TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
-----
BÀI BÁO CÁO LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Khóa 34
ĐỀ TÀI
CHUYỂN GIAO QUYỀN SỞ HỮU
CÔNG NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn:
ThS. NGUYỄN PHAN KHÔI
Bộ môn Tư Pháp
Sinh viên thực hiện:
PHAN DIỄM MI
MSSV:5085818
Lớp: Luật Hành Chính
Cần Thơ, 5-2012
CHUYỂN GIAO QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
MỤC LỤC
……
LỜI NÓI ĐẦU.................................................................................................................6
Chương 1. TỔNG QUAN VỀ CHUYỂN GIAO QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
1.3. Giá trị của các dạng hợp đồng đặc biệt của hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu
công nghiệp....................................................................................................................24
1.3.1. Lợi ích của việc chuyển giao công nghệ...........................................................24
1.3.1.1 Tầm quan trọng của chuyển giao công nghệ đối với thế giới.......................
1.3.1.2 Lợi ích từ hoạt động chuyển giao công nghệ...............................................
1.3.2. Lợi ích của hoạt động nhượng quyền thương mại............................................25
1.3.3. Mối quan hệ giữa nhượng quyền thương mại với hoạt động chuyển giao công
nghệ và hoạt động li-xăng..............................................................................................26
1.4. Vấn đề vi phạm trong hợp đồng li-xăng và việc kiểm soát li-xăng của Chính phủ
các nước.........................................................................................................................28
1.4.1. Vấn đề vi phạm trong hợp đồng li-xăng của các nước.....................................28
1.4.2. Việc kiểm soát li-xăng của Chính phủ các nước...............................................29
Chương 2. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CHUYỂN GIAO QUYỀN
SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
2.1. Quy định của pháp luật về chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp.......................31
2.1.1. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp.....................................31
2.1.1.1. Khái niệm chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp...........................32
2.1.1.2. Nội dung hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp.............32
2.1.2. Hợp đồng chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp (hợp đồng lixăng)..............................................................................................................................34
2.1.2.1. Khái niệm về hợp đồng li-xăng...............................................................34
2.1.2.2. Nội dung của hợp đồng li-xăng...............................................................34
2.1.2.3. Những điều cấm trong hợp đồng li-xăng.................................................37
ThS. NGUYỄN PHAN KHÔI
2
SVTH: PHAN DIỄM MI
CHUYỂN GIAO QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
CHUYỂN GIAO QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
…...................................................................................................................................60
2.4.1. Thương lượng hòa giải.....................................................................................61
2.4.2. Trọng tài............................................................................................................61
2.4.3. Tòa án...............................................................................................................62
Chương 3. THỰC THI VỀ CHUYỂN GIAO QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
3.1. Mối quan hệ giữa các quy định pháp luật với quy định về chuyển giao quyền sở
hữu công nghiệp............................................................................................................65
3.1.1. Chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp theo quy định Luật Sở hữu trí tuệ
2005
…...................................................................................................................................65
3.1.2. Chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp theo quy định Luật thương mại 2005
…...................................................................................................................................67
3.1.3. Chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp theo quy định Luật chuyển giao công
nghệ 2006.......................................................................................................................69
3.2. Những mặt tích cực về hoạt động chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp...........70
3.2.1. Về quy định bắt buộc chuyển quyền sử dụng đối với sáng chế........................70
3.2.2.Về hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp và hợp đồng li-xăng
…...................................................................................................................................70
3.2.3.Về hoạt động nhượng quyền thương mại ở nước ta hiện nay............................73
3.2.4. Về chuyển giao công nghệ tại Việt Nam..........................................................74
3.2.5. Các biện pháp thực thi quyền sở hữu công nghiệp theo quy định của pháp luật
Việt Nam........................................................................................................................75
3.3. Những mặt hạn chế về pháp luật trong hoạt động chuyển giao quyền sở hữu công
ThS. NGUYỄN PHAN KHÔI
4
CHUYỂN GIAO QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LỜI MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
Trong xu hướng phát triển của nền kinh tế thị trường thế giới có nhiều vấn đề
đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng
như sự tăng trưởng của các quốc gia. Một trong những vấn đề đó là việc phát triển và
quản trị tài sản trí tuệ cùng với việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao các đối
tượng sở hữu công nghiệp, chuyển giao công nghệ có giá trị to lớn và là cơ sở để phát
triển tri thức nhân loại. Đây chính là mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia hiện
nay. Một yêu cầu tất yếu đặt ra là phải có sự bảo hộ pháp luật đối với các vấn đề trên
nhằm tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, cạnh tranh công bằng, bình đẳng cũng
như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ sở hữu.
Đối với Việt Nam, trước những cơ hội và thách thức mới trong quá trình hội
nhập và phát triển, đặc biệt Việt Nam đang là thành viên của Tổ chức Thương mại thế
giới nên đòi hỏi Việt Nam cần phải có các cơ chế, chính sách thúc đẩy hoạt động sáng
tạo, tạo cơ hội tối ưu cho các hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ
cùng với hoạt động chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp, đồng thời, tạo lập hành
lang pháp lý an toàn đầy đủ để cũng cố, tăng cường và phát triển kinh tế – xã hội và
khuyến khích hoạt động sáng tạo, kinh doanh của các chủ thể, các doanh nghiệp dung
hòa lợi ích chính đáng của chủ sở hữu với lợi ích chung của toàn xã hội.
Chính vì tầm quan trọng của quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền sở hữu
công nghiệp nói riêng, đặc biệt là vai trò thiết yếu của hoạt động chuyển giao quyền sở
hữu công nghiệp trở thành nguồn lực quyết định sự phát triển kinh tế – xã hội, khoa
học – kỹ thuật, công nghệ, mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế đối với Việt Nam
hiện nay. Do đó, người viết đã chọn đề tài luận văn liên quan về các vấn đề trên là
“Chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp theo pháp luật Việt Nam”
II. Mục đích nghiên cứu
giao quyền sở hữu công nghiệp hiện nay và những bất cập cùng với nguyên nhân và
một số giải pháp về các vấn đề liên quan.
VI. Phương pháp nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu người viết đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu lý
luận trên tài liệu, sách, tạp chí khoa học với phương pháp so sánh, phương pháp phân
tích luật viết, phương pháp phân tích, đánh giá số liệu từ phương pháp thống kê để
người viết có thể hoàn thành đề tài luân văn“ Chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp
theo pháp luật Việt Nam”.
V. Bố cục cơ bản của đề tài
Chương 1: Tổng quan về chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp
Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam về chuyển giao quyền sở hữu
công nghiệp
ThS. NGUYỄN PHAN KHÔI
7
SVTH: PHAN DIỄM MI
CHUYỂN GIAO QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Chương 3: Thực thi về chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp theo pháp luật
Việt Nam
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ CHUYỂN GIAO QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
Tri thức của con người đã trở thành “hàng hóa” để trao đổi, mua bán nhằm mục
đích lợi nhuận. Theo đó, quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền sở hữu công nghiệp
nói riêng trở thành yếu tố quyết định sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam hiện nay.
Vì thế, việc xây dựng và duy trì một hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ hữu hiệu là
điều rất cần thiết.
CHUYỂN GIAO QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
18 chắc chắn là một sản phẩm trí tuệ. Tuy nhiên, Weigang không được hưởng quyền “
sở hữu” sản phẩm trí tuệ của mình. Ngược lại, hai chữ cái thí dụ như “P/S” thì coi là
đối tượng của sở hữu trí tuệ. Vậy không phải mọi sản phẩm trí tuệ lại được bảo hộ
dưới dạng quyền sở hữu trí tuệ và không phải mọi quyền sở hữu trí tuệ đều là sản
phẩm trí tuệ.2
1.1.2. Khái niệm và phân loại về quyền sở hữu trí tuệ
Theo Công ước thành lập WIPO (Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới – tên tiếng
Anh là World Intellectual Property Organization) tại Stockholm ngày 14/7/1967 đã đề
ra hệ thống các đối tượng thuộc lĩnh vực sở hữu trí tuệ được chấp nhận trên toàn thế
giới bao gồm: Tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học; Cuộc biểu diễn của nghệ sĩ,
bản ghi âm và cuộc phát sóng; Sáng chế thuộc lĩnh vực nỗ lực của con người; Phát
minh khoa học; Kiểu dáng công nghiệp; Nhãn hiệu, tên và chỉ dẫn thương mại; Bảo hộ
chống cạnh tranh không lành mạnh; Tất cả các quyền khác là kết quả của hoạt động trí
tuệ trong lĩnh vực công nghệ, khoa học, văn học và nghệ thuật.3
Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ
chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan quyền
tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng.4Quyền đối với
giống cây trồng theo quy định của pháp luật quốc tế về quyền sở hữu trí tuệ thì quyền
đối với giống cây trồng được bảo hộ dưới dạng sáng chế.5
Đối tượng quyền sở hữu trí tuệ là sản phẩm của sự sáng tạo của tư duy, của trí
tuệ con người. Theo quy định tại Điều 3 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 thì đối tượng quyền
sở hữu trí tuệ bao gồm:
Đối tượng đầu tiên của quyền sở hữu trí tuệ là quyền tác giả và các quyền liên
quan. Quyền tác giả nhóm đối tượng này việc bảo hộ quyền tác giả và các quyền liên
quan nhằm đảm bảo cho tác giả, những người sáng tạo khác đối với các sản phẩm trí
tuệ những quyền nhất định như cho phép, không cho phép sử dụng tác phẩm của họ
trong một thời gian nhất định. Ngoài ra, còn thừa nhận cho những người biểu diễn, bản
bao gồm cả vấn đề cạnh tranh, chống cạnh tranh không lành mạnh, bảo hộ nội dung ý
tưởng sáng tạo và uy tín kinh doanh.
Tuy nhiên theo pháp luật Việt Nam, thì ngoài hai nhóm đối tượng trên còn
quyền đối với giống cây trồng mà đối tượng của nó là giống cây trồng và vật liệu nhân
giống.
1.1.3. Căn cứ phát sinh quyền sở hữu trí tuệ
Bản chất quyền sở hữu trí tuệ bảo hộ là quyền nhân thân và quyền tài sản của
chủ thể đối với thành quả lao động sáng tạo hay uy tín thương mại. Vì vậy, việc xác
định thời điểm phát sinh, những căn cứ phát sinh để xác lập quyền sở hữu trí là rất
quan trọng. Theo quy định tại Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ thì căn cứ phát sinh, xác lập
quyền sở hữu trí tuệ có thể được phân thành hai nhóm sau:
Thứ nhất là các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ chỉ được phát sinh, xác lập
khi tiến hành đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền cụ thể là các đối tượng sau
đây: quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí
nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý và quyền đối với giống cây trồng.
Thứ hai là các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ được phát sinh, xác lập một cách
tự động vào thời điểm tạo ra đối tượng đó mà không cần qua thủ tục đăng ký như
quyền tác giả, quyền liên quan đến tác giả, quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn
hiệu, tên thương mại, bí mật kinh doanh, quyền chống cạnh tranh không lành mạnh.6
1.1.4. Vai trò của quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ
Pháp luật bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ dưới dạng độc quyền. Việc bảo hộ quyền
6
Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ 2005
ThS. NGUYỄN PHAN KHÔI
10
SVTH: PHAN DIỄM MI
đổi quốc tế trên mọi lĩnh vực thông qua việc chuyển giao khoa học, kỹ thuật và công
nghệ.
Việt Nam là một trong những nước tham gia các công ước quốc tế về sở hữu trí
tuệ từ rất sớm: tham gia Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp ngày
8/3/1949; Thỏa ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa ngày 8/3/1949 và
ThS. NGUYỄN PHAN KHÔI
11
SVTH: PHAN DIỄM MI
CHUYỂN GIAO QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
tham gia Công ước Stockholm về thành lập Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới và trở
thành thành viên của Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới vào ngày 2/7/1976. Bên cạnh
đó, Việt Nam gia nhập Hiệp ước Washington về hợp tác sáng chế vào ngày 10/3/1993.
Ngày 26/11/2001 Việt Nam ký Hiệp định thương mại với Hoa Kỳ.
Việt Nam xem bảo hộ sở hữu trí tuệ thông qua việc xây dựng hệ thống pháp
luật phù hợp và hoàn thiện là một nhân tố quan trọng của chính sách đổi mới, mở cửa
nền kinh tế và xây dựng nhà nước pháp quyền. Điều đó được thể hiện như sau:
Thứ nhất là khuyến khích việc đầu tư cho hoạt động sáng tạo của các cá nhân,
tổ chức, doanh nghiệp vì sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội thông qua cơ chế bảo vệ
và dung hòa lợi ích chính đáng của chủ sở hữu sản phẩm trí tuệ với lợi ích chung của
toàn xã hội.
Thứ hai là tạo môi trường pháp lý bình đẳng cho hoạt động cạnh tranh lành
mạnh giữa các chủ thể trong một cơ chế thị trường ổn định nhằm thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế.
Thứ ba là tạo môi trường pháp lý hấp dẫn khuyến khích, thu hút các hoạt động
1.2.1.1.Công ước Paris
Công ước Paris là một trong những công ước quốc tế đa phương quan trọng về
sở hữu công nghiệp. Công ước này được kí kết vào ngày 20/3/1883 (sửa đổi mới đây
nhất vào năm 1979).
Mục đích của Công ước Paris là xây dựng các điều kiện có lợi cho việc cấp văn
bằng bảo hộ cho chủ sở hữu công nghiệp là công dân, pháp nhân của nước này ở nước
khác thuộc thành viên công ước trên cơ sở nguyên tắc tôn trọng Luật Sở hữu trí tuệ
của nước thành viên.8
Nội dung công ước Paris về hợp đồng li-xăng bắt buộc được quy định tại Điều
5A của công ước:
Việc chủ patent nhập khẩu vào một nước đã cấp patent những hàng hóa đã chế
tạo tại bất kỳ quốc gia nào là thành viên của liên minh sẽ không dẫn tới việc tước
quyền patent;
Mỗi nước thành viên của liên minh điều có quyền đưa ra những biện pháp pháp
lý quy định việc cấp li-xăng cưỡng bức nhằm ngăn chặn việc lạm dụng có thể nảy sinh
từ việc thực hiện độc quyền được xác lập bởi patent;
Không được quy định việc tước quyền patent trừ trường hợp việc cấp li-xăng
cưỡng bức chưa đủ để ngăn chặn sự lạm dụng nêu trên, việc tước quyền hoặc hủy bỏ
patent không được tiến hành trước khi hết hạn 2 năm kể từ khi cấp li-xăng cưởng bức
đầu tiên;
Không được áp dụng li-xăng cưỡng bức với ly do không sử dụng hoặc sử dụng
không đầy đủ trước khi hết hạn 4 năm kể từ ngày nộp đơn xin cấp patent hoặc 3 năm
8
Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới , Trang web:
vi.wikipedia.org/wiki/Tổ_chức_Sở_hữu_Trí_tuệ_Thế_giới[truy cập ngày 5/02/2012]
ThS. NGUYỄN PHAN KHÔI
13
định quan trọng và mới nhất về sở hữu trí tuệ do Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới thực
thi với Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp và Công ước Berne về bảo hộ
các tác phẩm văn học và nghệ thuật. Theo Hiệp đinh TRIPS thì các nước phát triển
hoàn toàn thực thi hiệp định này vào ngày 1/1/1996.
Hiệp định TRIPS có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của lĩnh vực sở
hữu trí tuệ. Điều này được thể hiện ở các mặt sau đây: Thứ nhất, Hiệp định TRIPS là
hiệp định duy nhất và đầu tiên về sở hữu trí tuệ quy định cụ thể về các biện pháp thực
ThS. NGUYỄN PHAN KHÔI
14
SVTH: PHAN DIỄM MI
CHUYỂN GIAO QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
thi sở hữu công nghiệp như trách nhiệm bồi thường thiệt hại, dân sự, hành chính; Thứ
hai, Hiệp định TRIPS là hiệp định đầu tiên thực sự mang tính quốc tế đã đưa ra các
chuẩn mực tối thiểu về bảo hộ những hình thức sở hữu trí tuệ; Thứ ba, đây là hiệp định
quốc tế đầu tiên về sở hữu tí tuệ được áp dụng để giải quyết các tranh chấp.9
Điều 31 của TRIPS quy định một số điều kiện mà chính phủ có thể áp đặt lixăng bắt buộc về mặt pháp lý, đó là:
Việc sử dụng chỉ có thể được cho phép nếu như trước khi được chuyển giao lixăng bắt buộc, người sử dụng dự kiến đã hết sức cố gắng để đạt được sự cho phép của
người nắm quyền bằng những điều kiện và điều khoản thương mại hợp lý nhưng
không thành công trong một khoảng thời gian hợp lý, trừ trường hợp khẩn cấp quốc
gia hoặc những tình huống khẩn cấp đặc biệt khác hoặc trong trường hợp sử dụng
công cộng không vì mục đích thương mại;
Phạm vi và thời hạn sử dụng sẽ tuỳ thuộc vào mục đích được cho phép;
Quyền sử dụng đó không có tính độc quyền, không thể được chuyển nhượng
(trừ trường hợp chuyển giao cơ sở kinh doanh đang được ủy quyền) và chỉ có thể để
thiện hơn đặc biệt là pháp luật chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp về li-xăng bắt
buộc.
1.2.2. Quy định của pháp luật Việt Nam về quyền sở hữu công nghiệp và
chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp
1.2.2.1.Về quyền sở hữu công nghiệp
Bên cạnh quyền tác giả, quyền đối với giống cây trồng, quyền sở hữu công
nghiệp cũng là một trong những quyền của quyền sở hữu trí tuệ. Quyền sở hữu công
nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế
bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh
doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh.11
Các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp và việc xác lập quyền sở hữu
công nghiệp đối với các đối tượng đó. Cụ thể như sau:
Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải
quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên. Văn bằng bảo hộ
sáng chế là bằng độc quyền sáng chế có hiệu lực kể từ ngày cấp đến hết 20 năm tính từ
ngày nộp đơn hợp lệ;
Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm được thể hiện
bằng hình khối, đường nét, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này. Văn bằng bảo
hộ đối với kiểu dáng công nghiệp là bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp có hiệu
lực từ ngày cấp đến hết 5 năm tính từ ngày nộp đơn hợp lệ có thể gia hạn liên tiếp hai
lần mổi lần 5 năm tổng cộng không quá 15 năm;
Thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn là cấu trúc không gian của của các phần
tử mạch và mối liên kết các phần tử đó. Được xác lập theo văn bằng bảo hộ thiết kế
mạch tích hợp bán dẫn do Cục sở hữu trí tuệ cấp;
Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá
nhân khác nhau. Văn bằng bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa quyết định chứng nhận đăng ký
nhãn hiệu hành hóa có hiệu lực 10 năm tính từ ngày nộp đơn hợp lệ và có thể gia hạn
liên tiếp nhiều lần mỗi lần 10 năm;
11
vừa là những tài sản trí tuệ. Để bảo hộ một cách hiệu quả các đối tượng sở hữu công
nghiệp, Luật Sở hữu trí tuệ 2005 đã quy định về các quyền năng của chủ sở hữu, tác
giả sáng tạo ra đối tượng đó. Tuy nhiên, việc giới hạn không chỉ ở các quyền năng chủ
thể mà Luật Sở hữu trí tuệ 2005 còn tạo ra một nền tảng pháp lý vững chắc, tạo điều
kiện cho việc chuyển giao quyền đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp.
Mặt khác, quyền sở hữu công nghiệp có thể trở thành đối tượng của các hợp
đồng. Thông qua các hoạt động chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp trở thành một
loại hàng hóa đặc biệt, có hàm lượng trí tuệ cao và trở thành nhân tố quan trọng trong
việc phổ biến công nghệ mới, khuyến khích đầu tư nghiên cứu khoa học công nghệ,
thúc đẩy đổi mới công nghệ và tạo ra công nghệ mới, góp phần phát triển kinh tế, xã
hội.
ThS. NGUYỄN PHAN KHÔI
17
SVTH: PHAN DIỄM MI
CHUYỂN GIAO QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Các đối tượng sở hữu công nghiệp trở thành “hàng hóa” thông qua hoạt động
chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp, theo đó chủ sở hữu có khả năng thu lợi bằng
cách cho phép người khác khai thác các đối tượng sở hữu công nghiệp được bảo hộ.12
Tóm lại, chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp là việc chủ thể có quyền đối
với các đối tượng sở hữu công nghiệp chuyển giao một phần hoặc toàn bộ quyền của
mình cho chủ thể khác.
1.2.3. Ý nghĩa của việc chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp
Chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp có vai trò quan trọng không chỉ đối với
các chủ thể quyền, các chủ thể được chuyển giao mà còn có ý nghĩa đối với sự phát
CHUYỂN GIAO QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
định phương hướng tiệp cận và sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp như thế nào
để đạt hiệu quả cao đồng thời khai thác các giá trị của các đối tượng sở hữu công
nghiệp một cách toàn diện hơn.
Thứ hai là một khi các đối tượng sở hữu công nghiệp đươc chủ sở hữu công
khai thông qua hoạt động chuyển giao sẽ hạn chế được tình trạng việc nghiên cứu,
sáng tạo trùng lặp giữa các đối tượng sở hữu công nghiệp với nhau. Điều này sẽ tránh
được sự lãng phí thời gian, chi phí và công sức đối với các chủ thể sáng tạo vì các chủ
thể sáng tạo có thể sáng tạo ra những thành quả mới chứ không tạo ra những gì đã có
nhất là các đối tượng đã được pháp luật bảo hộ khi đó các chủ thể sáng tạo sẽ tạo ra
các đối tượng sở hữu công nghiệp mới với khoa học kỹ thuật công nghệ tiên tiến hơn
đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện đại.
Dưới góc độ xã hội
Thứ nhất, chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp sẽ tạo được môi trường cạnh
tranh lành mạnh đảm bảo cho sự phát triển của xã hội nói chung và trong lĩnh vực phát
triển kinh tế nói riêng. Đối với các chủ sở hữu các đối tượng sở hữu công nghiệp thì
việc chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp là điều kiện để thúc đẩy các chủ sở hữu
tiến hành các hoạt động sáng tạo, đổi mới kỹ thuật, khuyến khích chuyển giao công
nghệ giữa các chủ sở hữu với nhau.
Thứ hai, đối với sự phát triển của nền kinh tế trong thời kỳ hiện nay việc mở
rộng hợp tác trao đổi giao lưu quốc tế giữa các quốc gia có trình độ công nghệ cao với
các quốc gia có trình độ công nghệ thấp. Có thể nói đây là cầu nối quan trọng rút ngắn
sự chênh lệch về khoảng cách giữa các quốc gia với nhau trên lĩnh vực khoa học, kỹ
thuật, công nghệ và hợp tác kinh tế quốc tế. Bởi vì, theo mục tiêu của Tổ chức Sở hữu
Trí tuệ Thế giới thì khuyến khích, thúc đẩy hợp tác quốc tế trong các hoạt động sáng
tạo trí tuệ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển giao công nghệ liên quan đến sở
hữu công nghiệp vào các nước đang phát triển nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã
hội và văn hóa của các quốc gia đó.
Tóm lại, từ những giá trị thiết thực nêu trên thì việc thực hiện pháp luật về
hàng hóa và quyền sở hữu đối với các đối tượng khác do pháp luật quy định.14
Tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp có quyền chuyển
giao quyền sở hữu và quyền sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp của họ cho tổ
chức, cá nhân khác. Cụ thể là bên chuyển giao và bên nhận chuyển giao các đối tượng
sở hữu công nghiệp.
1.2.4.2. Đối tượng được chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp
Ở những nước đang pháp triển và chậm phát triển, khả năng sản xuất dược
phẩm phục vụ nhu cầu y tế là rất hạn chế. Đối với những nước có một phần khả năng
sản xuất dược phẩm, họ có thể đặt ra quy định pháp luật về bắt buộc chuyển giao
quyền sử dụng bằng sáng chế về dược phẩm chuyển giao quyền sử dụng sáng chế
trong những điều kiện chặt chẽ. Trong tuyên bố về TRIPS và y tế công cộng tại Hội
13
14
H. H. Lidgard, Sdd, trang 269 - 292
Điều 780 Bộ luật dân sự 2005
ThS. NGUYỄN PHAN KHÔI
20
SVTH: PHAN DIỄM MI
CHUYỂN GIAO QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
nghị Bộ trưởng WTO tại Doha ngày 14/11/2001 quy định các thành viên WTO thừa
nhận rằng những nước không có khả năng sản xuất dược phẩm sẽ phải đối mặt với
những khó khăn khi áp dụng quy định bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế
theo Hiệp định TRIPS. Do đó, Hội đồng TRIPS của WTO phải tìm ra giải pháp cho
Theo pháp luật sở hữu trí quốc tế thì giống cây trồng được chuyển giao dưới dạng sáng chế
ThS. NGUYỄN PHAN KHÔI
21
SVTH: PHAN DIỄM MI
CHUYỂN GIAO QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Ở một số nước, hình thức pháp lý về việc chuyển nhượng hoặc hình thức hợp
đồng li-xăng và các điều kiện cùng những thủ tục khác liên quan tới việc chuyển
nhượng hay li-xăng là do luật sáng chế hoặc luật thương mại quy định. Vì vậy một yêu
cầu có thể đặt ra là một văn bản chuyển nhượng các quyền sáng chế được thực hiện
theo một cách thức đặc biệt chẳng hạn như có thể yêu cầu không chỉ bên chuyển
nhượng mà cả bên chuyển nhượng ký lập văn bản.17
Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ 2005 thì chuyển giao quyền sở hữu công
nghiệp bao gồm các hình thức: Chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp, chuyển
quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp. Cụ thể như sau:
Chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp là việc chủ sở hữu công nghiệp
chuyển giao quyền sở hữu của mình cho tổ chức, các nhân khác.18Điều này có thể hiểu
là hoạt động này được coi là việc “bán đứt” quyền sở hữu công nghiệp vì chủ sở hữu
công nghiệp chuyển giao toàn bộ quyền sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp của
mình cho chủ thể khác.
Chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp là việc chủ sở hữu đối
tương sở hữu công nghiệp cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng đối tượng sở hữu
công nghiệp thuộc phạm vi quyền sử dụng của mình.19Hoạt động này có phạm vi hẹp
hơn so với chuyển nhương quyền sở hữu công nghiệp vì đây chỉ là việc “cho phép” sử
dụng đối tượng sở hữu công nghiệp. Hoạt động chuyển quyền sử dụng đối tượng sở
1.3.1. Lợi ích của việc chuyển giao công nghệ
1.3.1.1. Tầm quan trọng của chuyển giao công nghệ đối với thế giới
1.3.1.2. Lợi ích từ hoạt động chuyển giao công nghệ
Thứ nhất là chuyển giao công nghệ có vai trò là nguồn lực quyết định sự phát
triển kinh tế toàn cầu và của mỗi quốc gia. Trong xã hội hiện đại, chuyển giao công
nghệ ngày càng tăng lên do vậy bất kỳ quốc gia nào khi đưa ra chiến lược phát triển
kinh tế – xã hội, khoa học – kỹ thuật của mình đều rất chú trọng đến các đối tượng
công nghệ và việc chuyển giao các đối tượng công nghệ vì nó có mối quan hệ mật thiết
đối với cơ cấu kinh tế với mô hình đầu tư và thương mại. Điều này là cơ sở để nền
kinh tế tăng trưởng nhanh đối với các quốc gia trên thế giới đặc biệt là các nước đang
phát triển.
Thứ hai là chuyển giao công nghệ sẽ rút ngắn được sự chênh lệch về công nghệ
giữa các nước có nền công nghệ phát triển và các nước đang phát triển công nghệ, các
nước lạc hậu. Nếu hoạt động chuyển giao công nghệ giữa các quốc gia với nhau được
thực hiện tốt thì đây là cơ hội để các nước đang phát triển công nghệ, các nước lạc hậu
được sử dụng thành tựu khoa học công nghệ của thế giới thông qua hoạt động chuyển
giao công nghệ. Mặt khác, bảo đảm cho các nước đang phát triển đặc biệt là các nước
kém phát triển được hưởng những lợi ích thực chất từ sự tăng trưởng của thương mại
quốc tế.
Thứ ba là đối với các doanh nghiệp chuyển giao công nghệ là phương thức hiệu
quả để doanh nghiệp nâng cao lợi thế kinh doanh và tăng khả năng cạnh tranh trong
điều kiện hội nhập hiện nay. Các doanh nghiệp ứng dụng hiệu quả khoa học công nghệ
vào sản xuất kinh doanh sẽ năng cao chất lượng sản phẩm điều này sẽ giúp các doanh
nghiệp thu được lợi ích kinh tế nhiều hơn. Và dựa trên cơ sở sử dụng công nghệ hiệu
quả và lợi thế kinh tế thì các doanh nghiệp sẽ nâng cao được khả năng cạnh tranh của
mình. Do vậy, các doanh nghiệp cần phải tiếp cận với các nền khoa học công nghệ tiên
ThS. NGUYỄN PHAN KHÔI
23
từ việc áp dụng hình thức kinh doanh này.
Đối với bên nhận quyền
Thứ nhất là tận dụng được nguồn lực, tiết kiệm được chi phí và thời gian trong
20
4 Share.Vn, Vai trò của của khoa học công nghệ trong tiến trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa ở Việt Nam,
Trang web: oc_cong_nghe_trong_tien_trinh _CNH _
HDH_o_viet_nam.html[truy cập ngày 15/2/2012]
ThS. NGUYỄN PHAN KHÔI
24
SVTH: PHAN DIỄM MI