đã đưa ra quy định về khả năng chuyển đổi đơn - Conversion of
application, theo đó, đơn đăng kí sáng chế có thể chuyển đổi thành KDCN hoặc

đáp ứng được tiêu chuẩn bảo hộ về bản quyền có thể được bảo hộ đồng thời theo cả
hai cách thức đó hoặc loại trừ một trong hai.
Bảo hộ đồng thời có nghĩa KDCN được đồng thời với tư cách là KDCN
và quyền tác giả, do đó, người sáng tạo có thể viện dẫn sự bảo hộ của một trong
hai hoặc của cả hai tùy theo sự lựa chọn của mình. Nếu tác giả kiểu dáng không
giành được sự bảo hộ theo luật kiểu dáng do không đăng ký thì vẫn có thể yêu
cầu luật bản quyền bảo hộ mà không cần tuân theo bất kỳ thủ tục nào. Ngoài ra,
sau khi hết thời hạn bảo hộ KDCN thì kiểu dáng vẫn được bảo hộ theo thời hạn
của luật bản quyền.
Đối với bảo hộ loại trừ thì người sáng tạo phải lựa chọn giữa sự bảo hộ hoặc
của luật kiểu dáng hoặc của luật bản quyền. Một khi tác giả chấp nhận sự bảo hộ
này sẽ không được viện dẫn sự bảo hộ kia. Ngoài ra, nếu đăng ký bảo hộ theo luật
KDCN thì khi hết thời hạn bảo hộ, kiểu dáng cũng sẽ không được bảo hộ tiếp theo
quy định của luật bản quyền.
1.1.4. Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng công nghiệp
1.1.4.1. Quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng công nghiệp
Điều 2, Công ước Stockholm năm 1967 về việc thành lập Tổ chức Sở hữu trí
tuệ thế giới (WIPO) định nghĩa khái quát về sở hữu trí tuệ như sau: “ Sở hữu trí tuệ
được hiểu rộng hơn và bao gồm các quyền liên quan tới các sản phẩm văn học, 12
nghệ thuật, khoa học; sự trình diễn của các nghệ sỹ, các chương trình phát và
truyền thanh, phát và truyền hình; các sáng chế thuộc mọi lĩnh vực; các phát minh
khoa học; kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ, các tên
thương mại và chỉ dẫn thương mại, chống cạnh tranh không lành mạnh và các
quyền khác là kết quả của hoạt động trí tuệ trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ,
văn học, nghệ thuật.”
Căn cứ định nghĩa trên và phù hợp với quan niệm truyền thống về SHTT,
quyền SHCN được coi là một bộ phận của quyền SHTT. Quyền SHCN là một dạng

động, hợp đồng thuê hay tác giả đã chuyển giao KCDN đó cho người khác thông
qua hợp đồng chuyển nhượng). Tương ứng với hai hình thức đó, pháp luật quy định
quyền nhân thân của tác giả.
Quyền tài sản của tác giả KDCN về cơ bản là quyền nhận thù lao từ chủ
sở hữu KDCN theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật. Đây là lợi ích
phát sinh từ việc sáng tạo ra KDCN, cũng là phần thù lao bù đắp cho sự nỗ lực
sáng tạo, cho lao động trí óc của tác giả; tiền thù lao cũng để trả cho cả chi phí
về vật chất mà tác giả đã phải bỏ ra trong suốt quá trình nghiên cứu như tiền mua
nguyên vật liệu, thiết bị máy móc,… trong trường hợp tác giả sáng tạo ra KDCN
một cách độc lập bằng kinh phí và trí tuệ của riêng mình và sau đó chuyển giao
quyền sở hữu đó cho người khác.
Ngoài hai quyền đó thì tác giả còn có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình khi có bất cứ hành vi xâm
phạm đến quyền của mình.
Các quyền SHCN đối với KDCN tác giả sẽ phân tích cụ thể trong Chương 2
của luận văn.
1.1.4.2. Bảo hộ quyền sở hữu đối với kiểu dáng công nghiệp
Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với KDCN là một bộ phận quan trọng
của bảo hộ quyền SHCN nói riêng và quyền SHTT nói chung. Theo nghĩa hẹp, bảo
hộ quyền sở hữu công nghiệp là việc thực hiện một số hoạt động của các cá nhân, tổ
chức có thẩm quyền để ngăn chặn, xử lý bất kỳ sự vi phạm nào nhằm bảo đảm các
quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp
được pháp luật bảo hộ.
Theo nghĩa rộng, bảo hộ quyền SHCN là sự ghi nhận về mặt pháp lý tổng thể 14
các quyền SHCN, quy định những biện pháp, cách thức để thực hiện các quyền đó
trên thực tế và việc ngăn chặn, xử lý những hành vi xâm phạm các quyền đó.
Trước khi Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền

phẩm KDCN tối ưu và giá trị thẩm mỹ cao.Vì vậy, KDCN đã trở thành một trong
những lợi thế cạnh tranh của các doanh nghiệp.
Để đảm bảo một môi trường cạnh tranh lành mạnh, một sự phát triển kinh tế
bền vững, cần thiết phải có một cơ chế bảo hộ KDCN đầy đủ và hiệu quả nhằm bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu hợp pháp
KDCN, bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng và hơn nữa là đảm bảo mục tiêu
khuyến khích, thúc đẩy sức sáng tạo của con người.
1.2. Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng công
nghiệp theo các Điều ước quốc tế và pháp luật của một số quốc gia
1.2.1. Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng công nghiệp
theo các Điều ước quốc tế
Hiện nay có nhiều điều ước quốc tế đa phương và song phương được ký kết giữa
các quốc gia có nội dung về bảo hộ KDCN, cũng như đăng ký quốc tế đối với KDCN.
Các điều ước quốc tế đa phương về bảo hộ KDCN hiện nay bao gồm Công
ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp năm 1883; Thỏa ước Lahay 1960 về đăng
ký quốc tế đối với KDCN; Hiệp ước Locarno về thiết lập Phân loại quốc tế đối với
KDCN năm 1968; Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền
sở hữu trí tuệ 1995 (Hiệp địnhTRIPs). Hiệp ước Locarno về thiết lập Phân loại quốc
tế đối với KDCN năm 1968. Sự ra đời của các điều ước quốc tế đa phương đã tạo
nên một khung pháp lý thống nhất để bảo hộ KDCN.
- Công ước Paris (1883)
Đây là một trong những Công ước quốc tế đa phương quan trọng đầu tiên về
SHCN. Công ước Paris được ký kết với mục đích xây dựng các điều kiện có lợi cho
việc cấp Văn bằng bảo hộ cho chủ sở hữu đối tượng SHCN là công dân, pháp nhân
của nước này ở nước khác thuộc thành viên Công ước trên nguyên tắc tôn trọng luật
SHCN của các nước thành viên [50, tr.217]. Các nước tham gia Công ước Paris đã
lập nên một liên minh quốc tế về bảo hộ SHCN (liên minh Paris có trụ sở tại
Berne). Từ thời điểm kí kết cho đến nay, Công ước đã trải qua nhiều lần sửa đổi 17
Để ứng phó với sự thay đổi trong công nghệ và thương mại, Hiệp ước đã
thành lập một Ủy ban chuyên gia để thực hiện việc sửa đổi và bổ sung đối với Phân
loại quốc tế về KDCN.
- Hiệp định TRIPs
Tại vòng đàm phán Uruguay về thuế quan và thương mại của GATT vào
ngày 15/12/1993, Hiệp định TRIPs – Hiệp định về các vấn đề liên quan đến thương
mại của quyền sở hữu trí tuệ đã được kí kết. Hiệp định TRIPs bắt đầu có hiệu lực từ
ngày 01/01/1995 đối với tất cả các nước là thành viên của GATT (nay là WTO).
Trong số các điều ước quốc tế đa phương có nội dung về bảo hộ KDCN,
Hiệp định TRIPs được xem là điều ước quốc tế quan trọng nhất, là nền tảng của
pháp luật thương mại quốc tế trong việc bảo hộ quyền SHTT bao gồm cả KDCN.
Vai trò của Hiệp định TRIPs trong việc bảo hộ quyền SHTT nói chung và
bảo hộ KDCN nói riêng được thể hiện qua các nội dung sau:
Thứ nhất, ngoài nguyên tắc đối xử quốc gia (National Treatment - NT) là
nguyên tắc phổ biến được quy định trong các điều ước quốc tế về SHTT, Hiệp định
TRIPs còn quy định áp dụng nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (Most Favoured Nation -
MFN) trong việc bảo hộ quyền SHTT. Đây chính là một trong các nguyên tắc trụ cột
của thương mại quốc tế nhằm chống phân biệt đối xử, tạo ra sự bình đẳng về mặt pháp
lý giữa thể nhân và pháp nhân của các nước là thành viên của WTO. Với việc quy định
nguyên tắc MFN trong Hiệp định TRIPs, các nước thành viên của WTO đã chính thức
công nhận SHTT là một lĩnh vực không thể tách rời của thương mại quốc tế.
Thứ hai, Hiệp định TRIPs quy định nguyên tắc, điều kiện cụ thể để bảo hộ
KDCN (Điều 25, Điều 26 của Hiệp định) và các biện pháp để thực thi quyền đối với
KDCN. Hiệp định TRIPs không quy định các biện pháp thực thi riêng cho từng đối
tượng của quyền SHTT, các biện pháp thực thi quyền đối với KDCN tuân theo các
quy định chung tại phần III “Thực thi quyền SHTT” của Hiệp định. Các quy định
này có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc bảo đảm cho quyền SHTT (bao gồm

của quyền SHCN. Trong đó KDCN được nhắc đến tại Điều 3 về phạm vi hợp tác
giữa các quốc gia trong khu vực.
Bên cạnh các điều ước quốc tế đa phương, đề bảo hộ KDCN, các quốc gia
còn trực tiếp ký kết các điều ước song phương về bảo hộ KDCN. Nghiên cứu về

Trích đoạn Biện pháp xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối vớ Tình hình đăng ký, khiếu nại về KDCN Sử dụng, khai thác quyền sở hữu công nghiệp đối với KDCN Thực trạng bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với KDCN Kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật về bảo hộ quyền sở
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status