Góp vốn vào doanh nghiệp bằng quyền sở hữu công nghiệp theo pháp luật hiện hành ở việt nam - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

HÀ THỊ DOÁNH

GÓP VỐN VÀO DOANH NGHIỆP BẰNG
QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. BÙI NGỌC CƢỜNG

HÀ NỘI - 2013




1

LỜI NÓI ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, một yếu tố không thể
thiếu đó là vốn. Trước đây, tài sản được đem góp vốn chủ yếu và được quan

công nghiệp là một việc làm cấp thiết.
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả quyết định lựa chọn đề tài "Góp
vốn vào doanh nghiệp bằng quyền sở hữu công nghiệp theo quy định của
pháp luật hiện hành ở Việt Nam" làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hoạt động góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền sở
hữu công nghiệp nói riêng ở Việt Nam ngày càng trở nên phổ biến. Đặc biệt
vài năm gần đây, các phương tiên thông tin truyền thông liên tiếp đưa tin về
việc một số tập đoàn góp vốn vào rất nhiều các doanh nghiệp khác bằng
quyền sử dụng nhãn hiệu. Vì thế, cũng có khá nhiều các nghiên cứu có liên
quan đến pháp luật điều chỉnh hoạt động góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ.
Có thể kể đến Nguyễn Thanh Tâm (2005), “Quyền sở hữu công nghiệp dưới
góc độ thương mại – Những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Luận án tiến sĩ Luật
học, Trường Đại học Luật Hà Nội; Nguyễn Hà Phương (2009), “Pháp luật về
hoạt động góp vốn vào doanh nghiệp bằng nhãn hiệu hàng hóa – Một số vấn
đề lý luận và thực tiễn”, Luận văn thạc sỹ Luật học, Trường Đại học Luật Hà
Nội; Phạm Đức Quảng (2011), “Áp dụng pháp luật về góp vốn bằng giá trị
quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam”, Luận văn thạc sỹ Luật học, Khoa Luật –
Đại học Quốc gia Hà Nội; Hoàng Lan Phương (2011), “Pháp luật Việt nam
về thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ”, Luận văn thạc sỹ Luật học, Khoa
Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội; Đoàn Thu Hồng (2012), “Góp vốn thành


3

lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam”, Luận văn thạc sỹ
Luật Học, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội; Tạ Thị Thanh Thủy (2012),
“Góp vốn kinh doanh bằng tài sản trí tuệ theo pháp luật Việt Nam”, Luận
văn thạc sỹ Luật học, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội; Nguyễn Hồng
Vân, “Góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng nhãn hiệu”, Tạp chí hoạt động

góp vốn vào vào doanh nghiệp, các loại tài sản góp vốn vào doanh nghiệp, khái
niệm và đặc trưng của quyền sở hữu công nghiệp, các đối tượng của quyền sở
hữu công nghiệp, làm rõ tính thương mại của quyền sở hữu công nghiệp;
- Phân tích, bình luận và chỉ ra những điểm không hợp lý trong các quy
định của pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động góp vốn vào doanh nghiệp
bằng quyền sở hữu công nghiệp;
- Trình bày và luận giải về thực tiễn góp vốn vào doanh nghiệp bằng
quyền sở hữu công nghiệp ở Việt Nam. Đồng thời, trên cơ sở những phân tích
về những bất cập trong quy định của pháp luật, luận giải những khó khăn của
thực tiễn góp vốn vào doanh nghiệp bằng quyền sở hữu công nghiệp để đưa ra
những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh vấn đề này.
* Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ luật học, luận văn chỉ tập trung
nghiên cứu trong phạm vi các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành
điều chỉnh hoạt động góp vốn bằng quyền sở hữu công nghiệp mà chủ yếu tập
trung vào quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2005 và Luật Sở hữu trí tuệ
năm 2005 (sửa đổi bổ sung năm 2009).
4. Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu nói trên, việc nghiên cứu được
tiến hành dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, quan


5

điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, chính sách của Đảng, Nhà nước và tư
tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật. Ngoài ra, để giải quyết vấn đề
thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận văn sử dụng một số phương pháp
nghiên cứu khoa học chuyên ngành khác như phương pháp phân tích hệ
thống; phương pháp tổng hợp; phương pháp so sánh …
5. Đóng góp của luận văn

Chương 3: Thực tiễn góp vốn vào doanh nghiệp bằng quyền sở hữu
công nghiệp và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về góp vốn vào doanh nghiệp
bằng quyền sở hữu công nghiệp ở Việt Nam.


7

CHƢƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP VÀ
GÓP VỐN VÀO DOANH NGHIỆP BẰNG QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP

1.1. Khái quát về hành vi góp vốn vào doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm góp vốn vào doanh nghiệp
Vốn của doanh nghiệp có hai tính chất: về mặt kinh tế, vốn là phương
tiện kinh doanh; về mặt pháp lý, vốn là số tiền đảm bảo cho việc công ty trả
nợ, nói cách khác vốn là phương tiện để trả nợ [14, tr.123, 130]. Trên cơ sở
các tính chất của vốn, hành vi góp vốn cũng được xem xét ở hai khía cạnh:
Xét ở khía cạnh kinh tế, góp vốn là hành vi tạo lập tài sản cho doanh
nghiệp, đảm bảo nguồn chi trả cho các hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp nhất là trong giai đoạn doanh nghiệp mới thành lập.
Xét ở khía cạnh pháp lý, góp vốn là hành vi chuyển quyền sở hữu hoặc
quyền sử dụng tài sản của mình sang cho doanh nghiệp, hình thành nguồn vốn
chủ sở hữu – một trong các loại vốn của doanh nghiệp1 được quan tâm để
đảm bảo lợi ích cho chủ nợ. Khi đó, người góp vốn không còn quyền sở hữu
hay quyền sử dụng đối với tài sản góp vốn, nhưng đổi lại người góp vốn xác
lập quyền sở hữu đối với tài sản mới là phần vốn góp trong doanh nghiệp và
trở thành chủ sở hữu hoặc đồng chủ sở hữu của doanh nghiệp nhận góp vốn.
Vốn góp trở thành cơ sở để xác định địa vị pháp lý cũng như quyền và nghĩa
vụ của người góp vốn đối với doanh nghiệp.
Theo Từ điển Luật học thì góp vốn là "việc nhà đầu tư đưa tài sản dưới

vào doanh nghiệp.
Đoạn 1 Điều 1832 Bộ luật Dân sự Pháp quy định: “Công ty do hai hay
nhiều người thành lập trên cơ sở thỏa thuận bằng hợp đồng về việc đóng góp,
2

Doanh nghiệp tư nhân không có sự tách bạch rõ ràng giữa tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân và tài sản
của doanh nghiệp tư nhân nên không đáp ứng điều kiện để được công nhận là pháp nhân quy định tại Điều 84
Bộ luật dân sự năm 2005
3
Vốn điều lệ của doanh nghiệp tư nhân được hiểu chính là tổng số vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp tư nhân
mà chủ doanh nghiệp tư nhân có nghĩa vụ phải đăng ký khi thành lập doanh nghiệp.


10

sử dụng tài sản hoặc công sức của họ vào hoạt động kinh doanh chung nhằm
chia lãi hoặc thu lợi”. Tiếp đó, Đoạn 1 Điều 1843-3 lại ghi nhận: “Mỗi thành
viên phải chịu trách nhiệm đối với công ty về những cam kết đóng góp bằng
hiện vật, bằng tiền hoặc công sức lao động”. Như vậy, pháp luật Pháp ghi
nhận hình thức vốn góp vào doanh nghiệp có thể là tài sản (tiền, hiện vật)
hoặc công sức lao động.
Điều 2186 Bộ luật Dân sự Québec (Canada) quy định: “Một hợp đồng
hợp danh là một hợp đồng mà các bên, trên tinh thần hợp tác, thoả thuận tiến
hành một hoạt động, bao gồm việc khai thác một doanh nghiệp, góp vốn vào
đó bằng sự kết hợp tài sản, tri thức hoặc hoạt động và chia nhau bất kỳ khoản
lãi về tiền bạc nào là kết quả từ đó” [19]. Theo đó, pháp luật Québec
(Canada) ghi nhận hình thức vốn góp vào doanh nghiệp bao gồm tài sản, tri
thức hoặc hoạt động.
Trên cơ sở định nghĩa hành vi góp vốn là “việc đưa tài sản vào công
ty”, có thể thấy rằng pháp luật Việt Nam chỉ thừa nhận hình thức vốn góp vào

chấp nhận là tài sản góp vốn khi Điều lệ công ty có ghi nhận. Cách hiểu này
cũng không được thỏa đáng bởi lẽ quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ,
công nghệ, bí quyết kỹ thuật là những loại tài sản có những nét đặc thù riêng.
Vì thế nếu coi chúng là loại tài sản góp vốn đương nhiên, sẽ không đảm bảo
được quyền tự quyết của doanh nghiệp trong nhu cầu về sử dụng vốn.
Do đó, pháp luật nên quy định những loại tài sản đương nhiên có thể
trở thành tài sản góp vốn như tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng.
Những tài sản khác chỉ có thể dùng làm tài sản góp vốn khi Điều lệ công ty
quy định.
Thứ hai, rà soát quy định của pháp luật chúng ta thấy sự thiếu nhất
quán trong việc sử dụng thuật ngữ pháp lý. Bộ luật Dân sự năm 2005, Luật
Doanh nghiệp 2005 sử dụng thuật ngữ “góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng


12

đất”, trong khi Luật Đất đai năm 2003 lại sử dụng thuật ngữ “góp vốn bằng
quyền sử dụng đất”. Luật Doanh nghiệp năm 2005 ghi nhận “giá trị quyền sở
hữu trí tuệ” là tài sản góp vốn thì Điều 5 Nghị định số 102/2010/NĐ-CP của
Chính phủ ngày 01 tháng 10 năm 2010 hướng dẫn chi tiết thi hành một số
điều của Luật Doanh nghiệp (sau đây gọi là Nghị định số 102/2010/NĐ-CP)
lại ghi nhận việc góp vốn bằng “quyền sở hữu trí tuệ”. Vậy vấn đề đặt ra là
“giá trị quyền sử dụng đất”, “giá trị quyền sở hữu trí tuệ” hay “quyền sử
dụng đất”, “quyền sở hữu trí tuệ” là tài sản góp vốn? Theo quan điểm của
chúng tôi, việc sử dụng thuật ngữ “giá trị quyền sử dụng đất” và “giá trị
quyền sở hữu trí tuệ” là loại tài sản góp vốn là không thống nhất với quan
niệm về tài sản quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2005. Tài sản theo Điều
163 Bộ luật Dân sự năm 2005 bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài
sản. Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong
giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ4. Như vậy, quyền sử dụng đất và

xuất, kinh doanh như sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp,
thiết kế bố trí, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lí, tên thương mại, bí mật kinh doanh.
Nội dung của quyền sở hữu công nghiệp là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ
của các chủ thể quyền sở hữu công nghiệp được pháp luật ghi nhận và bảo hộ.
Tiếp cận dưới góc độ là chế định pháp luật, quyền sở hữu công nghiệp
là pháp luật về sở hữu công nghiệp, nói khác đi đó là tổng hợp các quy phạm
pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình xác lập và
áp dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp.
Tiếp cận dưới góc độ là quyền chủ thể, quyền sở hữu công nghiệp là
những quyền, nghĩa vụ cụ thể của các cá nhân, tổ chức là chủ thể của quyền
sở hữu công nghiệp. Theo hướng tiếp cận này, khoản 4 Điều 4 Luật sở hữu trí
tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) định nghĩa: “Quyền sở hữu công nghiệp
là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết
kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí


14

mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh
không lành mạnh”. Trong đó, quyền chống cạnh tranh không lành mạnh được
xác định là một nội dung của quyền sở hữu công nghiệp, không phải là đối
tượng của quyền sở hữu công nghiệp
b. Đặc điểm của quyền sở hữu công nghiệp
(i) Xét trong mối tương quan với quyền sở hữu tài sản hữu hình, quyền
sở hữu công nghiệp (rộng hơn là quyền sở hữu trí tuệ) với tính chất là quyền
sở hữu đối với tài sản vô hình (tài sản trí tuệ) có những nét đặc trưng riêng
sau đây:
Về căn cứ phát sinh, xác lập và chấm dứt quyền: Do tính chất vô hình
của tài sản trí tuệ nên quyền sở hữu công nghiệp được xác lập trên cơ sở quyết
định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc trên cơ

nghiệp nếu được áp dụng trong sản xuất kinh doanh (tức là thực hiện quyền
năng sử dụng) sẽ nâng cao giá trị, nhất là với các đối tượng có tính thương
mại như tên thương mại, nhãn hiệu, bí mật kinh doanh…
Tính chất bảo hộ quyền: Trong khi quyền sở hữu tài sản hữu hình là
quyền tuyệt đối không bị giới hạn về không gian và thời gian thì quyền sở
hữu công nghiệp có tính chất lãnh thổ, quyền này được bảo hộ trong phạm vi
không gian và thời gian nhất định. Phần lớn các quyền sở hữu công nghiệp
chỉ phát sinh khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp văn bằng bảo hộ
và văn bằng này chỉ có hiệu lực trên lãnh thổ của quốc gia đã cấp văn bằng
đó. Đối với các đối tượng này, để đạt được sự bảo hộ tại nước ngoài, chủ sở
hữu các đối tượng quyền sở hữu công nghiệp phải nộp đơn đăng ký bảo hộ tại
nước ngoài và chỉ được bảo hộ khi văn bằng được cấp. Còn đối với các đối
tượng sở hữu công nghiệp mà quyền sở hữu công nghiệp đối với chúng phát
sinh một cách tự động thì chúng cũng chỉ được bảo hộ khi đáp ứng yêu cầu cụ
thể của pháp luật quốc gia nơi các đối tượng này muốn đạt được sự bảo hộ.


16

Về thời hạn bảo hộ: quyền sở hữu công nghiệp được bảo hộ theo thời
hạn của văn bằng bảo hộ. Các đối tượng được bảo hộ theo thời hạn là các đối
tượng xác định được tác giả sáng tạo ra đối tượng đó, những đối tượng không
xác định được tác giả sáng tạo được bảo hộ không thời hạn hoặc có thời hạn
với những điều kiện nhất định. Có thể chia thời hạn bảo hộ thành các loại sau:
Thời hạn bảo hộ được xác định và không được gia hạn. Loại thời hạn
này được áp dụng đối với sáng chế là 20 năm; với giải pháp hữu ích là 10
năm tính từ ngày nộp đơn hợp lệ; với thiết kế bố trí là 10 năm kể từ nộp đơn
hợp lệ hoặc ngày người có quyền đăng ký khai thác, cho phép người khác
khai thác thương mại lần đầu tiên tại bất kỳ nơi nào trên thế giới hoặc 15 năm
tính từ ngày tạo ra thiết kế bố trí.

bằng bảo hộ.
Về điều kiện bảo hộ: Các tác phẩm văn học nghệ thuật được bảo hộ khi
mang tính nguyên gốc và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất
định. Trong khi đó, về nguyên tắc, đối tượng quyền sở hữu trí tuệ được bảo
hộ khi có tính mới, tính sáng tạo, tính khác biệt, tính ứng dụng. Tuy nhiên,
những điều kiện bảo hộ này khác nhau đối với từng đối tượng quyền sở hữu
công nghiệp.
Về thủ tục bảo hộ: đối với hầu hết các đối tượng quyền sở hữu công
nghiệp, việc bảo hộ chỉ đặt ra khi chủ thể quyền đã thực hiện thủ tục bảo hộ
đối tượng quyền sở hữu công nghiệp tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Trong khi đó, yêu cầu này không mang tính bắt buộc đối với các đối tượng
quyền tác giả.
1.2.2. Các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp
Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 được sửa
đổi, bổ sung năm 2009, đối tượng quyền sở hữu công nghiệp bao gồm sáng


18

chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh
doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý.
a. Sáng chế
Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình
nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự
nhiên.
Sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp Bằng độc quyền sáng chế nếu
đáp ứng điều kiện về tính mới, trình độ sáng tạo và khả năng áp dụng công
nghiệp. Trong trường hợp sáng chế không phải là hiểu biết thông thường và
đáp ứng điều kiện về tính mới và khả năng áp dụng công nghiệp thì được bảo
hộ dưới hình thức Bằng độc quyền giải pháp hữu ích.

Thiết kế bố trí được bảo hộ nếu đáp ứng điều kiện về tính nguyên gốc
và tính mới thương mại.
Những đối tượng không được bảo hộ dưới danh nghĩa thiết kế bố trí
quy định tại Điều 69 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, bao gồm: Nguyên lý, quy
trình, hệ thống, phương pháp được thực hiện bởi mạch tích hợp bán dẫn;
Thông tin, phần mềm chứa trong mạch tích hợp bán dẫn.
d. Bí mật kinh doanh
Bí mật kinh doanh là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính,
trí tuệ, chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh.
Bí mật kinh doanh được bảo hộ nếu đáp ứng điều kiện: Không phải là
hiểu biết thông thường và không dễ dàng có được; Khi được sử dụng trong
kinh doanh sẽ tạo cho người nắm giữ bí mật kinh doanh lợi thế so với người
không nắm giữ hoặc không sử dụng bí mật kinh doanh đó; Được chủ sở hữu


20

bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để bí mật kinh doanh đó không bị bộc lộ
và không dễ dàng tiếp cận được.
Đối tượng không đươc bảo hộ với danh nghĩa bí mật kinh doanh quy
định tại Điều 85 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, bao gồm: Bí mật về nhân thân;
Bí mật về quản lý nhà nước; Bí mật về quốc phòng, an ninh; Thông tin bí mật
khác không liên quan đến kinh doanh.
đ. Nhãn hiệu
Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ
chức, cá nhân khác nhau.
Nhãn hiệu được bảo hộ nếu thỏa mãn điều kiện: Là dấu hiệu nhìn thấy
được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc
sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc; Có khả
năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch

hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với dấu chứng nhận, dấu kiểm tra, dấu
bảo hành của tổ chức quốc tế mà tổ chức đó có yêu cầu không được sử dụng,
trừ trường hợp chính tổ chức này đăng ký các dấu đó làm nhãn hiệu chứng
nhận; Dấu hiệu làm hiểu sai lệch, gây nhầm lẫn hoặc có tính chất lừa dối
người tiêu dùng về nguồn gốc xuất xứ, tính năng, công dụng, chất lượng, giá
trị hoặc các đặc tính khác của hàng hóa, dịch vụ.
Ngoài khái niệm về nhãn hiệu nói chung còn có các khái niệm về các
loại nhãn hiệu đặc thù: Nhãn hiệu tập thể; Nhãn hiệu liên kết; Nhãn hiệu
chứng nhận; Nhãn hiệu nổi tiếng.
Nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của
các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hóa, dịch vụ
của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó. Ví dụ: Bánh
kẹo Hữu Nghị…
Nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép
tổ chức, cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cac nhân
đó để chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản
xuất hàng hóa, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an
toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu. Ví dụ:
hàng Việt Nam chất lượng cao…
Nhãn hiệu liên kết là các nhãn hiệu do cùng một chủ thể đăng ký, trùng


22

hoặc tương tự nhau dùng cho sản phẩm, dịch vụ cùng loại hoặc tương tự nhau
hoặc có liên quan với nhau. Ví dụ: máy giặt LG, tủ lạnh LG, ti vi LG…
Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi
trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Ví dụ: Coca-Cola…
Thực tế cho thấy khái niệm nhãn hiệu thường hay được sử dụng thay thế
bởi khải niệm thương hiệu, thậm chí trong Công văn hướng dẫn của Tổng cục


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status