I, TÍNH CẤP THIẾT CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI:
Khi xã hội càng phát triển với những thành tựu và những biến đổi không
ngừng của khoa học kỹ thuật thì giá trị sở hữu trí tuệ ngày càng được đề cao và
coi trọng trong mỗi sản phẩm, mỗi thành quả lao động. Sở hữu trí tuệ có vai trò
to lớn trong việc thúc đẩy nền kinh tế nói chung và hoạt động thương mại nói
riêng.
Việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ từ lâu đã được các nước phát triển quan
tâm và là vấn đề gây nhức nhối trên tất cả các diễn đàn, là đề tài gây tranh cãi
trên tất cả các hoạt động kinh doanh hay hoạt động khác của đời sống xã hội.
Chiến lược nhấn mạnh việc thực hiện bảo hộ thích đáng, coi sức lao động trí tuệ
là một loại hàng hóa đặc biệt trong nền kinh tế thị trường, phải được trả giá
tương xứng. Thực tế ở Việt Nam cho thấy, tình trạng vi phạm về sở hữu trí tuệ
đang ngày một gia tăng. Các loại hàng hóa giả mạo nhãn hiệu, sao chép bản
quyền bất hợp pháp đang được bày bán gần như công khai trên khắp mọi miền
của đất nước. Nguy cơ này sẽ ngày càng tăng khi chúng ta mở cửa rộng rãi hơn,
hội nhập sâu sắc hơn với nền kinh tế khu vực và thế giới. Chính vì vậy, việc
thực thi quyền sở hữu trí tuệ theo hiệp định TRIPS đang là nhu cầu phát sinh từ
lợi ích quốc gia và lợi ích quốc tế nhất là đối với một quốc gia mới gia nhập
WTO như Việt Nam.
II. NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ CÁC BIỆN PHÁP THỰC THI QUYỀN
SỞ HỮU TRÍ TUỆ THEO QUI ĐỊNH CỦA HIỆP ĐỊNH TRIPS.
1. Thực thi quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp dân sự và các chế tài áp
dụng.
Phù hợp để áp dụng cho việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ, biện pháp dân
sự được coi là biện pháp chủ đạo và là biện pháp có khả năng giải quyết thỏa
đáng những thiệt hại mà chủ sở hữu quyền phải gánh chịu. Nội dung chủ yếu
của biện pháp này bao gồm:
- Các biện pháp chế tài dân sự: tùy theo tính chất, mức độ xâm phạm
quyền, người nắm giữ quyền đối với quyền sở hữu trí tuệ có thể yêu cầu tòa án
áp dụng biện pháp buộc bên có hành vi xâm phạm phải chấm dứt hành vi đó.
Theo điều 45 Hiệp định Trips qui định: Các cơ quan xét xử có quyền ra lệnh
- Nhằm bảo tồn các chứng cứ liên quan đến hành vi bị khiếu kiện là xâm
phạm quyền, đề phòng tình trạng tẩu tán, tiêu hủy tang vật xâm phạm, tài sản
dùng để thi hành xử lý hoặc bồi thường thiệt hại.
Hiệp định Trips cho phép các cơ quan xét xử tạm thời giữ hàng hóa, sản
phẩm bị coi là xâm phạm, kể cả hàng hóa nhập khẩu đã hoàn tất thủ tục hải
quan, khi có căn cứ nghi ngờ bên xâm phạm có thể tẩu tán hoặc tiêu hủy chứng
cứ vi phạm, đặc biệt nếu có chứng cứ cho rằng bất cứ sự chậm chễ nào cũng có
nguy cơ gây ra không thể khắc phục được cho chủ thể quyền.
Nguyên đơn, người yêu cầu cơ quan xét xử áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời có nghĩa vụ phải cung cấp chứng cứ một cách thuyết phục rằng mình là
chủ thể có quyền và quyền đó đang bị xâm phạm.
Liên quan đến việc hủy bỏ, đình chỉ hiệu lực các biện pháp khẩn cấp, tạm
thời, hiệp định cũng qui định các trường hợp bị đơn được quyền ra các yêu cầu
này nếu thủ tục tố tụng để xét xử vụ việc không được tiến hành trong một thời
gian hợp lý.
3. Thực thi quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp hành chính và chế tài áp
dụng (Điều 49 Hiệp định Trips)
Với bản chất là sử dụng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước thông qua
quyết định hành chính, thủ tục hành chính cho phép cơ quan có thẩm quyền đưa
ra các biện pháp trừng phạt đối với người có hành vi vi phạm quyền sở hữu trí
tuệ mà không cần đòi hỏi bắt buộc phải có người khiếu nại. Việc áp dụng thủ tục
hành chính cũng phải tuân theo một số nguyên tắc cơ bản và thẩm quyền xử lý
vi phạm hành chính trong lĩnh vực này được qui định cụ thể trong pháp luật mỗi
quốc gia.
4. Thực thi quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp hình sự và chế tài áp dụng.
( Điều 61 Hiệp định Trips)
2
Các hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ có mức độ bị coi là tội phạm thì
áp dụng chế tài hình sự. Các biện pháp chế tài bao gồm phạt tiền hoặc phạt tù,
bắt giữ, tịch thu, tiêu hủy hàng hóa xâm phạm, vật liệu, phương tiện sử dụng để
của Hiệp định Trips, các biện pháp mà các nước thành viên áp dụng trên cơ sở
các biện pháp được nêu trong Hiệp định Trips.
III. SỰ TƯƠNG THÍCH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM.
Các quy định của pháp luật Việt Nam về các biện pháp thực thi quyền sở
hữu trí tuệ được quy định ở nhiều văn bản khác nhau như: Luật sở hữu trí tuệ
2005, Bộ luật tố tụng dân sự 2004, Luật hải quan 2001,Bộ luật hình sự 1999,
Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính,….
1. Thực thi quyền sở hữu trí tuệ theo thủ tục dân sự và các chế tài áp dụng.
3
Một trong những nguyên tắc cơ bản của bộ luật tố tụng dân sự 2004 là
nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự của tất cả các
công dân (Điều 8 Bộ luật TTDS 2004). Điều này hoàn toàn phù hợp và tuân theo
quy định tại Điều 42 Hiệp định TRIPs. Theo đúng yêu cầu của Hiệp định, pháp
luật Việt Nam dành quyền bình đẳng và sự công bằng đúng đắn cho cả hai bên
trong vụ tranh chấp, cả với nguyên đơn và bị đơn. Hai bên được phép có cố vấn
pháp luật độc lập, bên bị đơn dược thông báo bằng văn bản một cách kịp thời và
chi tiết về lý do bị kiện cũng như các yêu cầu cần thiết để trả lời cho phía
nguyên đơn. Nếu như Hiệp định TRIPs đảm bảo tối đa quyền tự bảo vệ cho
đương sự hoặc ủy quyền cho người khác thì luật Việt Nam cũng có những điều
khoản cụ thể về vấn đề này khi ghi nhận các nguyên tắc cơ bản trong Bộ luật tố
tụng dân sự.
Tiếp thu tinh thần của Hiệp định TRIPs, Luật sở hữu trí tuệ và các văn bản
pháp luật liên quan trú trọng đến việc xử lý các hành vi xâm phạm quyền sở hữu
trí tuệ theo thủ tục dân sự. Việc khởi kiện dân sự nhằm mục đích yêu cầu người
thực hiện hành vi xâm phạm chấm dứt hành vi xâm phạm của mình và bồi
thường thiệt hại đã xảy ra. Người có quyền khởi kiện có thể là chủ sở hữu hoặc
người được chuyển giao hay được thừa kế.
Về chứng cứ: Các quy định về chứng cứ của Bộ luật tố tụng dân sự nhìn
chung là phù hợp với quy định của Hiệp định TRIPs, đó là khi đưa ra yêu cầu
khởi kiện trước toàn nguyên đơn hoặc người đại diện hợp pháp của họ phải cung
pháp luật của từng quốc gia và phải phù hợp với các quy định nêu tại mục 2 của
Hiệp định TRIPs mà các biện pháp hành chính còn được quy định rất cụ thể
trong các văn bản pháp luật có liên quan. Đặc biệt, luật sử đổi bổ sung một số
điều của Luật sở hữu trí tuệ đã điều chỉnh mức phạt hành chính, chức năng của
các cơ quan thực thi đã được xác định rõ ràng hơn nhằm tránh các thủ tục phiền
hà và chồng chéo và một cơ quan điều phối đã được thành lập.
Như vậy, các quy định của pháp luật Việt Nam về thực thi quyền sở hữu trí
tuệ theo thủ tục hành chính đã đáp ứng các yêu cầu của hiệp định TRIPs, và
ngày càng có những thay đổi thích hợp cho xử lí các hành vi xâm phạm.
4. Thực thi quyền sở hữu trí tuệ theo thủ tục hình sự.
Các biện pháp chế tài: Luật sở hữu trí tuệ 2005 quy định cá nhân thực hiện
hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố cấu thành tội phạm thì bị truy
cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hình sự. Bộ luật hình sự đã
quy định các chế tài nghiêm khắc bao gồm cả phạt tiền hoặc phạt tù. Tuy nhiên,
so với Điều 61 Hiệp định TRIPs thấy rằng phạm vi truy cứu trách nhiệm hình
sự đối với các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo các quy định của Bộ
luật hình sự có hẹp hơn.
Một điểm tiến bộ rõ rệt được nhận thấy ở Điều 171 Bộ luật hình sự sửa đổi
2009 quy định về tội phạm xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp. Sự thay đổi
này đã khắc phục được thiếu sót trước kia của Bộ luật hình sự 1999, tạo nên sự
phù hợp giữa pháp luật Việt Nam và Hiệp định TRIPs. Theo đúng tinh thần của
Hiệp định, Điều 171 BLHS quy định tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp
với lỗi cố ý xâm phạm và với quy mô thương mại mà không phải trong phạm vi
hẹp như BLHS 1999.
Sự thay đổi này cho thấy các quy định trong pháp luật Hình sự Việt Nam đang
từng bước hoàn thiện và phù hợp hơn với Hiệp định TRIPs.
5. Thực thi quyền sở hữu trí tuệ theo biện pháp kiểm soát biên giới.
5