Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn do quá
trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đem lại.Việt Nam từ một nước nông nghiệp lạc hậu đang có
những bước chuyển mạnh mẽ để theo kịp sự xu thế phát triển chung của toàn thế giới hiện nay.
Điều đó được thể hiện ở tỷ lệ tăng trưởng của Việt Nam trong những năm gần đây khá cao và rất
ổn định, đời sống nhân dân được cải thiên rõ rệt, tỷ lệ người nghèo giảm xuống rõ rệt…Để đạt
được những thành tựu to lớn này có sự đóng góp không nhỏ của hệ thống doanh nghiệp Việt Nam,
lực lượng chủ chốt của quá trình CNH – HĐH đất nước.
Giai đoạn năm 2001 – 2005 đánh dấu sự thay đổi khá mạnh mẽ của các doanh nghiệp Việt
Nam. Với những quyết định đầu tư hợp lý cộng với sự hỗ trợ rất tích cực của Nhà nước, doanh
nghiệp Việt Nam trong giai đoạn này đã có sự thay đổi căn bản cả về chất và lượng. Bên cạnh đó
vẫn còn những điểm yếu cố hữu chưa thể khắc phục được do những hậu quả của quá khứ để lại, do
sự thiếu hiểu biết hay hiểu biết còn lờ mờ.Chính vì vậy việc nghiên cứu và hỗ trợ các doanh nghiệp
để giúp họ có sự định hướng đúng đắn trong hoạt động đầu tư, đặc biệt là đầu tư phát triển giữ vai
trò sống còn với bảnthân các doanh nghiệp nói riêng, nền kinh tế nước nhà nói chung.
Giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống doanh nghiệp Việt Nam hiên nay là hệ thống doanh nghiệp
nhà nước.Trong 20 năm đổi mới do Đảng ta đã đề xướng và lãnh đạo, DNNN là đối tượng được
Đảng đặc biệt chú trọng tìm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh. Đảng ta đã
đề ra cả Nghị quyết riêng về đổi mới DNNN (Theo NQ TW3 khoá 9).Kết quả của quả trình sắp
xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN ở Việt Nam đã có những chuyển biến cụ thể, rất tích cực
với những sự đầu tư hợp lý đem lại hiệu quả cao. Song vẫn còn nhiều chuyện phải bàn về DNNN,
nhất là trong giai đoạn mới - thời kỳ Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức
Thương mại thế giới (WTO).
Nhận thấy tầm quan trọng của việc tìm hiểu về hoạt động đầu tư phát triển trong doanh
nghiệp, đặc biệt là trong DNNN Việt Nam hiện nay, nhóm chúng em đã nghiên cứu đề tài : “ Nội
dung cơ bản của hoạt động đầu tư phát triển trong doanh nghiệp và thực trạng đầu tư phát
triển trong DNNN hiện nay.”
Chúng em xin chân thành cảm ơn thầy Từ Quang Phương đã giúp đỡ chúng em rất nhiều
trong quá trình hoàn thiện bản đề án này.
chr động sáng tạo của chủ đầu tư,vai trò quản lý kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước các
cấp.Thực tế,có những khoản đầu tư không trực tiếp tạo ra tài sản cố định và tài sản lưu động cho
2
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
hoạt động sản xuất kinh doanh như đầu tư cho giáo dục,y tế,hoạt động xoá đói giảm nghèo…
nhưng lại rất quan trọng để nâng cao chất lượng cuộc sống vì mục tiêu phát triển,do đó,cũng được
xem là hoạt động đầu tư phát triển.
Mục đích của đầu tư phát triển là vì sự phát triển bền vững,vì lợi ích quốc gia, cộng đồng và
nhà đầu tư.Trong đó, đầu tư nhà nước nhằm mục đích thúc đẩy tưng trưởng kinh tế,tăng thu nhập
quốc dân,góp phần giải quyết việc làm và nâng cao đời sống của thành viên trong xã hội. Đầu tư
của doanh nghiệp nhằm tối thiểu chi phí,tối đa lợi nhuận,nâng cao khả năng cạnh tranh và chất
lượng nguồn nhân lực…
Đầu tư phát triển thương được thực hiện bởi một chủ đầu tư nhất định.Xác định rõ chủ đầu tư
có ý nghĩa quan trọng trong quá trình quản lý đầu tư nói chung và vốn đầu tư nói riêng.Chủ đầu tư
là ngời sở hữu vốn hoặc được giao quản lý,sử dụng vốn đầu tư.Theo nghĩa đầy đủ,chủ đầu tư là
người sở hữu vốn,ra quyết định đầu tư,quản lý quá trình thực hiên và vận hành kết quả đầu tư và là
người hưởng lợi thành quả đầu tư đó.Chù đầu tư chịu trách nhiệm kiểm tra giám sát đầu tư,chịu
trách nhiệm toàn diện về những sai phạm và hậu quả do ảnh hưởng của đầu tư đến môi trường môi
sinh và do đó có ảnh hưởng quan trọng đến việc nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư.Thực tế quản
lý còn có những nhận thức sai lầm về quan điểm chủ đầu tư.
Hoạt động đầu tư phát triển là một quá trình,diễn ra trong thời kì dài và tồn tại vấn đề “độ trễ
thời gian”. Độ trễ thời gian là sự không trùng hợp giữa thời gian đầu tư với thời gian vân hành kết
quả đầu tư. Đầu tư hiện tại nhưng kết quả đầu tư thường thu được trong tương lai. Đặc điểm này
của đầu tư cần được quán triệt khi đánh giá kết quả,chí phí và hiệu quả hoạt động đầu tư phát triển.
Nội dung đầu tư phát triển ở phạm vi doanh nghiệp và phạm vi nền kinh tế có thể khác nhau.Trên
góc độ nền kinh tế, đầu tư phát triển phải làm gia tăng tài sản cho nền kinh tế chứ không phải
chuyển giao tài sản giữa các đơn vị.
Đầu tư phát triển khác về bản chất với đầu tư tài chính. Đầu tư tài chính là loại đầu tư trong
đó người có tiền bỏ tiền ra cho vay hoặc mua các chứng chỉ có giá trên thị trường tiền tệ,thị trường
vốn để hưởng lãi suất định trước(gửi tiết kiệm,mua trái phiếu Chính phủ) hoặc lợi nhuận phụ thuộc
-Thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài.Thời gian vận hành các kết quả đầu tư tính từ
khi đưa công trình vào hoạt động cho đến khi hết thời hạn sử dụng và đào thải công trình.Nhiều
than quả đầu tư phát huy tác dụng lâu dài,có thể tồn tại vĩnh viễn như các Kim tự tháp Ai Cập,Nhà
thờ La Mã ở Rôm….Trong suốt quá trình vận hành,các thành quả đầu tư chịu sự tác động hai
mặt,cả tích cực và tiêu cực,của nhiều yếu tố tự nhiên,chính trị,kinh tế xã hội…Để thích ứng với
đặc điểm này,công tác quản lý hoạt động đầu tư cần chú ý một số nội dung sau:
4
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Thứ nhất,cần xây dựng cơ chế và phương pháp dự báo khoa học cả ở cấp vĩ mô và vi mô về
nhu cầu thị trường với sản phẩm đầu tư tương lai,dự kiến khả năng cung từng năm và toàn bộ vòng
đời dự án.
Thứ hai,quản lý tốt quá trình vận hành,nhanh chóng đưa các thành quả đầu tư vào sử
dụng,hoạt động tối đa công suất đẻ nhanh chóngthu hồi vốn,tránh hao mòn vô hình.
Thứ ba,chú ý đúng mức tới yếu tố độ trễ thời gian trong đầu tư. Đầu tư trong năm nhưng
thành quả đầu tư chưa chắc đã phát huy tác dụng ngay trong năm đó mà từ những năm sau và kéo
dài trong nhiều năm. Đây là đặc điểm rất riêng của lĩnh vực đầu tư, ảnh hưởng lớn tới công tác
quản lý hoạt động đầu tư
-Các thành quả hoạt động đầu tư phát triển là các công trình xây dựng thường phát huy tác
dụng ngay tại nơi nó được tạo dựng nên,do đó,quá trình thực hiện đầu tư cũng như thời kỳ vận
hành các kết quả đầu tư chịu ảnh hưởng lớn của các nhân tố về tự nhiên,kinh tế,xã hội
vùng.Không thể dễ dàng dịch chuyển các công trình đã đầu tư từ nơi này sang nơi khác,nên công
tác quản lý hoạt động đầu tư phát triển cần quán triệt đặc điểm này trên một số nội dung sau:
Trước tiên,cần phải có chủ trương đầu tư và quyết định đầu tư đúng. Đầu tư cái gì,công suất
bao nhiêu là hợp lý…cần phải được nghiên cứu kỹ lưỡng,dựa trên các nghiên cứu khoa học.
Lựa chọn địa điểm đầu tư hợp lý. Để lựa chọn địa điểm thực hiện đầu tư đúng phải dựa trên
những căn cứ khoa học,dựa vào hệ thống các chỉ tiêu kinh tế,chính trị,xã hội,môi trường,văn hoá…
Cần xây dựng một bộ tiêu chí khác nhau và nhiề phương án so sánh để lựa chọn vùng lãnh thổ và
địa điểm đầu tư cụ thể hợp lý nhất,sao cho khai thác được tối đa lợi thế vùng và không gian đầu tư
cụ thể,tạo điều kiện nâng cao hiệu quả vốn đầu tư.
-Đầu tư phát triển có độ rủi ro cao.Do quy mô vốn đầu tư lớn,thời kỳ đầu tư kéo dài và thời
đã lỗi thời, đó cũng chính là hoạt động đầu tư.
1.4) Nguồn vốn cho đầu tư phát triển
Nguồn lực để thực hiện đầu tư là vốn.Nội dung và nguồn gốc của vốn là những vấn đề cốt lõi
cần phải giải quyết của lý thuyết đầu tư phát triển.Bản chất của đầu tư phát triển còn được thể hiện
ở nội dung vốn và nguồn vốn đầu tư, lý luận biện chứng về mối quan hệ hữu cơ giữa hai vấn đề
này.
Vốn đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của vốn nói chung.Trên phương diện kinh tế,vốn đầu
tư phát triển là biểu hiện bằng tiền toàn bộ những chi phí đã chi ra để tạo ra năng lực sản xuất (tăng
thêm tài sản cố định và tài sản lưu động) và các khoản đầu tư phát triển khác.Về cơ bản vốn đầu tư
phát triển mang những đặc trung của vốn như:(1) vốn đại diện cho một lượng giá trị tài sản;(2) vốn
6
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
phải vận động sinh lời;(3) vốn cần được tích tụ và tập trung đến một mức nhất định mới có thể
phát huy tác dụng;(4) vốn phải gắn với chủ sở hữu;(5) vốn có giá trị về mặt thời gian.
Nội dung cơ bản của vốn đầu tư phát triển trên phạm vi nền kinh tế bao gồm:
(a). Vốn đầu tư xây dựng cơ bản: là những chi phí bằng tiền để xây dựng mới ,mở rộng,xây
dựng lại hoặc khôi phục năng lực sản xuất của tài sản cố định trong nền kinh tế quốc dân.
(b). Vốn lưu động bổ sung: bao gồm những khoản đầu tư nhằm mua sắm nguyên vật liệu,thuê
mướn lao động…làm tăng tài sản lưu động trong kỳ của toàn bộ xã hội.
(c). Vốn đầu tư phát triển khác: là tất cả cá khoản đầu tư của xã hội nhằm gia tăng năng lực
phát triển của xã hội,nâng cao trình độ dân trí,cải thiện chất lượng môi trường.Ví dụ như vốn đầu
tư cho lĩnh vực giáo dục:chương trình phổ cập giáo dục,nghiên cứu,triển khai đầo tạo…Vốn chi
cho các chương trình mục tiêu quốc gia nhằm tăng cường sức khoẻ cộng đồng như chương trình
tiêm chủng mở rộng,chương trình nước sạch nông thôn…
Nguồn vốn đầu tư phát triển là thuật ngữ chỉ các nguồn tích luỹ,tập trung và phân phối cho
đầu tư.Về bản chất,nguồn hình thành vốn đầu tư phát triển chính là phần tiết kiệm hay tích luỹ mà
nền kinh tế có thể huy động để đưa vào quá trình tái sản xuất xã hội.Nguồn vốn đầu tư phát triển
trên phương diện vĩ mô,bao gồm nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài.Nguồn vốn trong
nước gồm:vốn nhà nước,vốn dân doanh và vốn trên thị trường vốn.Nguồn vốn nước ngoài bao
gồm: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI), vốn hỗ trợ phát triển chính thức(ODA),vốn vau
Thứ hai: Đầu tư tạo điều kiện nâng cao chất lượng sản phẩm
Như chúng ta đã biết , đầu tư trong doanh nghiệp bao gồm: đầu tư vào lao động , đầu tư vào
tài sản cố định , đầu tư vào hàng dự trữ …Tất cả việc đầu tư này nhằm mục đích là tạo ra một sản
phẩm với chất lượng cao , mẫu mã đẹp để đáp ứng nhu cầu của con người trong xã hội hiện đại.
Điều này đã được chứng minh , trong nhưng năm qua các doanh nghiệp muốn tồn tại trong nền
kinh tế thị trường thì căn bản nhất là phải nâng cao chất lượng sản phẩm hạ giá thành ..
Thứ ba là: Đâu tư tạo điều kiện giảm chi phí sản xuất , tăng lợi nhuận
Không có doanh nghiệp nào tiến hành sản xuất kinh doanh lại không đặt mục tiêu về lợi nhuận.
Không chỉ là mong muốn có lợi nhuận mà họ còn mong muốn tiền của họ không ngừng tăng lên
tức là quy mô lợi nhuận ngày càng được mở rộng.
8
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Hoạt động đầu tư của mỗi doanh nghiệp chính là hoạt động nhằm thực hiện chiến lược sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp đó với mục tiêu đạt được lợi nhuận mà doanh nghiệp đề ra.Khi
lợi nhuận càng cao thì lợi ích càng lớn và ngược lại .Lợi nhuận được quy mô bởi doanh thu và chi
phí theo công thức:
Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí
Doanh thu có lớn hay không lại phụ thuộc vào quá trình đầu tư của doanh nghiệp.Nếu đầu
tư mang lại hiệu quả cao thì doanh thu sẽ nhiều .Như vậy đầu tư đã tạo điều kiện giảm chi phí sản
xuất, tăng lợi nhuận.
Thứ tư là: Đầu tư góp phần đổi mới công nghệ , trình độ khoa học kĩ thuật tróngản xuất sản
phẩm của doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường , các doanh nghiệp luôn luôn chú trọng đến việc đổi mới nhằm
nâng cao sức cạnh tranh của mình.Và một trong các công việc đầu tư của doanh nghiệp là đầu tư
vào tài sản cố định. Điều này có nghĩa là doanh nghiệp tiến hành mua sắm máy móc thiết bị , đổi
mới công nghệ nhằm nâng cao năng suất , đổi mới sản phẩm cả về chủng loại mẫu mã và chất
lượng…
Như vậy có thể thấy dưới sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học công nghệ , mỗi
doanh nghiệp đều nhận thấy vai trò to lớn của đầu tư cho công nghệ cũng như hiện đại hoá máy
móc thiết bị trong quá trình sản xuất.Hay nói cách khác đầu tư góp phần đổi mới công nghệ trình
xem xét một cách kĩ lưỡng.
-Phân tích môi trường kinh tế quốc dân cần chủ động đối với các yếu tố kinh tế , chính trị xã
hội , điều kiện tự nhiên , nắm bắt được thực trạng nền kinh tế đang ở giai đoạn nào , tỷ lệ lạm phát
là bao nhiêu …
-Phân tích môi trường ngành và nội bộ ngành
Tập trung và tìm hiểu xem có bao nhiêu đối thủ cạnh tranh tiềm lực và khả năng của họ như thế
nào , sản phẩm của họ đóng vai trò như thế nào đối với người tiêu dùng, họ đang sử dụng máy
móc thiết bị công nghệ nào .
Thứ ba là: phân tích thực trạng nội bộ doanh nghiệp
-Phân tích nhóm nhân tố liên quan đến nguồn nhân lực bao gồm :
+ Trình độ nghề nghiệp của công nhân sản xuất trực tiếp .
+Trình độ của cán bộ lãnh dạo , nhất là năng lực lãnh đạo kĩ thuật.
-Phân tích vị thế của doanh nghiệp trên thị trường:
+Nguồn tài chính là vấn đề cần chú ý lựa chọn mục tiêu vừa phải và c ó hướng đi phù hợp.
+Cần xem xét quy mô vốn có thể huy động và đặc điểm kinh tế-kĩ thuật của mỗi ngành .
10
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
-Xem xét các điều kiện về cơ sở hạ tầng hiện có hoặc có các biện pháp bổ xung thích hợp với máy
móc thiếp bị và công nghệ dự kiến sẽ lựa chọn.
Thứ tư là: phân tích các yếu tố liên quan đến máy móc thiết bị và công nghệ
-Xem xét xu hướng lâu dài của máy móc thiết bị và công nghệ để đảm bảo ttránh sự lạc hậu hoặc
khó khăn gây trở ngại cho việc sử dụng máy móc thiết bị trong khi chưa thu hồi đủ vốn.
11
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
-Lựa chọn máy móc thiết bị mà các dụng cụ thay thế sẵn có trong nước hoặc là được đảm bảo chắc
chắn có phụ tàng thay thế.
-Máy móc công nghệ phải lựa chọn loại có nhiều nguồn vốn cung cấp để tạo ra sự cạnh tranh giữa
các nhà cung cấp để mua được công nghệ với giá phải chăng , tạo thế chủ động cho hoạt động sau
này.
-Xem xét toàn diện khía cạnh kinh tế kĩ thuật của máy móc thiết bị và công nghệ để lựa chọn công
Nếu dự trữ ít quá không đủ nguyên vật liệu để sản xuất , không đủ hàng hoá để bán và dẫn đến
gián đoạn sản xuất kinh doanh .
Cần phải phân biệt giữa dự trữ và tinh trạng dư thừa ứng đọng sản phẩm trong các doanh nghiệp.
2.3.3) Đầu tư phát triển nguồn nhân lực
Bất cứ một loại hình doanh nghiệp nào đều phải quan tâm đến lao động trong quá trình đầu tư
của mình.Việc quan tâm đến lao động trong doanh nghiệp không chỉ về mặt số lượng mà cần quan
tâm cả mặt chất lượng.Số lượng lao động ảnh hưởng đến quy mô sản xuất của doanh nghiệp, còn
chất lượng lao động ảnh hưởng đến cường độ lao động , năng suất lao động.Việc tăng chất lượng
lao động chỉ băng cách đầu tư cho y tế , giáo dục đào tạo , dạy nghề ..Từ đó nâng cao thể lực ,
trình độ ,tay nghề của người lao động .
Trong điều kiện hiện nay nhiều doanh nghiệp coi việc đầu tư phát triển nguồn nhân lực là
chiến lược canh tranh.Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp bao gồm :Cán bộ quản lí , công nhân
sản xuất và cán bộ nghiên cứu khoa học. Đối với từng loại phải có chính sách đào tạo riêng nhưng
đều phải liên tục được tu dưỡng rèn luyện nghiên cứu học tập.. để nâng cao kinh nghiệm , trình độ
tay nghề.
Đầu tư phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp bắt đầu từ khâu tuyển người lao động. Đây
là cơ sở để có được lực lượng lao động tốt, bởi vậy khâu tuyển người đòi hỏi cần phải rất khắt khe
cẩn thận nhất.Tuyển người hiện nay đòi hỏi phải đạt được các yêu cầu như : Trình độ văn hoá ,
ngoại ngữ, trình độ vi tính …Tiếp đến là quá trình nâng cao khả năng lao động của người lao động
thường xuyên.Trong điều kiện đổi mới hiện nay rất nhiều công nghệ hiện đại đã và đang được ứng
dụng trong các loại hình doanh nghiệp nước ta.Vì vậy việc đào tạo lao động là yêu cầu vô cùng
quan trọng .Cuối cùng là việc khen thưởng tổ chức các hoạt động về tinh thần giúp người lao động
hăng say trong công việc từ đó nâng cao năng suất lao động. Các hinh thức khen thưởng đang được
thực hiện ở các doanh nghiệp các cá nhân thành viên có thanh tích tốt đều được thưởng xứng đáng
góp phần nâng cao trong xí nghiệp , công ty , các cuộc thi các cá nhân …Nhờ có chính sách đào tạo
lao động nhiều doanh nghiệp đã đạt được những thanh công to lớn , góp phần không nhỏ trong
chiến lược sản xuất kinh doanh cũng như chiến lược cạnh tranh của mình.
2.3.4) Đầu tư vào nghiên cứu và triển khai
13
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
14
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Thứ nhất là : đầu tư cho việc nghiên cứu thị trường của doanh nghiệp trước hết là nghiên cứu
khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Có thể nói cạnh tranh là một đặc tính cơ bản nhất của thị trường của doanh nghiệp , sẽ không
có thị trường nếu không có cạnh tranh , trong môi trường cạnh tranh hoàn hảo mục tiêu của doanh
nghiệp , người tiêu dùng là tối đa hoá lợi nhuận và sự tiện ích của chính mình , khả năng cạnh tranh
là nguồn năng lượng thiết yếu để doanh nghiệp tiếp tục vững bước trên con đường hội nhập kinh
tế.
Thực tế cho thấy doanh nghiệp kinh doanh thành công thực hiện các kĩ năng cạnh tranh rất
thuần thục , nó tạo thành phương pháp cạnh tranh đặc trưng doanh nghiệp
Các kĩ năng này tập trung vào :
-Tạo lập và phát triển uy tín doanh nghiệp
-Coi trọng chiến lược mở rông thị trương
-Xây dựng và thực hiện đổi mới sản phẩm , mẫu mã
-Luôn tìm cách giảm chi phí sản xuất
-Sách lược tiêu thụ sản phẩm khôn khéo
Thứ hai là: khi nghiên cứu thị trường trong đầu tư tài sản vô hình của doanh nghiệp ta cần
phải nghiên cứu hành vi của người tiêu dùng.
Hành vi của người tiêu dùng thực hiện trong việc tìm kiếm , mua , sử dụng đánh giá và vứt bỏ
các sản phẩm và dịch vụ mà họ dự định sẽ thoả mãn các nhu cầu của họ.Nghiên cứu hành vi của
người tiêu dùng là nghiên cứu các cá nhân đưa ra quyết định thế nào đối với việc chi tiêu các
nguồn tài nguyên có thẻ sử dụng của họ trong các hạng mục liên quan đến sự tiêu dùng.Qua việc
nghiên cứu hành vi người tiêu dùng sẽcung cấp cho các nhà sản xuất những thông tin quan trọng để
họ lên kế hoạch sản xuất thiết kế cải tiến và xây dựng được cac chiến lược khuyến mại.
Mục đích của nghiên cứu người tiêu dùng là phục vụ cho công tác quản lí kinh doanh sản xuất
và dịch vụ.Các nhà quả lí muốn biết nguyên nhân hành vi của người tiêu dùng , họ muốn biết con
người đưa ra quyết định mua hàng sử dụng , cất kho và vứt bỏ các sản phẩm như thế nào từ đó xây
dựng chiến lược Maketing lập ra những mảng thị trường mới cho một sản phẩm riêng hay một
loại sản phẩm.Nghiên cứu hành vi người tiêu dùng được tiến hành bởi các tổ chức Maketing riêng
Vai trò chính trị: Một là, DNNN nắm giữ những ngành đặc biệt quan trọng liên quan đến an
ninh, quốc phòng quốc gia. Hai là, DNNN tham gia chiếm giữ một số vị trí thiết yếu, quan trọng
(tuỳ theo từng thời kỳ phát triển kinh tế) để chủ động định hướng xã hội, làm đối trọng trong phát
triển hội nhập kinh tế quốc tế.
Vai trò xã hội: DNNN gánh vác chức năng và vai trò xã hội và khác biệt so với các loại hình
doanh nghiệp khác, những ngành ở những địa bàn khó khăn có ý nghĩa chính trị-xã hội mà tư nhân
không muốn đầu tư, đảm bảo cân bằng về đầu tư phát triển theo vùng, miền, đảm nhận các ngành
sản xuất hàng hoá công cộng thiết yếu.
Có được những kết quả như vậy là do hiệu quả của hoạt đông đổi mới hệ thống DNNN đem
lại.Chính vì vậy, việc tìm hiểu và nghiên cứu thực trạng về sự đổi mới kéo theo hiệu quả của hoạt
động đầu đầu tư trong hệ thống DNNN là rất cần thiết, góp phần đưa ra một cánh nhìn tồng quan
về các DNNN Việt Nam hiên nay.
I) Sự đổi mới doanh nghiệp Nhà nước giai đoạn 2001 - 2005
So với tất cả các giai đoạn trước đây,có thể khẳng định giai đoạn từ 2001-2005 là giai đoạn
đánh dấu sự đổi mới rõ nét nhất các doanh nghiệp Nhà nước(DNNN) và hoạt động của
chúng.Trong giai đoạn này,DNNN đã được đổi mới theo các hướng chủ yếu sau:
1.1) Giảm doanh nghiệp Nhà nước 100% vốn nhà nước
17
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Khác với các giai đoạn trước đây,chỉ đén giai đoạn từ 2001-2005 số DNNN mới thực sự giảm
xuống.Nếu đầu năm 2001 nước ta vẫn có 5.759 DNNN (vẫn gần với con số từ khi bắt đầu có chủ
trương giảm DNNN của hàng chục năm trở về trước) thì đến năm 2002 nước ta có 5.363 DNNN
trong đó có 91 tổng công ty nhà nước (TCTNN) gồm 1.476 doanh nghiệp thành viên.Và theo con
số thống kê tới năm 2005 có khoảng 4.086 DNNN đang hoạt động.
Trong số DNNN có 100% vốn Nhà nước ,mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước
(CTTNHHNN) mới ra đời chưa lâu và được hình thành trong trào lưu hình thành các tập đoàn kinh
doanh theo mô hình công ty mẹ- công ty con nên chưa có các đánh gia cụ thể.Tuy nhiên,có thể thấy
mô hình này cũng không khác lạ nhiều so với mô hình công ty nhà nước phụ thuộc
1.2) Dù tăng tốc độ cổ phần hoá DNNN nhưng con đường phía trước còn dài
dựng: 29% doanh nghiệp cổ phần hoá thuộc lĩnh vực thương mại - dịch vụ; 6% doanh nghiệp CPH
thuộc lĩnh vực nông – lâm - thuỷ sản.
Cho đến nay dù đã CPH khoảng gần một nửa số DNNN được hình thành tử 1993 song do kế
hoạch CPH chỉ xác định số lượng doanh nghiệp sẽ CPH mà không xác định chỉ tiêu giá trị vốn nhà
nước nên giá trị vốn được CPH lại quá nhỏ bé. Cho đến nay,cả nước mới chỉ CPH khoảng 9% tổng
số vốn của nhà nước tại các DNNN.Với kết quả này, con đường CPH theo chủ trương của Đảng đã
xác định ở Nghị quyết Đại hội X chắc sẽ còn khá dài ở phía trước.
1.2.2) Mô hình công ty cổ phần nhà nước – “bình mới,rượu cũ”
Các đánh giá về hoạt động sản xuất kinh doanh của các công ty cổ phần (CTCP) sau CPH
DNNN đều cho thấy kết quả đạt được khá hơn trước,chẳng hạn: “Vào năm 2004,chưa đến 4%
DNNN CPH làm ăn thua lỗ. Đối với các doanh nghiệp còn lại,tỷ lệ lợi nhuận trung bình là
19
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
17%,gấp 3 lần so với trước khi CPH”.Trong khi đó,các đánh giá về nhận thức cũng như quản trị
CTCP nhà nước lại cho thấy hầu như khác trước rất ít.
Cơ chế hoạt động của mô hình CTCPNN còn chưa thống nhất và bất cập.Một số DNNN sau
khi CPH có tình trạng hiểu sai và làm sai mô hình CTCP,nhiều doanh nghiệp vẫn hoạt động “y như
trước”,mô hình tổ chức,tư duy,công nghệ,quản lý và triết lý kinh doanh dập theo bài bản của
DNNN.
Đội ngũ cán bộ quản trị ở các CTCPNN sau CPH ít được đổi mới.Sau khi CPH nhiều
CTCPNN vẫn sử dụng toàn bộ cán bộ quản trị thuộc bộ quản trị của DNNN trước đó.Có tới 85%
chức danh chủ tịch hội đồng quản trị,gần 84% chức danh giám đốc,gần 77% chức danh phó giám
đốc và gần 80% chức danh kế toán trưởng vẫn được giữ nguyên như cũ.
Chính vì vậy khi chuyển sang CTCPNN nhiều cán bộ vẫn còn dè dặt trong cung cách kinh
doanh, nhiều cán bộ không đáp ứng được yêu cầu trong môi trường kinh doanh mới theo luật mới
quy định.
1.3) Từ sắp xếp lại các TCT đến hình thành các tập đoàn kinh doanh
1.3.1) Sắp xếp lại các TCT – hai cách đánh giá trái ngược
Đây là hướng đổi mới khá rõ nét trong giai đoạn 2001-2005.Những năm đầu giai đoạn này
các cơ quan có thẩm quyền đã giải thể 6 TCT 90;thực hiện sát nhập,hợp nhất 8 TCT thành 4 TCT
một số mặt hàng thiết yếu trong sản xuất và đời sống; chưa làm tốt chức năng thị trường,không đủ
thực lực làm công cụ điều hành cũng như đầu tư hỗ trợ và tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp
thành viên.
-Các TCTNN được thành lập khá dàn trải,chưa tập trung vào các ngành,lĩnh vực then
chốt.Tiêu chí thành lập TCTNN không được tôn trọng.Ngành nào, lĩnh vực nào cũng cố thành lập
cho được chí ít 1 TCT.Ngoài các ngành “đặc thù” ,có tới 68/94 TCT không đảm bảo tiêu chí quy
định ở quyết định 58/2002/QĐ-TTg ngày 26/4/2002.Có gần 80% số TCT chưa đảm bảo tiêu chí về
vốn (500 tỷ đồng), 21/76 TCT (27,6%) có số vốn dưới 100 tỷ đồng,chỉ có 9/77 TCT (11,6%) có số
vốn trên 500 tỷ đồng.
-Quy mô vốn nhỏ: Bình quân 3.900 tỷ/1 TCT, 5/17 TCT có mức vốn dưới 1.000 tỷ, TCT
Công nghiệp tàu thuỷ chỉ có 258,7 tỷ đồng vốn.Có TCT quá nhỏ như TCT Phát hành sách (13,6
tỷ),TCT Thuỷ sản Hạ Long (28,8 tỷ),…
-Từ liên hiệp xí nghiệp và cho đến nay là TCT - một câu hỏi đặt ra cần được trả lời: liệu TCT
là một doanh nghiệp kinh doanh hay một cấp quản lý hành chính trung gian?
1.3.2) Hình thành mô hình các tập đoàn kinh doanh ở nước ta
21
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Đến cuối giai đoạn 2001-2005,Theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ chúng ta đã chuyển
đổi 47 TCTNN độc lập có quy mô lớn sang hoạt động theo mô hình tập đoàn kinh doanh với kiểu
tổ chức công ty mẹ - công ty con.Ví mô hình này còn đang trong giai đoạn thử nghiệm nên chưa có
đánh giá cụ thể.
1.4) Giao, bán, khoán và cho thuê DNNN
Đến tận năm 1999 Chính phủ mới ban hành nghị định về giao, bán, khoán, cho thuê DNNN số
103/199/CĐ-CP đến nay cũng chỉ có 359 DNNN được giao,bán, khoán và cho thuê.
Việc giao,bán doanh nghiệp cho tập thể người lao động đã tránh được tình trạng giải thể, phá
sản doanh nghiệp và duy trì việc làm cho người lao động.Nhưng do chưa có sự đổi mới phương
thức quản lý nên khả năng đầu tư đổi mới công nghệ và mở rộng thị trường hạn chế,hiệu quả sản
xuất kinh doanh thấp,tình trạng lao động xin nghỉ việc nhiều,phương thức quản lý và bộ máy quản
lý của các doanh nghiệp vẫn như cũ và do đó sẽ vẫn phải tiếp tục sắp xếp lại sau thời hạn khoán,
cho thuê
lập vốn và sử dụng vốn trong các DNNN nhìn chung chưa hiệu quả còn nhiều bất hợp lí như cơ
cấu nguồn vốn ,vốn vay và vốn chiêm dụng chiếm tỷ lệ quá lớn vốn chủ sở hữu ảnh hương không
nhiều đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.Việc sử dụng vốn chưa đạt hiệu quả như mong
muốn . Các chỉ tiêu sinh lời như :Tỷ suất sinh lời/Tổng tài sản (ROA) ;Tỷ suất lợi nhuận /Vốn kinh
23
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
doanh ; vòng quay của vốn nhìn chung còn thấp .Hiện tượng “ăn vào vốn “, “ vốn bị thâm hụt “
vẫn còn trong các doanh nghiệp nhà nước.
Tuy DNNN đóng góp nhiều trong GDP nhưng nó vẫn không tương xứng với vốn được đầu tư.
Nếu so sánh với mức vốn đầu tư xã hội của khu vực kinh tế nhà nứơc vẫn cao nhất so với các loại
hình doanh nghiệp khác ( chiếm trên 53%tổng vốn đầu tư xã hội ) thì mới thấy đóng góp của
DNNN có xu hướng giảm mạnh so với vốn đầu tư vào kinh doanh . Số liệu thống kê cho thấy đóng
góp của DNNN trong GDP không ổn định và dao động trong khoảng 33%-44%,thu ngân sách nhà
nước từ DNNN có xu hướng giảm dần,từ trên 35% xuống còn khoảng dưới 21%.
Nguyên nhân là việc tạo lập, quản lí sử dụng vốn chưa hiệu quả .Chưa xây dựng một cơ cấu
nguồn vốn hợp lí ,tối đa hoá giá trị của doanh nghiệp ,chưa khai thác triệt để nguồn vốn bên trong
doanh nghiệp.Việc sử dụng vốn đầu tư dàn trải ,bố trí vốn phân tán gây thất thoát lãng phí vốn đầu
tư…..
Như vậy có thể thấy DNNN giữ môt vai trò quan trọng trong quá trình tăng trưởng và phát
triển nền kinh tế. Vì vậy việc nâng cao hiệu quả sử đầu tư từ vốn trong DNNN là vấn đề cần được
quan tâm và đưa ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng.
2.2) Thực trạng đầu tư tài sản vốn vật chất
Giai đoạn từ thập kỷ 80 trở lại đây đánh dấu sự thay đổi mạnh mẽ trong chính sách đầu tư vào
tài sản vốn vật chất.Theo đó, nhà nước chỉ quản lý ở tầm vĩ mô, tạo cơ chế huy động và khuyến
khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư, thựchiên chiến lược mở cửa, hội nhập kinh tế.Tuy
nhiên thực tế là trong giai đoạn này, đầu tư của nhà nước vào khu vực kinh tế quốc doanh vẫn tiếp
tục giữ tỷ trọng cao và tăng lên khá nhiều so với các thành phần kinh tế khác, mặc dù xu hướng
24
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
đóng góp của khu vực này cho GDP lại đang có xu hướng giảm đi, điều đó được thể hiên dưới
25