Nội dung cơ bản của quyền tự do thành lập doanh nghiệp theo pháp luật hiện hànhNội dung cơ bản của quyền tự do thành lập doanh nghiệp theo pháp luật hiện hành - Pdf 26

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Quyền tự do kinh doanh là một quyền cơ bản của công dân được ghi nhận tại
Hiến pháp và pháp luật chuyên nghành. Điều 57 Hiến pháp 1992 quy định “công
dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật”.
Quyền tự do kinh doanh được hiểu là hệ thống các quyền gắn với chủ thể
kinh doanh. Trong đó, quyền tự do thành lập doanh nghiệp là một nội dung cơ bản,
quan trọng trong hệ thống các quyền tự do kinh doanh. Nó là tiền đề để thực hiện
các quyền khác thuộc nội dung quyền tự do kinh doanh. Về nguyên tắc, hoạt động
kinh doanh chỉ có thể được thực hiện với tính chất nghề nghiệp, khi các chủ thể kinh
doanh (mà chủ yếu là doanh nghiệp) tiến hành. Để thực hiện quyền tự do kinh
doanh, các nhà đầu tư trước hết phải xác lập tư cách pháp lý cho chủ thể kinh doanh,
và thông qua tư cách đó để tiến hành các hoạt động kinh doanh của mình. Với quyền
tự do thành lập doanh nghiệp, các nhà đầu tư (chủ sở hữu tư liệu sản xuất) có khả
năng quyết định lựa chọn mô hình kinh doanh và lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh
thích hợp để tiến hành hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả cao.
Kể từ khi chuyển sang cơ chế thị trường, Nhà nước ta chủ chương mở rộng
quyền tự do thành lập doanh nghiệp cho nhiều đối tượng có khả năng đầu tư khác
nhau trong xã hội. Pháp luật doanh nghiệp từng bước được hoàn thiện theo hướng
ngày càng bảo đảm tốt hơn quyền tự do thành lập doanh nghiệp. Với mục đích đi
sâu tìm hiểu về các quy định của pháp luật về quyền tự do thành lập doanh nghiệp,
em xin lựa chọn Đề tài số 03: “Nội dung cơ bản của quyền tự do thành lập doanh
nghiệp theo pháp luật hiện hành” làm đề tài bài tập học kỳ.
Trong quá trình làm bài em đã cố gắng nhiều, song với trình độ hiểu biết vấn
đề còn hạn chế nên bài viết khó thể tránh khỏi những thiếu sót. Bởi vậy, em rất
mong có thể nhận được sự đóng góp ý kiến từ phía thầy cô cũng như các bạn để bài
làm của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn !

1
B. NỘI DUNG
I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN TỰ DO THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP

1.1./. Quyền tự do lựa chọn ngành nghề kinh doanh
Khi thực hiện quyền tự do thành lập và đăng ký kinh doanh, các chủ thể kinh
doanh đã quyết định lựa chọn ngành nghề kinh doanh cho mình. Việc lựa chọn
ngành nghề kinh doanh hoàn toàn phụ thuộc vào ý muốn, điều kiện và khả năng của
các nhà kinh doanh, dựa trên cơ sở tìm hiểu nhu cầu thị trường. Sự lựa chọn này có
tác dụng rất lớn đến sự nghiệp kinh doanh của nhà doanh nghiệp trên thương trường.
Không ai có quyền can thiệp trái phép vào quyền này của họ; bởi lẽ, người chịu
trách nhiệm về những kết quả kinh doanh chính là các chủ doanh nghiệp. Quyền tự
do lựa chọn ngành nghề kinh doanh theo quy định của pháp luật, tạo ra khả năng
rộng lớn cho nhà kinh doanh trong việc tìm hiểu nhu cầu thị trường.
Ngành nghề kinh doanh rất đa dạng, phong phú, có thể là trong công nghiệp,
nông nghiệp, ngân hàng, dịch vụ …Trong từng lĩnh vực đó lại chia thành những lĩnh
vực nhỏ hơn tạo nên sự đa dạng muôn màu muôn vẻ của đời sống kinh doanh, đáp
ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Quyền tự do lựa chọn ngành
nghề kinh doanh cũng bị giới hạn bởi một số lĩnh vực có liên quan đến an ninh quốc
phòng, trật tự an toàn xã hội.
1.2./. Quyền tự do lựa chọn hình thức tổ chức trong kinh doanh và địa điểm kinh
doanh
Trên cơ sở lựa chọn ngành nghề kinh doanh, các nhà đầu tư có quyền tự do lựa
chọn hình thức tổ chức kinh doanh phù hợp với điều kiện của mình. Các nhà đầu tư
có thể thành lập và đăng ký kinh doanh theo mô hình công ty cổ phần, công ty trách
nhiệm hữu hạn hoặc doanh nghiệp tư nhân…
Một quyền tự do không kém phần quan trọng của các nhà đầu tư là lựa chọn địa
điểm kinh doanh. Địa điểm kinh doanh là nơi mà họ tiến hành các hoạt động kinh
doanh, nó không chỉ phản ánh tính không gian của hoạt động kinh doanh mà tự nó
còn có ý nghĩa pháp lý quan trọng.
Lựa chọn ngành nghề kinh doanh, hình thức tổ chức trong kinh doanh, địa
điểm kinh doanh là những quyết định đầu tiên của nhà kinh doanh. Thừa nhận quyền
tự do này chính là tôn trọng quyền định đoạt của chủ sở hữu và tạo ra khả năng
thuận lợi ban đầu cho sự nghiệp kinh doanh của họ. Đồng thời cũng giúp họ trả lời

nghiệp
Để bảo đảm quyền tự do kinh doanh, pháp luật hiện hành đã mở rộng đáng kể
những đối tượng có quyền thành lập và góp vốn vào doanh nghiệp (bất cứ ai , nếu
không bị pháp luật cấm, thì đều có thể trở thành nhà kinh doanh). Với mục đích bảo
đảm quyền tự do kinh doanh đồng thời, nhằm huy động tối đa mọi nguồn vốn đầu tư
4
cho hoạt động kinh doanh, pháp luật hiện hành quy định một phạm vi rất rộng các
chủ thể có quyền thành lập doanh nghiệp.
- Theo Luật hợp tác xã năm 2003, mọi công dân Việt Nam có năng lực hành vi
dân sự đầ đủ, hộ gia đình, pháp nhân có thể trở thành xã viên hợp tác xã (Điều 17
Luật hợp tác xã năm 2003). Luật hợp tác xã năm 2003 không có những điều kiện
riêng biệt cho sáng lập viên. Do đó, những chủ thể có đủ điều kiện trở thành xã viên
hợp tác xã đều có thể là sáng lập viên của hợp tác xã.
- Theo Luật Đấu tư 2005, các chủ thể có quyền “tự chủ đầu tư, kinh doanh”
bằng cách : Lựa chọn lĩnh vực đầu tư, hình thức đầu tư, phương thức huy động vốn,
địa bàn, quy mô đầu tư đối tác đầu tư và thời hạn thục hiện dự án ; Đăng ký kinh
doanh một hoặc nhiều ngành, nghề; thành lập doanh nghiệp theo quy định của pháp
luật; tự quyết định về hoạt động đầu tư kinh doanh đã đăng ký
1
. Các chủ thể này
bao gồm
2
:
+) Doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế thành lập theo Luật doanh
nghiệp;
+) Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thành lập theo Luật hợp tác xã;
+) Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập trước khi Luật này có
hiệu lực;
+) Hộ kinh doanh, cá nhân;
+) Tổ chức, cá nhân nước ngoài; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; người

ngoài mà không phân biệt cư trú hay không cư trú.
Các quy định hiện hành cho thấy pháp luật nước ta đã ghi nhận một phạm vi
rất rộng các đối tượng được quyền tham gia thành lập doanh nghiệp và đăng ký kinh
doanh.
2.2./. Pháp luật hiện hành mở rộng các ngành nghề kinh doanh để các nhà đầu tư
lựa chọn
Pháp luật hiện hành đã ghi nhận một phạm vi rất rộng rãi các ngành nghề được
kinh doanh. Về nguyên tắc, các nhà đầu tư có quyền tự do lựa chọn bất cứ lĩnh vực
kinh doanh nào mà pháp luật không cấm. Pháp luật hiện hành chỉ cấm kinh doanh
những ngành nghề gây phương hại đến quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an
toàn xã hội ... Những ngành nghề này được quy định rõ ràng để các nhà đầu tư có
thể dễ dàng nhận biết (xem Điều 7, 8 , 9 ,10 Nghị định số 102/2010/NĐ-CP hướng
dẫn thi hành một số điều Luật doanh nghiệp năm 2005). Việc quy định rõ ngành
nghề được phép kinh doanh theo phương pháp loại trừ thể hiện tính “minh bạch” của
pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư tiến hành thành lập doanh
nghiệp.
6


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status