Trách nhiệm vật chất đối với quan chức theo pháp luật thời nguyễn ở việt nam (giai đoạn 1802 – 1884) - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LẠI SƠN TÙNG

TRÁCH NHIỆM VẬT CHẤT ĐỐI VỚI QUAN CHỨC THEO
PHÁP LUẬT THỜI NGUYỄN Ở VIỆT NAM
(GIAI ĐOẠN 1802 – 1884)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số: 60 38 01 01

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Văn Động

HÀ NỘI – NĂM 2016


LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, cho phép tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc
tới các thầy cô giáo của trường Đại học Luật Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô
trong tổ bộ môn Lý luận nhà nước và pháp luật đã truyền đạt những kiến thức
quý báu cho tôi trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại trường. Đặc biệt, tôi
xin được gửi lời cảm tạ sâu sắc nhất tới PGS. TS. Nguyễn Văn Động - người đã
tận tình hướng dẫn, động viên tôi trong suốt thời gian hoàn thành luận văn thạc
sĩ của mình. Tôi xin bày tỏ sự biết ơn chân thành, kính chúc thầy sức khỏe và
công tác tốt.

MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ...................................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài Luận văn ....................................................... 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn ....................................... 3
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn....................................... 4
5. Cơ sở phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu của Luận văn .. 5
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận văn ............................................. 5
7. Kết cấu của Luận văn ................................................................................ 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TRÁCH NHIỆM VẬT CHẤT ĐỐI
VỚI QUAN CHỨC THEO PHÁP LUẬT THỜI NGUYỄN Ở VIỆT NAM
(GIAI ĐOẠN 1802-1884) ................................................................................. 7
1.1. Bối cảnh nhà Nguyễn khi thiết lập vương triều ...................................... 7
1.2. Tiền đề tư tưởng của trách nhiệm vật chất đối với quan chức theo pháp
luật thời Nguyễn ở Việt Nam (giai đoạn 1802-1884) ....................................... 9
1.2.1. Sự tiếp thu tư tưởng từ Trung Quốc về trách nhiệm vật chất đối với
quan chức .................................................................................................. 10
1.2.2. Sự kế thừa tư tưởng pháp lý về trách nhiệm vật chất đối với quan chức
từ triều Lê Sơ ............................................................................................. 18
1.3. Tiền đề thực tiễn của trách nhiệm vật chất đối với quan chức theo pháp
luật thời Nguyễn ở Việt Nam (giai đoạn 1802-1884) ..................................... 21
1.4. Khái niệm, đặc điểm và phân loại trách nhiệm vật chất đối với quan
chức theo pháp luật thời Nguyễn ở Việt Nam (giai đoạn 1802-1884) ............ 24
1.4.1. Khái niệm và đặc điểm trách nhiệm vật chất đối với quan chức ....... 24
1.4.2. Phân loại trách nhiệm vật chất đối với quan chức theo pháp luật thời
Nguyễn ở Việt Nam (giai đoạn 1802-1884) ................................................... 30
CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT THỜI NGUYỄN Ở VIỆT NAM (GIAI ĐOẠN
1802-1884) VỀ TRÁCH NHIỆM VẬT CHẤT ĐỐI VỚI QUAN CHỨC .... 34
2.1. Hình thức của pháp luật thời Nguyễn ở Việt Nam (giai đoạn 1802-1884)
về trách nhiệm vật chất đối với quan chức ..................................................... 34
2.2. Nội dung của pháp luật thời Nguyễn ở Việt Nam (giai đoạn 1802-1884)

1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Duy trì công bằng xã hội là điều nên làm và buộc phải làm của một nhà
nước dân chủ, chân chính. Người gây ra thiệt hại phải bồi thường cho người bị
thiệt hại, điều đó phù hợp với đạo lý, phong tục tập quán của người Việt Nam.
Đương nhiên, cán bộ, công chức, viên chức không nằm ngoài quỹ đạo đó,
nhưng tìm ra phương thức xử lý đối với cán bộ, công chức, viên chức trong khi
thi hành công vụ sao cho phù hợp, vừa thể hiện công bằng, vừa thể hiện chính
sách bảo hộ chế độ công vụ, giúp họ yên tâm, chủ động, mạnh dạn trong khi thi
hành công vụ là điều cần thiết. Xã hội muốn phát triển bền vững phải được tạo
dựng bởi những con người hết lòng trung thành, có trí tuệ và năng lực. Pháp
luật về trách nhiệm vật chất đối với cán bộ, công chức, viên chức là một trong
những yếu tố góp phần nâng cao tinh thần trách nhiệm của họ.
Tuy nhiên, hiện nay vấn đề trách nhiệm vật chất đối với cán bộ, công
chức, viên chức gây thiệt hại trong khi thi hành công vụ chưa được đánh giá
đúng mức, mặc dù rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật được ban hành trong
thời gian gần đây điều chỉnh vấn đề này, tiêu biểu là Luật Cán bộ, công chức
năm 2008, Luật Viên chức năm 2010 và Luật trách nhiệm bồi thường nhà nước
năm 2009.
Do vậy, để hoạt động thực thi công vụ ngày càng hiệu quả hơn trên thực
tế, bên cạnh việc nghiên cứu cách thức tổ chức, hoạt động của các quốc gia có
nền văn hóa pháp lý cao thì việc nghiên cứu một cách hệ thống những kinh
nghiệm xây dựng pháp luật cũng như áp dụng pháp luật về trách nhiệm vật chất
đối với quan chức của ông cha ta, nhằm kế thừa những yếu tố tinh túy, hợp lý
phù hợp với nền văn hóa, lối sống và phong tục tập quán của dân tộc là điều
hết sức cần thiết. Trong các triều đại phong kiến Việt Nam thì hệ thống các văn
bản quy phạm pháp luật dưới triều Nguyễn quy định về trách nhiệm vật chất
của quan chức rất phong phú. Bên cạnh đó, các vụ án xảy ra trên thực tế cũng

phạm, Đại học Huế năm 2012; “Về pháp luật dành cho quan lại thời Nguyễn
(1802-1883)”, Trần Thị Thanh Thanh, Hội thảo quốc tế về Việt Nam học,
Trung tâm KHXH&NV quốc gia, Nxb. Thế Giới, Hà Nội, 1998; “Các biện
pháp chế tài để điều tiết cực quyền của bộ máy nhà nước tập quyền triều


3

Nguyễn” và “Các biện pháp phòng chống tham nhũng của triều Nguyễn trong
việc xây dựng Kinh đô Huế: Tác dụng và bài học kinh nghiệm”, trong “Thuận
Hóa – Phú Xuân – Thừa Thiên Huế: 700 năm hình thành và phát triển”, Nxb.
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2010; “Một số vấn đề quan chế triều Nguyễn”,
Nxb. Thuận hóa, Huế, 1998; “Mấy vấn đề về quản lý nhà nước và củng cố
pháp quyền trong lịch sử Việt Nam”, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995;
“Nhà nước và pháp luật thời phong kiến Việt Nam những suy ngẫm” của Bùi
Xuân Đính, Huỳnh Công Bá, 2012,…
Nội dung về trách nhiệm vật chất đối với quan chức chỉ là một khía cạnh
nhỏ trong các công trình nghiên cứu này. Còn đối với trách nhiệm vật chất nói
chung đối với cán bộ, công chức hiện nay thì chưa có nhiều công trình nghiên
cứu sâu về vấn đề này, chỉ có một số ít đề tài như Luận án tiến sĩ luật học
“Trách nhiệm vật chất đối với công chức theo pháp luật Việt Nam hiện nay”
của Trần Thị Hiền, Trường đại học Luật Hà Nội, 2008.
Tóm lại, cho đến nay, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách
đầy đủ, toàn diện về trách nhiệm vật chất đối với quan chức theo pháp luật
triều Nguyễn (giai đoạn 1802-1884).
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là các quy định pháp luật về trách
nhiệm vật chất đối với quan chức trong một số văn bản pháp luật triều Nguyễn
như: Hoàng Việt luật lệ, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ,…; thực trạng áp
dụng các quy định pháp luật về trách nhiệm vật chất đối với quan chức ở bộ

Thiệu Trị (1841-1847), Tự Đức (1848-1883), Dục Đức (làm vua 3 ngày), Hiệp
Hoà (6/1883-11/1883), Kiến Phúc (12/1883-8/1884). Luận văn tập trung chủ
yếu vào 4 đời vua đầu triều Nguyễn là Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự
Đức. Những đời vua sau đó trị vì trong thời gian hết sức ngắn ngủi và không có
đóng góp đáng kể cho Vương triều Nguyễn nên chúng tôi không đề cập đến
trong Luận văn.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn
Mục đích của Luận văn là nghiên cứu về trách nhiệm vật chất đối với
quan chức trong pháp luật phong kiến thời Nguyễn (giai đoạn 1802-1994)
nhằm tìm ra những bài học kinh nghiệm, những giá trị lịch sử và đương đại có
thể vận dụng sáng tạo vào công cuộc cải cách Nhà nước, pháp luật, cải cách


5

nền hành chính ở Việt Nam, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt
Nam hiện nay.
Để đạt được mục đích đó, Luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu cơ sở lý luận
của trách nhiệm vật chất đối với quan chức theo pháp luật thời Nguyễn ở Việt
Nam (giai đoạn 1802 – 1884); phân tích hình thức, nội dung pháp luật thời
Nguyễn ở Việt Nam (giai đoạn 1802-1884) về trách nhiệm vật chất đối với
quan chức; phân tích thực tiễn áp dụng trách nhiệm vật chất đối với quan chức
theo pháp luật thời Nguyễn (giai đoạn 1802-1884) và rút ra những giá trị tham
khảo đối với việc hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về trách
nhiệm vật chất đối với cán bộ, công chức, viên chức ở Việt Nam hiện nay.
5. Cơ sở phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu của Luận
văn
Ngoài các phương pháp nghiên cứu có tính chất cơ sở phương pháp luận
cho các ngành khoa học xã hội nói chung như phương pháp duy vật biện
chứng, phương pháp duy vật lịch sử, chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí


7

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TRÁCH NHIỆM VẬT CHẤT
ĐỐI VỚI QUAN CHỨC THEO PHÁP LUẬT THỜI NGUYỄN Ở VIỆT
NAM (GIAI ĐOẠN 1802-1884)
1.1. Bối cảnh nhà Nguyễn khi thiết lập vương triều
Năm 1802, sau khi đánh bại triều Tây Sơn, Nguyễn Ánh đã lập ra nhà
Nguyễn, tự đặt niên hiệu là Gia Long. Thành lập và thống trị trong thế kỉ XIX,
nhà Nguyễn thừa hưởng được thành quả to lớn của phong trào nông dân Tây
Sơn trong sự nghiệp thống nhất đất nước, làm chủ một lãnh thổ trải dài từ Ải
Nam Quan đến mũi Cà Mau bao gồm cả Đàng Trong và Đàng Ngoài cũ. Cũng
bởi mặc cảm với vị trí của mình, năm 1803, Gia Long cử sứ bộ do Lê Quang
Định đứng đầu, sang nhà Thanh xin quốc hiệu và đầu năm 1804 chính thức
công bố tên nước là Việt Nam. Do phản ứng của nhân dân, năm 1813, Gia
Long cho trở lại tên Đại Việt. Năm 1838, Minh Mệnh bất bình đã khẳng định
lại quốc hiệu là Đại Nam và cấm nhân dân “không được nói lại hai chữ Đại
Việt”. Kinh đô đóng ở Phú Xuân (Huế) 40, tr. 437.
Về chính trị, khác với các vương triều trước, nhà Nguyễn giành vương
quyền bằng việc tiêu diệt nhà Tây Sơn, một vương triều tiến bộ đã lập được hai
võ công hiển hách đối với dân tộc là đánh bại quân xâm lược Xiêm và Mãn
Thanh. Thế nên, mặc dù là một Hoàng đế sáng nghiệp nhưng, Gia Long không
những ít được thiện cảm của nhân dân mà còn bị phê phán là kẻ “cõng rắn cắn
gà nhà”, câu kết với giặc ngoại xâm, phản bội lợi ích của dân tộc. Do đó, mâu
thuẫn nảy sinh giữa dân tộc – nhân dân và ngôi vị Hoàng đế của Gia Long. Từ
mâu thuẫn này đã dẫn đến tình trạng làm suy yếu sức đề kháng của dân tộc
dưới thời nhà Nguyễn trị vì là điều dễ hiểu. Trong hơn 80 năm thống trị của
nhà Nguyễn, đã có hơn 500 cuộc khởi nghĩa của nhân dân dưới danh nghĩa phù
Lê, phù Trịnh hoặc chống tham quan ô lại. Bên cạnh đó, sự xâm thực của các
thế lực tư bản phương Tây, nhất là của người Pháp ngày càng gia tăng mạnh

phần ruộng công nhỏ nhoi vừa xa, vừa xấu. Nhiều người phải chạy vạy buôn
bán ở các chợ làng, chợ huyện hoặc làm thủ công, gánh vác thuê cho các nhà
buôn bán. Họ là lớp người gánh chịu mọi tai họa của tự nhiên, mọi thiệt thòi,
bất công của xã hội 40, tr. 454. Thế nên, đời sống nhân dân vô cùng cực khổ,
mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt. Các cuộc đấu tranh cũng do đó mà bùng
lên, như nửa đầu thế kỉ XIX đã có 400 cuộc khởi nghĩa nổ ra trên khắp toàn


9

quốc nhằm chống lại ách áp bức bóc lột của tầng lớp thống trị dưới triều
Nguyễn.
Nhà Nguyễn ra đời và tồn tại không những trong một bối cảnh rất bất lợi
của đất nước. Một trong những khó khăn nan giải nhất đó chính là tệ quan liêu,
tham nhũng được đẩy lên cao nhất trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam.
Chính vì thế, ngay từ buổi đầu, việc áp dụng các chế tài pháp luật trong đó có
trách nhiệm vật chất nhằm răn đe, hạn chế tình trạng quan liêu, lộng quyền
đang xảy ra cũng như để chấn chỉnh đội ngũ quan chức và xây dựng bộ máy
nhà nước trong sạch, đủ sức gánh vác các trọng trách lịch sử của đất nước
chính là một trong những yêu cầu cấp thiết nhất bấy giờ.
1.2. Tiền đề tư tưởng của trách nhiệm vật chất đối với quan chức
theo pháp luật thời Nguyễn ở Việt Nam (giai đoạn 1802-1884)
Tư tưởng về đường lối trị nước là sự phản ánh ý chí, chủ trương của các
triều đại phong kiến trong lịch sử, đồng thời quyết định sự tồn vong của mỗi
triều đại. Trong lịch sử Việt Nam gắn với các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý,
Trần, tư tưởng về đường lối trị nước được hình thành và phát triển cùng với sự
hoàn thiện của bộ máy nhà nước phong kiến. Luật pháp được xem là mấu chốt
cho việc trị quốc, giữ vững cơ nghiệp của các triều đại. Đến giai đoạn 18021884, khi nhà Nguyễn đang nắm quyền trị vì đất nước và chưa bị sự đô hộ của
thực dân Pháp, đường lối cai trị đã được thể chế thành các quy định pháp luật
trong các văn bản như Hoàng Việt luật lệ, Khâm định Đại Nam hội điển sự

điểm cơ bản sau:
Một là, quan chức phải trung thành với vua và tận tụy phục vụ nhà nước,
nhân dân
Lên ngôi sau sự sụp đổ của một dòng họ phong kiến khác, vua Gia Long
hoàn toàn ý thức được tầm quan trọng của việc xây dựng hình ảnh một vị vua
hiền cùng với các quan liêm khiết trong mắt dân chúng. Vậy nên đường lối
chính trị của triều Nguyễn có nguồn gốc từ các học thuyết Nho giáo và đều
được các vua triều Nguyễn am hiểu và sùng bái. Sau khi lật đổ nhà Tây Sơn lập
ra nhà Nguyễn, vua Gia Long tiếp tục học theo Lê Thái Tổ chọn Nho giáo làm
hệ tư tưởng chính thống. Đến thời Minh Mệnh tiếp tục khẳng định và nâng cao
hơn nữa vị trí của Nho giáo. Tự Đức là nhà một nhà Nho uyên bác, tinh thông
văn học lịch sử cổ kim. Ông đã đề xướng nhiều hoạt động học thuật của Nho
gia nhằm khẳng định hơn nữa vị trí, vai trò của Nho học trong xã hội. Với


11

mong muốn duy trì dài lâu sự tồn tại của nền quân chủ chuyên chế, nhà
Nguyễn đã tìm mọi cách thực thi đường lối đức trị, vận dụng các nguyên tắc
đạo đức như “tam cương, ngũ thường”, nguyên tắc chính danh, tôn quân
quyền,… để xây dựng một xã hội hoà mục, trị bình theo đúng lý tưởng của
Nho giáo. Với tư cách là học thuyết chính trị - xã hội đã được các triều đại
phong kiến Việt Nam từ thế kỷ XV đến nửa đầu thế kỷ XIX vận dụng, Nho
giáo đã được sử dụng làm hệ tư tưởng chính trị, là công cụ để xây dựng, quản
lý và bảo vệ triều đại từ thời Lê sơ đến thời Nguyễn. Tính từ khi tiêu diệt triều
Tây Sơn lập nên nhà Nguyễn đến trước khi thực dân Pháp hoàn thành quá trình
xâm lược Việt Nam, triều Nguyễn đã tạo ra những điều kiện hết sức thuận lợi
cho sự độc tôn và thực hiện Nho giáo hoá toàn bộ đời sống xã hội để duy trì
quốc gia và địa vị thống trị của mình [60].
Nho giáo đề cao mối quan hệ tam cương ngũ thường, trong đó mối quan

trong mọi hành động, có thái độ hành xử đúng mực ở mọi nơi, mọi lúc, chứ
không phải khi nhận chức tước mới là làm quan. “Làm tôi thì ở cho trung. Chớ
ở hai lòng mà hóa dở dang” 48. Khổng Tử luôn khẳng định về việc cần thiết
phải có sự tôn trọng của người dưới với người trên. Nếu quan lại làm đúng
chức trách bổn phận của mình “Làm tôi trên phải vì vua dưới phải vì dân”,
giúp vua giáo hóa dân chúng, giữ yên phép nước thì nhà nước thịnh trị, vua giữ
được thiên mệnh, mang tiếng thơm muôn đời.
Thực hành đạo trung của phận làm tôi không phải một chốc, một lát, cũng
không phải chỉ ở trước mặt mà phải có “tâm trung” trong suốt cuộc đời. Khổng
Tử yêu cầu bề tôi thờ vua phải “Dốc một niềm phụng sự bề trên/ Tận trung lúc
bước chân lên. Sử mình khi xuống, nghĩ bền lòng tôi” [3, tr. 87] và “Thờ vua
thì phải tận tâm tận lực làm tốt trọng trách của mình sau mới nghĩ đến bổng
lộc” [41, tr. 455]. Nghĩa là nhận được chức trách vua ban thì trước phải dốc
lòng trung làm cho tốt, sau mới nghĩ đến bổng lộc của bản thân. Học với mục
đích để ra làm quan, giúp triều đình nhưng nếu có tài mà chưa được cắt cử giữ
trọng trách thì quyết không được vì thế mà bất trung. Nhưng thế nào là người
trung? Điều này không được Khổng Tử trình bày thành nguyên tắc mà thường
được nêu ra trong trường hợp cụ thể. Chẳng hạn:
“- Tử Trương hỏi rằng: Quan lệnh doãn Tử Văn, ba lần làm chức lệnh
doãn, không có sắc mặt vui mừng, ba lần thôi chức ấy, không có sắc mặt oán


13

giận. Lại đem việc của lệnh doãn cũ nói cho lệnh doãn mới biết. Người như thế
ra sao?
- Khổng Tử nói: Người trung vậy.
- Tử Trương hỏi: Có phải người nhân chăng?
- Khổng Tử đáp: Chưa biết, sao được là người nhân?” [45, tr. 175].
Qua đây có thể thấy trong quan điểm Khổng Tử người trung chưa chắc đã

cũng như phải làm tròn trách nhiệm đối với an ninh và cuộc sống của nhân dân.
Tuy nhiên, vẫn xuất hiện bộ phận quan chức tham nhũng, cậy quyền thế ức
hiếp nhân dân. Khổng Tử và Mạnh Tử thường nhắc nhở người cầm quyền
không được lạm dụng, phí phạm sức lực, tài sản của dân. Khi muốn sử dụng
sức dân vào việc gì thì phải chú ý tới thời vụ (sử dân dĩ thời), tránh làm ảnh
hưởng đến công việc sản xuất của dân, phải hết lòng phục vụ dân, đừng đòi hỏi
đãi ngộ. Nho giáo coi những người làm quan mà ức hiếp dân chúng, tham
nhũng là những kẻ độc ác, những kẻ đội lốt thú ăn thịt người. Thậm chí, vua
tàn bạo thì dân có thể giết vua như giết một tên thất phu, một kẻ tàn giặc. [49,
tr. 66]. Do vậy, quan chức trong triều đình cần ra sức tích đức, tu thân để vừa
giúp vua đảm nhiệm việc nước vừa là tấm gương đạo đức để nhân dân noi
theo. Tư tưởng cai trị này chính là một trong những nguyên nhân lý giải đường
lối trừng trị nghiêm khắc và triệt để các hành vi phạm tội của quan chức thời
Nguyễn (giai đoạn 1802-1884) trong đó có các quy định về trách nhiệm vật
chất đối với người làm quan.
Hai là, pháp luật là công cụ để quản lý và điều chỉnh hành vi của quan
chức
Triều Nguyễn được thành lập sau một thời kỳ nội chiến kéo dài từ giữa
thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVIII và thực trạng đó dẫn tới hậu quả là kỷ cương
xã hội lỏng lẻo. Vì vậy, nếu chỉ dùng đức và lễ nghĩa cai trị hệ thống quan chức
thì chưa đủ mà phải có một nền pháp luật vững mạnh, thống nhất. Đây cũng là
tư tưởng phù hợp với quan điểm Nho giáo do Mạnh Tử và Tuân Tử bổ sung và
khắc phục từ những tư tưởng, giáo lý ban đầu của Khổng Tử. Mạnh Tử quan
niệm nhân nghĩa là tiền đề đầu tiên để giúp nhà vua cai trị tốt, song như vậy là
chưa đủ mà nhà vua cần phải dựa vào luật pháp nghĩa là kết hợp đức trị với
pháp trị trong việc quản lý hệ thống quan chức triều đình. Ông cho rằng: “Hiện
nay có nhiều vị Quốc trưởng đủ lòng nhân và được tiếng nhân, nhưng chẳng
chịu ban bố ân huệ cho dân nhờ, những vị ấy không thể làm khuôn mẫu cho



nhà nước, Gia Long rất coi trọng hình luật nên ông đã chỉ thị biên soạn bộ luật
của triều Nguyễn gọi là Hoàng Việt luật lệ vào năm 1815. Vua Gia Long chủ


16

trương dùng pháp luật để cai trị đất nước và quản lý xã hội sau thời gian dài
chiến tranh liên miên. Ngay sau khi lên ngôi hoàng đế, ông đã cho xây dựng
một bộ luật mới của triều đại mình dựa trên tinh thần kế thừa, phát triển và
hoàn thiện bộ Luật Hồng Đức cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của đất
nước lúc bấy giờ.
Gia Long cho rằng: “Trẫm nghĩ bậc thánh nhân trị vì thiên hạ, hình phạt
cùng với đức hoá chưa hề bỏ lệch bên nào. Bởi vì nhân sinh nhiều ham muốn,
việc đời không bờ bến, phải dùng hình phạt để ngăn ngừa, không thể nào dựa
vào giáo hoá mà làm cho dân biết được. Cho nên nói rằng hình phạt là công
cụ giúp cho bình trị, há có phải là rỗng suông đâu. Luật lệnh là điều lệ để phán
đoán hình phạt…” [5, tr. 318]. “Vậy ra lệnh cho đình thần, chuẩn theo lệnh
điển các triều, tham khảo luật Hồng Đức và Đại Thanh, lấy bỏ cân nhắc, cốt
sao cho chính đáng, biên tập thành sách. Trẫm thân tự sửa chữa, ban hành ra
thiên hạ, khiến cho biết phép lớn phòng cấm sáng rõ như mặt trời mặt trăng,
không giấu giếm. Lời răn bảo, điều nghiêm cấm mạnh như sấm sét, không ai
được phạm đến…” [5, tr. 319]. Hoàng Việt luật lệ đã kế thừa những nội dung
đức trị của Nho giáo kết hợp với pháp trị. Thế nên, nội dung của Hoàng Việt
luật lệ nói riêng và pháp luật thời Nguyễn nói chung, bên cạnh việc đề cao vị
thế của nhà vua thì còn dùng để quản lý hệ thống quan chức phong kiến, những
người trực tiếp thi hành mệnh lệnh, ý nguyện của nhà vua. Thông qua đó, pháp
luật sẽ giúp đảm bảo trật tự xã hội và bảo vệ quyền thống trị của vương triều.
Ba là, quan chức khi gây thiệt hại cho nhà nước và nhân dân thì phải bồi
thường thiệt hại.
Dưới triều Nguyễn giai đoạn 1802-1884, đối với việc quản lý quan chức

danh mà trách thực”. “Danh” và “thực” hợp nhau thì là “chính danh”, ngược lại
là không “chính danh”. Khi phải – trái, đúng – sai đã phân định thì cứ theo đó
mà thưởng, phạt một cách nghiêm minh. Chính vì vậy, mọi người trong xã hội
đều nhất nhất làm tròn bổn phận, chức vụ của mình, không ai dám làm trái hay
làm quá danh phận đã định. Vậy nên như một lẽ dĩ nhiên là nếu như quan chức
không làm đúng phận sự của mình thì họ sẽ bị trừng phạt. Trong trường hợp
quan chức trì hoãn làm chậm trễ, sai lệch công vụ hoặc thiếu tinh thần trách
nhiệm gây thiệt hại về tài sản của nhà nước và nhân dân thì bên cạnh những
chế tài hình sự thì cũng phải có trách nhiệm bồi thường cho những tổn thất của


18

họ gây ra. Điều này sẽ giúp răn đe, giáo dục quan chức buộc họ phải hành động
theo chức phận của mình.
Để chọn đúng người, giao đúng việc thì vua cần phải dùng “thuật”: “Bề
tôi muốn làm gì thì vua sẽ theo lời mà trao việc, cứ theo việc mà trách công.
Công xứng việc, việc xứng lời thì thưởng. Công không xứng việc, việc không
xứng lời thì phạt” (Hàn Phi Tử, Nhị bính). Theo đó, người tham danh vọng mà
không có đủ tài đức cũng không dám đảm nhận chức vụ. Vì vậy, vua sẽ chọn
được người đủ tài đức để trao quyền hành, công việc. Để vua biết được thế nào
là hình hợp với danh mà thưởng cho đúng công, phạt cho đúng tội, Hàn Phi Tử
đưa ra phép “tham nghiệm” theo hai cách: Một là, vua đem kết quả trực tiếp
kiểm tra và thử lại. Hai là, vua dùng người khác để kiểm tra thểm định lại kết
quả, và người thay vua kiểm tra cũng bị ràng buộc bởi bổn phận, trách nhiệm
cụ thể tương ứng với chức vụ địa vị của mình. Đây cũng chính là cơ sở để các
vua triều Nguyễn thiết lập hệ thống các cơ quan kiểm tra giám sát quan lại,
nhằm qua đó đảm bảo việc thi hành công vụ một cách nghiêm túc và đúng đắn
nhất.
Từ những điều trên, ta có thể thấy rằng, Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc

hệ thống quan chức. Điều ấy thể hiện ở nhiều chỉ dụ cho văn võ bá quan như:
Tháng 7 năm Quang Thuận thứ 5 (1464), khi biếm chức Binh bộ Tả Thị
lang vì mắc lỗi tham tang, vua dụ chung các quan: "Pháp luật là phép công của
nhà nước, ta cùng các ngươi phải tuân theo.” [15, tr. 189].
Tháng 8 năm Hồng Đức thứ 2 (1471), nhân ban hành Hiệu định quan chế,
thực chất là cuộc cải tổ chính trị, sắp xếp lại một cách có hệ thống bộ máy Nhà
nước quân chủ tập quyền, vua dụ các quan và trăm họ rằng đặt ra pháp luật là
“để lớn nhỏ cùng ràng buộc với nhau, khinh trọng để cùng kiềm chế nhau. Uy
quyền không bị lợi dụng, thế nước vậy là khó lay. Thành thói quen theo đạo giữ
phép, không có lỗi trái nghĩa phạm hình.” [52, tr. 13,14].
Trong sắc dụ quan lại cả nước vào tháng 9 năm Hồng Đức thứ 5 (1474),
vua lại khẳng định: “Đặt luật là để trừ gian, sao dung được bọn coi thường
pháp luật” [15, tr. 251].
Với quan điểm nhất quán trên, Lê Thánh Tông luôn quan tâm đến việc
soạn thảo và ban hành các văn bản pháp luật liên quan đến quản lý quan lại.
Theo thống kê từ Đại Việt sử ký toàn thư cho thấy, trong 38 năm trị vì trên
ngai vàng, Lê Thánh Tông đã ban bố 83 sắc lệnh, chỉ dụ liên quan đến công


20

việc hành chính và thể chế quan chức, 8 sắc chỉ liên quan đến quyền, nghĩa vụ,
trách nhiệm của quan lại trông coi pháp luật, 11 sắc chỉ về chống tham tang,
buôn lậu, hối lộ và móc ngoặc. Đặc biệt là vào năm 1483, Quốc triều hình luật
mà ta quen gọi là Bộ luật Hồng Đức chính thức được han hành. Các văn bản
này đã lồng ghép các quy định về trách nhiệm vật chất đối với quan chức gây
thiệt hại về tài sản khi thi hành công vụ, nhằm hạn chế hành hành vị lạm quyền
nhũng nhiễu của đội ngũ quan lại, từ đó tạo đà cho sự ổn định và phát triển xã
hội.
Từ những chính sách đã đề ra, nước Đại Việt thời Lê Thánh Tông được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status