BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TRẦN THỊ MAI
TRÁCH NHIỆM CÔNG VỤ CỦA QUAN LẠI THEO PHÁP LUẬT
THỜI NGUYỄN Ở VIỆT NAM ( GIAI ĐOẠN 1802 – 1884)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số: 60 38 01 01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. NGUYỄN THỊ HỒI
HÀ NỘI - 2016
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, cho phép tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc
tới các thầy, cô giáo của trường Đại học Luật Hà Nội, đặc biệt là các thầy, cô
trong tổ bộ môn Lý luận Nhà nước và pháp luật đã truyền đạt những kiến thức
quý báu cho tôi trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại trường. Đặc biệt,
tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới PGS. TS. Nguyễn Thị Hồi –
người đã tận tình hướng dẫn, động viên tôi trong suốt thời gian hoàn thành
luận văn thạc sĩ của mình. Tôi xin bày tỏ sự biết ơn chân thành, kính chúc cô
sức khỏe và công tác tốt.
Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã luôn ủng hộ
6. Bố cục của Luận văn....................................................................................4
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRÁCH
NHIỆM CÔNG VỤ CỦA QUAN LẠI THEO PHÁP LUẬT THỜI
NGUYỄN Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN (1802 – 1884) ............................. 6
1.1. Bối cảnh thời Nguyễn khi thiết lập Vương triều .................................. 6
1.1.1. Về kinh tế ........................................................................................... 6
1.1.2. Về chính trị - văn hóa, xã hội ............................................................. 8
1.2. Một số quan điểm tác động tới trách nhiệm công vụ của quan lại theo
pháp luật thời Nguyễn ở Việt Nam (giai đoạn 1802 - 1884) ......................... 10
1.2.1. Trách nhiệm công vụ theo quan điểm “Thiên mệnh” .......................... 10
1.2.2. Trách nhiệm công vụ theo quan điểm “chính danh” ........................... 13
1.2.3. Trách nhiệm công vụ theo quan điểm “sửa đức, tu thân”, kết hợp giữa
đức trị và pháp trị ........................................................................................ 15
1.3. Quan niệm về công vụ và trách nhiệm công vụ của quan lại theo pháp
luật thời Nguyễn ở Việt Nam (giai đoạn 1802 - 1884) ................................. 17
1.3.1. Công vụ ............................................................................................... 17
1.3.2. Trách nhiệm công vụ của quan lại theo pháp luật thời Nguyễn (giai
đoạn 1802 – 1884) ...................................................................................... 19
1.4. Các biện pháp bảo đảm trách nhiệm công vụ của quan lại theo pháp luật
thời Nguyễn ở Việt Nam (giai đoạn 1802 - 1884)......................................... 22
1.4.1. Chế độ lương bổng, đãi ngộ ................................................................ 22
1.4.2. Chế độ khen thưởng, hồi tỵ ................................................................. 23
1.4.3. Chế độ thế tập, hưu trí ....................................................................... 24
CHƯƠNG 2. NỘI DUNG TRÁCH NHIỆM CÔNG VỤ, THỰC TIỄN ÁP
DỤNG TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ ĐỐI VỚI QUAN LẠI THEO PHÁP
LUẬT THỜI NGUYỄN (GIAI ĐOẠN 1802 – 1884) VÀ MỘT SỐ GIÁ
TRỊ THAM KHẢO Ở VỆT NAM HIỆN NAY......................................... 25
KẾT LUẬN ................................................................................................. 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
MỞ ĐẦU
1.
Tính cấp thiết của đề tài Luận văn
Hiện nay, trách nhiệm công vụ là một nội dung quan trọng trong hoạt
động của nền hành chính quốc gia. Nhờ có hoạt động công vụ mà Nhà nước
mới thực hiện được các chủ trương, chính sách mang tính chính trị của Đảng
cầm quyền, quản lý mọi mặt của đời sống xã hội và tổ chức việc cung cấp,
phục vụ các nhu cầu, lợi ích thiết yếu của nhân dân. Bên cạnh những đóng
góp to lớn vào sự nghiệp cải cách hành chính và xây dựng nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa thì trách nhiệm công vụ ở Việt Nam hiện vẫn tồn tại
một số hạn chế. Đó là chưa có sự thay đổi triệt để về nhận thức cũng như các
nội dung quy định trách nhiệm công vụ; tính pháp lý của các quy định về
trách nhiệm công vụ chưa cao, do đó chưa định vị chế độ công vụ trong nền
hành chính quốc gia với tư cách là các chế định chính trong hoạt động của
bộ máy nhà nước. Những hạn chế trên làm suy giảm hiệu lực, hiệu quả hoạt
động của các cơ quan nhà nước.
Để giải quyết những khó khăn, vướng mắc đó cần một hệ thống giải
pháp toàn diện. Trong nỗ lực tìm kiếm các biện pháp nhằm nâng cao hiệu
quả của việc thực hiện trách nhiệm công vụ thì trở lại quá khứ, tìm ra những
kinh nghiệm lịch sử là một việc làm cần thiết và ý nghĩa. Nghiên cứu về
trách nhiệm công vụ của quan lại theo pháp luật thời Nguyễn có thể đóng
góp thêm tư liệu tham khảo cho việc hoạch định chính sách về công vụ hiện
hành chính dưới triều Minh Mệnh (1820 – 1840)” của Nguyễn Minh Tường
(1996), (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội) đã nói về quá trình vua Minh Mệnh
cải cách lại tổ chức bộ máy chính quyền từ đời vua Gia Long… Các bài viết
đã làm rõ tổ chức bộ máy nhà nước nói chung và hệ thống quan lại thời
Nguyễn nói riêng nhưng chưa đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu về trách nhiệm
công vụ của quan lại ở thời này.
Về trách nhiệm công vụ của quan lại theo pháp luật thời Nguyễn ở
Việt Nam giai đoạn 1802 – 1884, trong một số công trình, các tác giả có
nghiên cứu một số vấn đề như “Thanh tra, giám sát và khảo xét quan lại
thời phong kiến ở nước ta” của Thái Hoàng và Bùi Quý Lộ đăng trên tạp chí
Nghiên cứu lịch sử (1995) viết về hoạt động thanh tra, giám sát và khảo xét
quan lại trong thời kì phong kiến; “Tuyển chọn, kiểm tra, giám sát đội ngũ
quan lại dưới triều Minh Mệnh” của Bùi Huy Khiên (2006) được đăng trên
tạp chí Nhà nước và pháp luật đề cập đến các kinh nghiệm về việc tuyển
chọn, kiểm tra, giám sát hoạt động đội ngũ quan lại dưới triều Minh Mệnh,
đây là thời kỳ ông vua này đã tiến hành cuộc cải cách hành chính mạnh mẽ
3
và tương đối toàn diện trong lịch sử hành chính nhà nước Việt Nam. Tuy
nhiên, các tác giả mới chỉ nghiên cứu riêng rẽ một số nội dung liên quan đến
trách nhiệm công vụ của quan lại triều Nguyễn mà chưa tìm hiểu trách
nhiệm công vụ của quan lại theo pháp luật thời Nguyễn (giai đoạn 1802 –
1884) một cách cơ bản, đầy đủ và hệ thống như Luận văn này.
3.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu các quy định pháp
Nghiên cứu về các quy định pháp luật về trách nhiệm công vụ của
quan lại thời Nguyễn nhằm mục đích làm rõ một số vấn đề mang tính lý luận
về trách nhiệm công vụ của quan lại theo pháp luật thời Nguyễn ở Việt Nam
(giai đoạn 1802 – 1884), qua đó nhận thức và xác định những giá trị tham
khảo quý báu để phục vụ cho việc xây dựng và thực thi pháp luật công vụ
hiện nay ở Việt Nam, cũng như phục vụ đắc lực cho công cuộc xây dựng,
chỉnh đốn đội ngũ cán bộ, công chức trong thời kì đổi mới của đất nước hiện
nay.
Để đạt được mục đích đó, Luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu một số vấn
đề lý luận về trách nhiệm công vụ của quan lại theo pháp luật thời Nguyễn ở
Việt Nam (giai đoạn 1802 – 1884); phân tích nội dung trách nhiệm công vụ
của quan lại theo pháp luật thời Nguyễn ở Việt Nam (giai đoạn 1802-1884)
đồng thời phân tích thực tiễn áp dụng trách nhiệm pháp lý đối với quan lại
theo pháp luật thời Nguyễn (giai đoạn 1802-1884) và rút ra những giá trị tham
khảo về trách nhiệm công vụ theo pháp luật thời Nguyễn đối với hiện nay.
5.
Phương pháp nghiên cứu của Luận văn
Ngoài các phương pháp nghiên cứu có tính chất cơ sở phương pháp
luận cho các ngành khoa học xã hội nói chung như phương pháp duy vật
biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử, Luận văn còn sử dụng các phương
pháp đặc thù như thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp để đưa ra nhận định,
đánh giá đối với các quy định pháp luật của nhà Nguyễn, rút ra những kinh
nghiệm có thể tham khảo cho ngày nay.
6.
Bố cục của Luận văn
Luận văn ngoài phần Mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo được bố cục
hữu tư nhân về ruộng đất đã phát triển hơn các triều đại trước rất nhiều
nhưng vẫn chưa chiếm ưu thế so với sở hữu Nhà nước và trên danh nghĩa,
Nhà Vua là chủ sở hữu toàn bộ đất đai trong cả nước. Nhà nước phong kiến
triều Nguyễn cho phép ruộng tư phát triển nhưng vẫn duy trì chế độ ruộng
công nên quá trình tư hữu hoá ruộng đất bị kìm hãm. Trong các vương
triều Nguyễn, sở hữu tư nhân tiếp tục được duy trì trong sự quản lý, kiểm
soát chặt chẽ của Nhà nước. Đây là mâu thuẫn rất căn bản trong chế độ sở
hữu ruộng đất. Ruộng đất công thuộc sở hữu nhà nước luôn là nền tảng
kinh tế, là sức mạnh của triều Nguyễn, nhưng nếu ruộng tư không được
khuyến khích phát triển thì sẽ không có sự cạnh tranh, nền sản xuất hàng
hóa không có cơ sở để phát triển và vì vậy, ở thời kỳ này, các nhân tố tư
bản chủ nghĩa chưa nảy sinh, kinh tế hàng hoá chưa có điều kiện phát triển.
Một xã hội với nền kinh tế thuần nông, tự cấp tự túc, khép kín như thế
cùng với chế độ chính trị phong kiến trung ương tập quyền chuyên chế thì
tự nó không thể nảy sinh nhu cầu cải cách. Sự ra đời, tồn tại và phát triển
sở hữu tư nhân về ruộng đất là mặt năng động, phát triển của chế độ
phong kiến, là xu hướng phát triển xã hội, nhưng triều Nguyễn lại chủ
7
trương duy trì, mở rộng ruộng đất công, phát triển các khu vực quản lý
trực tiếp của Nhà nước, làng xã, coi đó là bản chất của chế độ phong kiến
và sở hữu nhà nước là cơ sở kinh tế - xã hội vững chắc bảo đảm cho ổn
định và tồn tại của chế độ phong kiến đó.
Kinh tế nông nghiệp dưới triều Nguyễn chưa đáp ứng được nhu
cầu phát triển của quốc gia. Mặc dù thi hành chính sách “trọng nông”,
nhưng do sự bất lực của Nhà nước phong kiến, chính sách này không những
không bảo vệ và phát triển nông nghiệp mà còn làm cho nông dân lâm
vào cảnh ai oán, điêu tàn, khuyến khích nạn chiếm hữu ruộng đất, ngoài ra
mại, công nghiệp bị ngăn trở, các thị trấn không thành lập được, nạn nhân
dân lưu tán trở nên trầm trọng. Triều đình không thể giải quyết được bằng
chính sách đinh điền. Chính vì vậy, con đường phát triển tự nhiên của kinh
tế Việt Nam lúc ấy chỉ có thể là con đường tiến lên của công thương tư
nhân và công thương nhà nước, nghĩa là con đường tư bản chủ nghĩa, nói
theo danh từ lúc ấy là “phú quốc cường dân” hay là “ngụ binh ư thương”2.
1.1.2. Về chính trị - văn hóa, xã hội
Triều Nguyễn phát triển từ một cái nôi cát cứ phong kiến địa phương
với thời gian chia cắt đất nước hai miền lâu dài trong thời kì chế độ phong
kiến Việt Nam khủng hoảng toàn diện. Sự tàn lụi về chế độ do tập đoàn Lê –
Trịnh để lại, bị nhân dân cả nước lên án. Lòng dân vẫn hướng về chế độ Tây
Sơn. Những tấm gương của họ Trịnh chuyên quyền, của chế độ tể tướng,
Nội các chia năm xẻ bảy của phong kiến Trung Quốc… khiến cho các vua
chúa lưu tâm đến một chế độ tập quyền, chuyên chế. Theo đó mọi quyền lực
tập trung trong tay nhà vua, và lẽ dĩ nhiên, bộ máy giúp việc là quan lại –
cánh tay phải đắc lực của vua được coi trọng và tôn kính hơn, đây là sự tiếp
tục thiết chế quân chủ thời Lê (thế kỷ XV), nhưng được nâng lên mức tập
trung cao hơn, nhằm ứng phó với những biến động xã hội. Chính sách
“bế quan toả cảng” là một mặt trong toàn bộ chính sách “trọng nông ức
thương”, kìm hãm công thương nghiệp của nhà Nguyễn và hệ quả là
Việt Nam trở thành cô lập, khép kín về thương mại, ngoại giao, làm cho
đất nước trì trệ, lạc hậu, không tiến kịp các nước phát triển phương Tây. Điều
đó khiến nước ta suy yếu, không đủ sức đương đầu với những khó khăn, thách
thức mới của thời đại.
2
Trần Văn Giàu (1958), Sự khủng hoảng của chế độ phong kiến nhà Nguyễn trước 1858, Sơ khảo,
giáo đã đưa Việt Nam tới tình trạng trì trệ về mọi mặt.
Như vậy, bộ máy quan lại thời Nguyễn nói chung không cồng kềnh
cũng không đông đảo, song những kẻ có chức, quyền và lợi dụng chức,
quyền đó, bằng nhiều thủ đoạn, cách thức khác nhau đã mưu lợi cho riêng
mình.
10
Về xã hội, đời sống nhân dân khổ cực, hiện tượng dân nghèo siêu tán
ngày càng trở nên phổ biến. Nhân dân không chỉ phải đóng thuế và chịu sưu
dịch cho Nhà nước mà còn bị cường hào lý dịch chèn ép, ăn chặn. Nạn đói
kém diễn ra thường xuyên. Làng xã Việt Nam rối ren, bị nạn cường hào
khuynh loát. Mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ ngày càng gay gắt, dẫn tới
nhiều phong trào nông dân bùng nổ. Thời Gia Long có 73 cuộc khởi nghĩa.
Từ thời Minh Mạng đến năm 1858, các cuộc đấu tranh của nông dân diễn ra
nhiều hơn, quy mô lớn hơn. Năm 1821 diễn ra cuộc khởi nghĩa của Phan Bá
Vành, năm 1833 có cuộc khởi nghĩa của Nông Văn Vân ở Tuyên Quang.
Các cuộc đấu tranh của nông dân đều bị triều đình Huế đàn áp khốc liệt.
Về văn hóa, các hoạt động học thuật và khảo cứu Nho giáo được duy
trì thường xuyên, nhằm phục hưng và tôn sùng Nho học. Tự Đức dịch sách
Luận ngữ sang chữ Nôm để truyền bá tư tưởng Nho giáo sâu rộng trong
nhân dân. In ấn, phổ cập rộng rãi trong xã hội “Nhị thập tứ hiếu”, “Thập
huấn điều” để giáo hoá nhân dân. Trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo nho
sĩ, triều Nguyễn hủy bỏ tất cả các chương trình giáo dục cấp tiến của
Vua Quang Trung, ngừng việc sử dụng chữ Nôm, quay trở lại dùng chữ
Hán và theo đuổi đường lối giảng dạy Nho học Chữ Hán trở thành công cụ
chính thức để truyền đạt tư tưởng, viết văn bản, giao tiếp trong hàng ngũ
quan lại, giới Nho sỹ.
1.2. Một số quan điểm tác động tới trách nhiệm công vụ của quan
đứng dưới một người là Trời và trên muôn người, quan lại là bầy tôi của
Vua, nhân dân là thần dân của Vua, sơn hà xã tắc không phải của nhân dân
mà là của Nhà Vua.
Bộ máy quan lại dưới thời phong kiến có vị trí hết sức quan trọng, bởi
Vua là người thừa hành thiên mệnh nhưng Vua không thể tự mình thực hiện
được thiên đạo, do đó, Nhà Vua đặt quan lại để giúp Vua thi hành thiên đạo.
Vua đặt ra quan lại là vì dân. Các quan lại đại diện cho Vua, thay Vua chăm
lo cho dân chúng, do đó, “nước trị hay loạn cốt ở trăm quan, được người
giỏi thì nước trị, dùng người xấu thì nước loạn. Các bậc đế vương đời trước
sở dĩ hưng được nghiệp là nhờ dùng người quân tử, bị mất nước là vì dùng
kẻ tiểu nhân”4. Nếu quan lại làm đúng chức trách bổn phận của mình, giúp
Vua giáo hóa dân chúng, giữ yên phép nước thì Nhà nước mới thịnh trị, Vua
giữ được thiên mệnh, mang tiếng thơm muôn đời. Nếu quan lại cậy quyền
thế, làm những việc sai trái, chỉ chăm chú về lộc vị, vơ vét cho đầy túi tham,
làm lòng dân oán than, thì âm dương bất hòa, ắt sinh tai biến. Chính vì vậy,
3
Trần Trọng Kim (2003), Nho giáo, Nxb Văn học, Hà Nội, tr.55.
4
Huỳnh Công Bá (2006), Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Nxb Thuận Hóa, Huế, tr. 111.
12
khi lên nắm quyền, Vua luôn quan tâm đến việc xây dựng và chỉnh đốn đội
ngũ quan lại để giữ yên muôn dân, làm tròn thiên mệnh.
Khác với các triều đại phong kiến Việt Nam trước đây là coi
trọng nhân nghĩa và tư tưởng thân dân trong đường lối cai trị, triều Nguyễn
Quốc sử quán triều Nguyễn (1970), Đại Nam thực lục, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tập 23, tr. 276.
13
do việc hình ngục đọng lại quá nhiều… Minh Mạng có lần bị nạn cũng coi
đó là ý Trời: “Ta lại có lần đi thuyền, thuyền mắc cạn, mui thuyền bị gẫy
sụp xuống, bỗng nghe có tiếng răng rắc, Ta đứng lên ngoảnh lại, thì ra
cái ván ngồi đã vỡ. Việc ấy dẫu là ngẫu nhiên, song cũng là có mệnh Trời;
vì thế, người ta không lo xa đã đành là không nên, nhưng không quá lo,
cũng lại không được. Chỉ nên vui đạo Trời, yên số mệnh, đến lúc làm việc,
thì nên giữ gìn như lội nước sâu, đi trên ván mỏng mới được”7. Tư tưởng
duy tâm thần bí đó chiếm phần lớn trong sách vở của nhà Nguyễn và nó
luôn luôn tác động đến con người và xã hội đương thời. Một số nho sĩ
khác có tham vọng cá nhân, lúc đầu không tin ở “mệnh Trời”. Họ cố vượt
qua số phận bằng cách cố gắng trèo lên các bậc thang khoa cử, nhưng chế
độ khắc nghiệt của nhà Nguyễn không cho phép họ vượt qua số phận
của họ. Kết cục họ quay về với “mệnh Trời”, chỉ biết đến “mệnh Trời”,
sức Trời, họ không thừa nhận sức người. Vì vậy, quan điểm “mệnh Trời”
của họ chứa nhiều yếu tố tiêu cực và thụ động.
1.2.2. Trách nhiệm công vụ theo quan điểm “chính danh”
Theo Nho gia, nguyên nhân dẫn đến tình trạng xã hội bất ổn là do
danh thực lẫn lộn, người dưới bàn chuyện của người trên, người trên không
làm đúng phận sự của mình. Khi Tử Lộ hỏi về đạo trị nước, việc gì cần làm
trước? Khổng Tử đáp: muốn trị nước trước hết phải chính danh. Nếu không
chính danh, đạo trị nước không thực hiện được, quyền lực nhà nước cũng
không thể tập trung trong tay nhà vua: Danh không chính thì nói không
thuận. Nói không thuận thì việc không thành. Việc không thành thì lễ nhạc
không dấy lên. Hình phạt không đúng phép thì dân không biết đặt chân tay
Quan niệm chính danh được đề cập rải rác trong các tác phẩm kinh
điển của Nho gia, nhìn khái quát, nội hàm khái niệm chính danh bao hàm ba
nội dung: Một là, mỗi vật, mỗi người sinh ra đều có một công dụng hoặc
một địa vị nhất định, tương ứng với mỗi địa vị, công dụng đó đều có một
danh (tên gọi) tương ứng. Nhờ vào danh người ta hiểu được thực (bản chất)
do vậy danh và thực phải phù hợp với nhau, nếu không phù hợp khi gọi tên
người ta không hiểu, không nắm được bản chất sự việc. Do vậy, Trình Tử
nói “danh và thực cần có nhau, một việc đã cẩu thả, còn lại những việc khác
đều cẩu thả cả”9; hai là, không những danh thực phải phù hợp, chính danh
đòi hỏi cương vị mà mỗi con người đạt được phải chính đáng, nói cách khác
con đường đưa con người đến địa vị nào đó phải hợp pháp, chính nghĩa và
được nhiều người thừa nhận; ba là, ở mỗi cương vị, mỗi người phải làm tròn
9
Nguyễn Hiến Lê (dịch), tlđd chú thích 8, tr 22.
15
bổn phận, trách nhiệm của mình. Vua làm trọn đạo của Vua, bầy tôi làm trọn
đạo của bầy tôi, cha làm trọn đạo của cha, con làm trọn đạo của con.
Đặt chế độ trách nhiệm công vụ trong mối quan hệ với quan điểm
chính danh nên yêu cầu đặt ra đối với quan lại là bộ máy trợ giúp đắc lực
cho Vua. Đối với quan lại, địa vị phải được chính đáng, con đường chính
đáng đó là thông qua các hình thức tuyển dụng. Khi đạt tới địa vị bằng con
đường chính đáng, quan lại phải làm cho thực phù hợp với danh, nói cách
khác là phải thực hiện đúng trách nhiệm, phận sự của mình.
1.2.3. Trách nhiệm công vụ theo quan điểm “sửa đức, tu thân”, kết
trước. Nhưng nay dân mới trải qua thời loạn, nhiễm thói xấu đã lâu,
chưa tin giáo hóa mới, trong phép trị mối loạn, hình phạt không thể dùng
được. Cần phải lấy lòng kính thương mà làm cẩn thận thế nào đó thôi”11,
nhưng mặt khác thì: “Công việc ngày nay là đối với người thiện thì nên vỗ
về bằng nhân đức, đối với kẻ ác thì phải dạy bảo bằng uy quyền. Dùng cả
ân đức và uy quyền, mới là đắc sách”12. Theo đạo Nho, cái gốc của đạo trị
nước là ở tu thân, gốc của sự tu thân là sự trau dồi trí tuệ và đạo đức. Tư
tưởng Đức trị của Nho giáo cho rằng việc cai trị phải dùng đức mà khiến,
người trên mà có đức thì sẽ cảm hóa được dân chúng. Tư tưởng Đức trị cũng
đòi hỏi người làm quan phải biết tu thân, biết giữ thân mình cho đoan chính,
trong sạch, bởi “tâm chính thì sau mới tu được thân, tu thân thì mới tề gia,
có tề gia được thì mới trị được nước, trị được nước thì thiên hạ mới thái
bình”13; quan lại phải nêu tấm gương sáng về luân thường cho dân chúng noi
theo. Muốn cai trị tốt, các quan lại phải gương mẫu, có phẩm cách. Quan lại
vừa phải giáo dục, đồng thời phải làm gương cho con dân. Như vậy, triều
Nguyễn đã dùng đường lối Đức trị của Nho giáo làm đường lối cai trị, đây
là sự lựa chọn tiếp nối sự lựa chọn của các triều đại trước về hệ tư
tưởng thống trị, về mô hình nhà nước… nhất là mô hình của thời Lê
Thánh Tông. Sự khác biệt ở đây là ở chỗ, triều Nguyễn đã tập trung quyền
lực tuyệt đối vào một người, đó là Vua. Do vậy, đường lối cai trị, giáo dục,
pháp luật đã dẫn đến những quan điểm chính trị, chính sách độc đoán,
cực đoan, khắc nghiệt, đi ngược lại với nhu cầu phát triển khách quan. Ngay
khi lên ngôi, Gia Long đã dụ rằng: Hiện nay nước mới được yên, dân
đương ngửa trông đức mới. Bọn người đều nên tuyên dương đức hóa, vỗ
yên nhân dân điêu hao, khiến dân ta đều được yên nghiệp, để cho xứng sự
11
Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Viện sử học (dịch), tlđd chú thích 5, tập 1, tr 518.
Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Viện sử học (dịch), tlđd chú thích 5, tập 4, tr . 425.
13
chính, là vấn đề con người – một hệ thống nhân lực để thực thi các nhiệm vụ
của nhà nước. Trong Nhà nước phong kiến, Vua là người đứng đầu bộ máy
nhà nước. Dưới Vua là các quan lại được lựa chọn trong hàng ngũ những kẻ
giàu có và quyền thế trong xã hội, những người thi cử đỗ đạt. Đặc điểm này
cho thấy Nhà nước phong kiến không có khái niệm về công chức mà chỉ có
các quan lại giữ chức vụ thừa hành các mệnh lệnh của Nhà Vua. Và công vụ
được coi như sứ mệnh cao cả của quan lại.
14
15
Viện Khoa học Xã hội Việt Nam,Viện sử học (dịch) tlđd chú thích 5, tập 1, tr. 505.
Viện Khoa học Xã hội Việt Nam,Viện sử học ( d ị c h ) , tlđd chú thích 5, tập 26, tr. 104.
18
Trong tiếng Anh, thuật ngữ công vụ được sử dụng phổ biến là “public
service” có nghĩa là hoạt động phục vụ lợi ích công – hoặc phục vụ công,
còn hẹp hơn thì “public” được hiểu là công quyền, là nhà nước, do đó
“public service” là công vụ Nhà nước. Ở Việt Nam, công vụ là một từ Hán –
Việt. Theo cách giải thích trong từ điển “Từ và ngữ Việt Nam” của GS.
Nguyễn Lân thì: công là chung, vụ là việc, công vụ là việc chung16. Công vụ
có thể được hiểu theo nghĩa rộng là các hoạt động nhằm phục vụ lợi ích
chung của xã hội trong các tổ chức có quy mô khác nhau, mang tính Nhà
nước hoặc phi Nhà nước, có thể trong cơ quan Nhà nước, nhưng cũng có thể
trong các doanh nghiệp hoặc tổ chức xã hội.
Từ những góc độ khác nhau như chính trị, pháp lý, hành chính, đạo
đức, xã hội…lại có những quan niệm khác nhau về công vụ:
Từ góc độ chính trị, hoạt động công vụ là thực hiện các chủ trương,
Nhà nước phong kiến, công vụ của Nhà nước tư sản truyền thống, công vụ
của Nhà nước tư sản hiện đại, công vụ của Nhà nước Xã hội chủ nghĩa. Tựu
chung lại, công vụ luôn gắn với Nhà nước, quyền lực công. Công vụ thể hiện
ý chí và đáp ứng lợi ích của nhân dân và Nhà nước. Tóm lại, có thể hiểu
công vụ là hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước do cán bộ, công chức
tiến hành theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm
vụ của Nhà nước, phục vụ lợi ích Nhà nước, nhân dân và xã hội17.
1.3.2. Trách nhiệm công vụ của quan lại theo pháp luật thời
Nguyễn (giai đoạn 1802 – 1884)
1.3.2.1. Trách nhiệm công vụ nói chung
Nói đến công vụ là nói đến trách nhiệm công vụ nhằm mục tiêu phục
vụ người dân và xã hội. Trong chế độ công vụ nói chung, trách nhiệm công
vụ được hiểu trong phạm vi hẹp hơn.
Trong tiếng Việt, thuật ngữ “trách nhiệm” rất gần nghĩa với thuật ngữ
“nghĩa vụ”. Theo nghĩa thông thường, trách nhiệm được hiểu theo hai nghĩa:
Thứ nhất, là phần việc được giao cho hoặc coi như được giao cho, phải bảo
đảm làm tròn, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu hậu quả; thứ hai, là
sự ràng buộc đối với lời nói, hành vi của mình, bảo đảm đúng đắn, nếu sai
thì phải gánh chịu hậu quả bất lợi. Theo Từ điển Bách khoa Toàn thư Việt
Nam thì “trách nhiệm là sự tương xứng giữa hoạt động với nghĩa vụ, là hệ
quả của tự do ý chí của con người, là đặc trưng cho hoạt động có ý thức của
con người. Con người ngày càng nhận thức được quy luật khách quan của tự
17
Chuyên đề V (2013), “Chế độ công vụ và quản lý cán bộ, công chức”, Tạp chí xây dựng Đảng, (08), tr.
10.