VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THÚY
BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội, năm 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THÚY
BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60.38.01.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
nhãn hiệu tại Việt Nam hiện nay ..................................................................... 49
3.2. Giải pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu tại Việt Nam
hiện nay ........................................................................................................... 51
KẾT LUẬN .................................................................................................... 69
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BTA
: Bilateral Trade Agreement:
Hiệp định thương mại song phương
GPHI
: Giải pháp hữu ích
KDCN
: Kiểu dáng công nghiệp
NH
: Nhãn hiệu
SC
: Sáng chế
SHCN
Tình hình khiếu nại vi phạm quyền sở hữu công nghiệp
32
bảng
Bảng 2.1.
đối với nhãn hiệu từ năm 2006 đến năm 2016
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đang tích cực mở rộng quan hệ với các nước trên thế giới để
tham gia vào tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế đang ngày càng sâu rộng như
hiện nay. Tuy nhiên, để hội nhập thành công, tận dụng được các cơ hội, Chính
phủ Việt Nam và cả các doanh nghiệp Việt Nam cần phải xây dựng được một
chiến lược chủ động, một chiến lược có thể phát huy một cách hiệu quả nội
lực và nâng cao được năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, mà trước tiên là
năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp.
Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ
chức, cá nhân khác nhau. Chính vì vậy, NH là một tài sản quan trọng của
doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh và xuất khẩu hàng hóa, là
công cụ hữu hiệu để giúp doanh nghiệp Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế
thành công. Do đó, bên cạnh việc xác lập quyền SHTT thì bảo vệ quyền
SHTT đối với NH một cách kịp thời là một việc làm cần thiết. Điều đó giúp
doanh nghiệp thâm nhập, tạo lập, giữ vững và phát triển thị trường chống lại
mọi hành vi vi phạm, hành vi cạnh tranh không lành mạnh hoặc hành vi
chiếm đoạt của các đối thủ cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
sâu rộng như hiện nay.
Nam về sở hữu trí tuệ đáp ứng yêu cầu Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế”
(2002) của Đỗ Việt Dũng; “Những giải pháp nhằm hoàn thiện môi trường
pháp lý về bảo hộ sở hữu trí tuệ ở Việt Nam nhằm phát triển thị trường khoa
học và công nghệ, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế” (2004) của
Nguyễn Thị Phương Lan; “Bảo vệ sở hữu trí tuệ tại biên giới: thực trạng và
giải pháp” (2006) của Bùi Thiện Phú; “Những khía cạnh thương mại liên
quan đến quyền sở hữu công nghiệp và khả năng khai thác đối với doanh
nghiệp Việt Nam” (2007) của Nguyễn Thị Thu Hiền; “Bảo hộ quyền sở hữu
2
trí tuệ đối với NH khi Việt Nam trở thành thành viên WTO” (2008) của Trần
Minh Hương…
Tuy nhiên chưa có luận văn hay công trình nghiên cứu đề cập hoạt động
bảo vệ quyền SHTT đối với NH. Như vậy, đề tài “Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
đối với nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam hiện nay”là đề tài nghiên cứu độc
lập, không trùng lặp với các đề tài nghiên cứu trước đây.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích tình hình bảo vệ quyền SHTT đối với NH tại Việt
Nam hiện nay và nêu rõ những bất cập trong hoạt động bảo vệ quyền SHTT
đối với NH tại Việt Nam, đề tài đề xuất giải pháp bảo vệ quyền SHTT đối với
nhãn hiệu tại Việt Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, đề tài có nhiệm vụ:
- Nghiên cứu tổng quan về NH cũng như nội dung của hoạt động bảo vệ
quyền SHTT đối với NH;
- Phân tích, đánh giá thực trạng bảo vệ quyền SHTT đối với NH trong
từng giai đoạn;
6.1. Ý nghĩa lý luận
Đánh giá thực trạng bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu hiện nay.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu giúp đánh giá những tồn tại hạn chế của việc bảo vệ
quyền SHTT đối với nhãn hiệu tại Việt Nam qua đó đề xuất giái pháp và
phương hướng trong thời gian tới.
7. Cơ cấu của Luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm 3 chương:
4
- Chương 1.Những vấn đề lý luận về nhãn hiệu và hoạt động bảo vệ
quyền SHTT đối với nhãn hiệu.
- Chương 2. Thực trạng hoạt động bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu
tại Việt Nam.
- Chương 3. Giải pháp bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu tại Việt
Nam hiện nay.
5
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHÃN HIỆU
VÀ HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU
1.1. Quyền Sở hữu trí tuệ đối với Nhãn hiệu
1.1.1. Sự hình thành nhãn hiệu
Nhãn hiệu đã được sử dụng để nhận biết nguồn gốc của sản phẩm. Cách
a. Định nghĩa
Theo Hiệp định TRIPS - Hiệp định về những khía cạnh thương mại của
quyền SHTT của WTO, “nhãn hiệu” được định nghĩa là “bất kỳ một dấu hiệu,
hoặc tổ hợp các dấu hiệu, có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của
một doanh nghiệp với hàng hoá hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác, đều
có thể làm nhãn hiệu. Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ, kể cả tên riêng, các
chữ cái, chữ số, các yếu tố hình hoạ và tổ hợp các mầu sắc cũng như tổ hợp
bất kỳ của các dấu hiệu đó, phải có khả năng được đăng ký là nhãn
hiệu”[30].
Từ khái niệm trên cho thấy, trong pháp luật quốc tế, các khái niệm
thường được quy định một cách khái quát, chung chung, mang tầm vĩ mô.
Việc xác định một đối tượng bất kỳ có phải là NH hay không thì người ta sẽ
căn cứ vào mục đích sử dụng của nó và “bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng
phân biệt hàng hóa này với hàng hóa khác” thì đều có thể xem là yếu tố cấu
thành nên một NH.
Theo Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005– đạo luật chuyên ngành đầu tiên của
Việt Nam về SHTT, NH được định nghĩa như sau: “Nhãn hiệu là dấu hiệu
dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác
nhau”[19,tr.3].
7
Qua các định nghĩa trên ta thấy có hai khía cạnh của NH, nhưng phụ
thuộc lẫn nhau và trong thực tế cần luôn được xem xét cùng nhau. Để người
tiêu dùng có dùng để phân biệt một sản phẩm, NH phải chỉ ra được nguồn gốc
của hàng hóa. Điều này không có nghĩa là NH phải thông tin cho người tiêu
dùng về người thực sự đã sản xuất ra sản phẩm hoặc thậm chí người bán sản
phẩm, chỉ cần cho người tiêu dùng có thể tin tưởng vào doanh nghiệp nhất
định, là bên có trách nhiệm về sản phẩm được bán ra mang NH, chịu trách
Biểu tượng phải kết hợp chặt chẽ với tên nhãn hiệu. Dưới góc độ xây dựng
NH, biểu tượng là thành tố đồ họa của nhãn hiệu góp phần quan trọng trong
nhận thức của khách hàng về nhãn hiệu. Dưới góc độ pháp luật, biểu tượng
gồm các yếu tố hình độc đáo, riêng có tạo thành một chỉnh thể thống nhất.
Biểu tượng tạo ra sự phân biệt của sản phẩm vì vậy biểu tượng được xem xét
bảo hộ với tư cách là NH. Các quy tắc sáng tạo biểu tượng gồm:
- Biểu tượng mang hình ảnh của doanh nghiệp: các yếu tố hình cần khắc
họa được điểm khác biệt của doanh nghiệp.
- Biểu tượng có ý nghĩa văn hóa đặc thù.
- Dễ hiểu: các yếu tố hàm chứa hình ảnh thông dụng.
- Biểu tượng phải đảm bảo tính cân đối và hài hòa, tạo thành một chỉnh
thể thống nhất.
Ví dụ:
Nhãn hiệu VNPT của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam bao
gồm tên nhãn hiệu là chữ “VNPT cuộc sống đích thực” và biểu tượng là chữ
V được vẽ cách điệu.
9
c. Phân biệt nhãn hiệu với một số khái niệm khác
Trong thực tế có một số khái niệm rất dễ gây nhầm lẫn với khái niệm
nhãn hiệu như tên thương mại, nhãn hàng hoá, thương hiệu. Vì vậy cần phân
biệt các khái niệm trên với khái niệm NH.
Tên thương mại và nhãn hiệu đều là đối tượng của quyền sở hữu công
nghiệp, tuy nhiên NH có thể được bảo hộ thông qua việc đăng ký còn quyền
sở hữu đối với tên thương mại tự động phát sinh khi hội đủ các điều kiện quy
định mà không cần phải đăng ký. Bên cạnh đó, NH có chức năng phân biệt
hàng hóa/dịch vụ cùng loại của các doanh nghiệp khác nhau còn chức năng
khu vực để chứng nhận cho sự hiện diện của hàng hoá trên thị trường, còn
thương hiệu là kết quả của những nỗ lực xây dựng, phát triển của doanh nghiệp
và tuỳ thuộc cả vào sự nhận thức của người tiêu dùng đối với cái tên đó trên thị
trường. NH đại diện cho sự hiện hữu của cái tên đó, còn thương hiệu thể hiện
cho “phần hồn” của nó. Như vậy, thương hiệu và NH là hai phạm trù khác biệt
nhau. NH thuộc phạm trù về pháp lý, về SHTT, còn thương hiệu thuộc phạm
trù về nhận thức của người tiêu dùng đối với các sản phẩm hoặc đối với một
doanh nghiệp. Một bên để bảo vệ cho quyền lợi hợp pháp của doanh nghiệp,
còn một bên bảo vệ quyền lợi của sản phẩm trong ý thức của người tiêu dùng.
Cụ thể hơn, khi gắn với sản phẩm thì nó là NH và khi gắn với hình ảnh của
doanh nghiệp thì nó là thương hiệu, khi thương hiệu gắn cho sản phẩm đáp ứng
tiêu chuẩn bảo hộ thì nó trở thành NH. Ngoài ra, theo quy định của luật quốc tế
và luật quốc gia, thương hiệu không phải là đối tượng bảo hộ của quyền SHTT
nhưng NH lại là đối tượng bảo hộ của quyền SHTT.
1.1.3. Các loại nhãn hiệu
Bên cạnh NH hàng hóa thông thường, NH hàng hóa còn gồm NH tập
thể, NH chứng nhận, NH liên kết và NH nổi tiếng.
a. Nhãn hiệu tập thể
NH tập thể là NH dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các thành
11
viên của tổ chức là chủ sở hữu NH đó với hàng hoá, dịch vụ của tổ chức, cá
nhân không phải là thành viên của tổ chức đó[19,tr.3]. Gốm Bát Tràng, lụa
Vạn Phúc, cốm làng Vòng, tranh Đông Hồ….là những NH tập thể nổi tiếng
tại Việt Nam. Như vậy, NH tập thể thường là của một hiệp hội hoặc một tập
thể mà các thành viên của nó có thể sử dụng NH tập thể để quảng bá cho sản
phẩm của mình. Hiệp hội thường thiết lập một hệ thống các tiêu chuẩn nhất
định cho việc sử dụng NH tập thể (ví dụ như tiêu chuẩn về chất lượng) và cho
c. Nhãn hiệu liên kết
Nhãn hiệu liên kết là các NH do cùng một chủ thể đăng ký, trùng hoặc
tương tự nhau dùng cho sản phẩm, dịch vụ cùng loại hoặc tương tự nhau hoặc
có liên quan với nhau[19,tr.3]. Việc đăng ký NH liên kết làm tăng phạm vi
bảo hộ của NH, tránh trường hợp doanh nghiệp khác sử dụng NH tương tự
với NH đó. Tuy nhiên, khi đăng ký NH liên kết, doanh nghiệp phải chỉ ra NH
nào là NH cơ bản, nếu không các NH đó sẽ được coi là độc lập với nhau.
Chẳng hạn khi đăng ký bảo hộ NH Phú Hưng và các NH liên quan như Phí
Hưng, Phúc Hưng, PH Hưng, Phu Hưng…. thì phải chỉ ra Phú Hưng là NH cơ
bản còn các NH kia là NH liên kết.
d. Nhãn hiệu nổi tiếng
Nhãn hiệu nổi tiếng là NH được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên
toàn lãnh thổ Việt Nam[19,tr.3]. Các NH nổi tiếng trên thị trường Việt Nam
như Coca - Cola, Pepsi, Honda, Bảo Việt….. là những NH mà hầu hết mọi
người dân Việt Nam đều biết đến: đi xe Honda, uống nước giải khát Coca Cola hay mua bảo hiểm của Bảo Việt….Quyền đối với NH nổi tiếng cũng
giống như quyền đối với các NH thông thường. Ngoài ra, nó còn được mở
rộng thêm đối với người sử dụng NH đó, hoặc NH tương tự cho các hàng hoá
không liên quan, không tương tự, nhưng nếu gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng
hoá, hay là gây nhầm lẫn về quan hệ giữa người sử dụng NH với người chủ sở
hữu NH, ví dụ như quan hệ công ty mẹ, công ty con, quan hệ liên doanh, lúc
13
đó vẫn có thể bị coi là xâm phạm quyền đối với NH nổi tiếng. Như vậy, phạm
vi bảo hộ của NH nổi tiếng bao gồm tất cả các loại sản phẩm dịch vụ trên thị
trường chứ không giới hạn trong lĩnh vực kinh doanh của chủ sở hữu NH đó.
Cả Công ước Pari về bảo hộ sở hữu công nghiệp và pháp luật Việt Nam đều
quy định về việc xác lập quyền SHTT đối với NH nổi tiếng mà không cần
phải đăng ký[19,tr.4]. Theo đó, quyền đối với NH nổi tiếng được xác lập khi
thể quan trọng và hữu ích giống như mô tả kỹ thuật chi tiết về đặc trưng của
sản phẩm làm cho việc sử dụng sản phẩm đó dễ dàng hơn so với một sản phẩm
khác. Thêm vào đó NH có thể được người tiêu dùng thông thạo sử dụng làm
nguồn bổ sung cho thông tin chi tiết về sản phẩm, như là một cách để thu hẹp
phạm vi lựa chọn và để có quyết định mua hàng hóa đúng đắn.
Vai trò thứ hai của nhãn hiệu là khuyến khích người bán đầu tư vào chất
lượng sản phẩm, qua đó ý nghĩa tích cực của nhãn hiệu sẽ được người tiêu
dùng xác nhận bằng kinh nghiệm của mình đối với hàng hóa và dịch vụ mang
nhãn hiệu. Khi nhãn hiệu trở nên nổi tiếng, có uy tín trên thị trường nó sẽ trở
thành một chỉ dẫn hiệu quả về mức độ chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ
và chỉ dẫn về sự hài lòng của công chúng đối với sản phẩm và dịch vụ đó.
Điều này khuyến khích nhiều công ty đang rất thành công trong việc sử dụng
nhãn hiệu của mình, tiếp tục sản xuất hàng hóa và cung cấp dịch vụ thỏa mãn
nhu cầu của người tiêu dùng, dựa trên lợi ích kinh doanh lâu dài. Do đó, nhãn
hiệu khuyến khích người bán đầu tư vào chất lượng sản phẩm, bảo dưỡng, cải
tiến sản phẩm. Điều này đem lại lợi ích cho toàn xã hội.
Nói tóm lại, chủ nhãn hiệu sẽ đạt được được những thành quả từ việc
phát triển nhãn hiệu, đó là sự trung thành của khách hàng. Ngược lại, chất
lượng sản phẩm kém khi đi kèm với nhãn hiệu sẽ gây hậu quả nghiêm trọng
đối với hoạt động kinh doanh. Thái độ tiêu cực của người tiêu dùng đối với
sản phẩm sẽ ảnh hưởng xấu tới nhãn hiệu, và nó trở thành một dấu hiệu đem
lại phản ứng trái ngược. Khi đưa ra một nhãn hiệu để phân biệt với sản phẩm
15
khác nhằm gây sự chú ý đối với người tiêu dùng, nhãn hiệu cũng phát sinh
trách nhiệm. Một nhãn hiệu trên thực tế là cách biểu đạt một lời hứa. Người
tiêu dùng mua một sản phẩm nào đó vì nhãn hiệu “hứa” có một chất lượng
nhất định, nhưng nếu lời hứa đó không được thực hiện và sản phẩm không
nghiệp với tư cách là chủ sở hữu nhãn hiệu độc quyền sử dụng, chuyển giao
quyền sử dụng, khai thác các lợi ích khác từ nhãn hiệu.
Nhãn hiệu được bảo hộ là cơ sở để các doanh nghiệp chống lại các hành
vi xâm phạm (làm giả, làm nhái sản phẩm) có quyền ngăn cấm người khác
không được sử dụng nhãn hiệu nếu không được sự đồng ý của mình. Nếu
người khác vi phạm quyền sở hữu nhãn hiệu, doanh nghiệp có quyền yêu cầu
các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền buộc bên vi phạm phải chấm dứt các
hành vi xâm phạm và bồi thường thiệt hại. Chủ sở hữu nhãn hiệu có thể khởi
kiện ra tòa án hoặc trọng tài để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
1.2. Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu
1.2.1. Quyền Sở hữu trí tuệ đối với Nhãn hiệu
Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa/dịch vụ của các tổ
chức, cá nhân khác nhau. Việc xác lập quyền SHTT đối với NH sẽ tạo sự độc
quyền cho doanh nghiệp sở hữu. Khi NH được Nhà nước bảo hộ thì doanh
nghiệp với tư cách là chủ sở hữu nhãn hiệu độc quyền sử dụng, chuyển giao
quyền sử dụng, khai thác các lợi ích khác từ nhãn hiệu.
Trí tuệ là khả năng nhận thức lí tính đạt đến một trình độ nhất định.
Quyền sở hữu trí tuệ đối với NH bao gồm các quyền sở hữu đối với sản phẩm
của hoạt động trí tuệ về Nhãn hiệu
1.2.2. Sự cần thiết phải bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu
Bảo vệ quyền SHTT đối với NH là việc Nhà nước sử dụng công cụ pháp
lý và quyền lực bảo đảm cho các chủ sở hữu thực thi các quyền đối với NH
của họ, ngăn chặn và xử lý các hành vi xâm phạm tài sản/quyền do người thứ
ba thực hiện. Có một số lý do giải thích cho sự cần thiết phải có cơ chế bảo vệ
quyền SHTT đối với NH:
17
Nhãn hiệu đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với sự phát triển của
Phạm vi bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu:
Phạm vi bảo hộ một NH bao gồm chính nhãn hiệu đó và các yếu tố
độc đáo trong nhãn hiệu khiến người tiêu dùng có thể phân biệt được giữa
sản phẩm của chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hoá và các sản phẩm cùng loại.
Theo đó, nó không chỉ gồm sản phẩm có nhãn hiệu giống nhãn hiệu được
mô tả trên Giấy chứng nhận nhãn hiệu mà cả các sản phẩm có nhãn hiệu
“tương tự tới mức gây nhầm lẫn”. Đó là vì đối tượng bảo hộ của nhãn hiệu
hàng hoá là khả năng phân biệt của sản phẩm và nguồn gốc của sản phẩm.
Như vậy, khi được cấp Giấy chứng nhận nhãn hiệu, một nhãn hiệu sẽ được
bảo hộ trong phạm vi toàn lãnh thổ của quốc gia và trong nhóm sản phẩm
mà nhãn hiệu đó được bảo hộ. Tuy nhiên, khi một nhãn hiệu được công
nhận là nổi tiếng ở một quốc gia, phạm vi bảo hộ là mọi chủng loại hàng
hoá trên thị trường, kể cả hàng hoá, dịch vụ không nằm trong lĩnh vực kinh
doanh của chủ nhãn hiệu đó.
Thời hạn bảo hộ: Thời gian bảo hộ nhãn hiệu là khoảng thời gian mà chủ
nhãn hiệu có độc quyền đối với nhãn hiệu đó. Đối với NH thông thường là 10
năm, có thể gia hạn nhiều lần liên tiếp, mỗi lần 10 năm và không hạn chế số
lần gia hạn. Đối với nhãn hiệu nổi tiếng, thời gian bảo hộ là vĩnh viễn.
Hành vi sử dụng một nhãn hiệu bị coi là xâm phạm:
Hành vi sử dụng một NH trong thời hạn bảo hộ bị coi là hành vi xâm
phạm quyền SHTT đối với NH bao gồm 2 khía cạnh: sử dụng dấu hiệu trùng
với dấu hiệu được bảo hộ (sản xuất, buôn bán hàng giả), hoặc sử dụng những
dấu hiệu tương tự có thể gây nhầm lẫn cho người sử dụng về sản phẩm hay
xuất xứ sản phẩm (sản xuất, buôn bán hàng nhái).
Dấu hiệu trùng với nhãn hiệu thuộc phạm vi bảo hộ là dấu hiệu giống hệt
về cấu trúc, nội dung, ý nghĩa và hình thức thể hiện với nhãn hiệu thuộc phạm
vi bảo hộ. Tuy nhiên hai nhãn hiệu này phải có cùng bản chất hoặc bản chất
19