Nội dung pháp lí cơ bản về hoạt động đấu giá hàng hóa. - Pdf 58

I. KHÁI QUÁT VỀ ĐẤU GIÁ HÀNG HÓA:
1. Pháp luật điều chỉnh về hoạt động đấu giá hàng hóa :
Bán đấu giá hàng hóa với tính chất là một hành vi thương mại của thương
nhân lần đầu tiên được Luật hóa trong Luật thương mại năm 1997. Tuy nhiên Luật
thương mại năm 1997 chỉ dành 2 điều( điều 139 và điều 140) quy định về đấu giá
hàng hóa. Những vấn đề cụ thể về đấu giá hàng hóa được giao cho Chính phủ quy
định chi tiết.
Trên thực tế, trong thời gian thi hành Luật Thương mại năm 1997 hoạt động
bán đấu giá hàng hóa chủ yếu được thực hiện đối với các hàng hoa là hàng bị tịch
thu do vi phạm hành chính hoặc để thi hành án.
Khắc phục sự thiếu sót của Luật thương mại 1997, nhằm tạo cơ sở pháp lí
đầy đủ cho hoạt động đấu giá hàng hóa phát triển, nâng cao hiệu quả và hiệu lực
pháp lí của hoạt động thương mại này, Luật thương mại 2005 đã bổ sung thêm 27
điều quy định về hoạt đôngh đấu giá hàng hóa. Luật thương mại 2005 quy định về
đấu giá hàng hóa từ điều 185 đến điều 213 trên cơ sở những quy định chung về đâí
giá tài sản trong Bộ luật dân sự. Các quy định về đấu giá hàng hóa trong Luật
thương mại 2005 tạo cơ sở pháp lí nền móng quan trọng cho sự phát triển của hoạt
động đấu giá hàng hóa ở Việt Nam.
Nghị định của Chính phủ số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/03/2010 về bán đấu
giá tài sản.
2. Khái niệm, bản chất của đấu giá hàng hóa:
“Đấu giá hàng hóa là họat động thương mại, theo đó người bán hàng tự
mình hoặc thuê người tổ chức đấu giá thực hiện bán hàng hóa công khai để chọn
người mua trả giá cao nhất.” ( Điều 185)
Có thể nói đấu giá hàng hóa là phương thức để bên bán xác định người mua
hàng( người bán có quyền lựa chọn người mua). Về bản chất pháp lí, đấu giá hàng
hóa là một hành vi pháp lí, do sự khác nhau về chủ thể, mục đích mà đấu giá hàng
hóa có thể là một hành vi dân sự thông thường hoặc trở thành một hành vi thương
mại độc lập của thương nhân. Đối tượng đấu giá là hàng hóa thương mại được
phép lưu thông trên thị trường, có thể là những hàng hóa thông thường nhưng hầu
hết là những hàng hóa có đặc thù về giá trị cũng như giá trị sử dụng; giá ban đầu

người làm dịch vụ đấu giá. Nó làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên trong
quan hệ ủy quyền bán đấu giá hàng hóa.
 Văn bản bán đấu giá: thực chất là hợp đồng mua bán hàng hóa, được xác
lập giữa các bên liên quan (người bán hàng, người mua hàng và tổ chức bán đấu
giá). Văn bản này là cơ sở pháp lý để xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên trong
quan hệ mua bán hàng hóa; là căn cứ để xác lập quyền sở hữu của ng mua hàng đối
với hàng hóa bán đấu giá.
2
II. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ ĐẤU
GIÁ HÀNG HÓA:
1. Các hình thức bán đấu giá:
Hình thức bán đấu giá hàng hóa được hiểu là cách thức để tiến hành một
cuộc bán đấu giá. Đấu giá hàng hóa là một quy trình phức tạp. Quy trình này có thể
tiến hành theo nhiều hình thức khác nhau tùy thuộc vào đối tượng hàng hóa, mục
đích và điều kiện tổ chức cuộc bán đấu giá. Có thể phân chia các hình thức đấu giá
như sau:
 Căn cứ vào phương pháp xác định giá có đấu đấu giá theo hai phương
pháp đấu giá theo phương pháp nâng giá và đấu giá theo phương pháp hạ giá:
 Đấu giá theo phương pháp nâng giá là hình thức mà tại cuộc bán đấu giá,
nhân viên điều hành bán đấu giá nêu lên giá khởi điểm thấp nhất của lô hàng hay
tài sản bán đấu giá. Những người mua sẽ trả giá nâng dần lên theo từng mức mặc
cả nhất định. Theo đó người trả giá cao nhất so với giá khởi điểm theo sự kết luận
của nhân viên điều hành đấu giá là người có quyền mua lô hàng hoặc tài sản đó.
Hình thức này được áp dụng phổ biến nhất trong các cuộc đấu giá vì nó có lợi cho
cả 2 bên mua và bên bán hàng hóa. Bên mua hàng được chủ động đề xướng giá đặt
mua nên quan hệ mua bán hàng hóa mang tính tự nguyện cao. Còn bên bán hàng
hóa thường được lợi về giá cả do người mua hàng hóa cạnh tranh nhau về giá cả, ở
cuộc bán đấu giá hàng hóa đó luôn có sự trả giá cao hơn giá khởi điểm mà người
bán hàng đưa ra.


 Người bán hàng hóa:
“Người bán hàng là chủ sở hữu hàng hoá, người được chủ sở hữu hàng hoá
uỷ quyền bán hoặc người có quyền bán hàng hoá của người khác theo quy định của
pháp luật.”( khoản 2, điều 186 Luật thương mại)
Người bán hàng hóa ở đây được phân biệt với người tổ chức đấu giá hàng
hóa. Họ có thể chính là chủ sở hữu hàng hóa đứng ra kí hợp đồng dịch vụ tổ chức
bán đấu giá hàng hóa với người tổ chức bán đấu giá hàng hóa hoặc có thể là một
trung gian làm cầu nối giữa người có hàng hóa và người tổ chức bán đấu giá hàng
hóa.
 Người tổ chức bán đấu giá:
“Là thương nhân , có đăng ký kinh doanh dịch vụ đấu giá hoặc là người bán
hàng trong trường hợp người bán hàng tự tổ chức bán đấu giá.” ( khoản 1 điều 186
Luật thương mại 2005)
Xét về bản chất, người tổ chức bán đấu giá là người tiến hành các công việc
cụ thể của một cuộc bán đấu giá, có thể là thương nhân lấy hoạt động dịch vụ tổ
chức bán đấu giá hàng hóa làm nghề nghiệp của mình hoặc chính người bán hàng
tự tổ chức bán đấu giá. Trong trường hợp người bán hàng không tự mình tổ chức
bán đấu giá hàng hóa mà thuê một người tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp tiến
hành bán đấu giá thì giữa hai người này phải hình thành một hợp đồng dịch vụ tổ
4
chức bán đấu giá trước khi các công việc liên quan đến bán đấu giá hàng hóa được
tiến hành. Hợp đồng dịch vụ tổ chức đấu giá hàng hóa phải được lập thành văn
bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương.
 Người điều hành đấu giá:
“ Người điều hành bán đấu giá là người tổ chức đấu giá hoặc người được tổ
chức đấu giá ủy quyền điều hành đấu giá” ( khoản 2 điều 187 Luật thương mại
2005). Người điều hành chính là người xuất hiện chủ yếu và điều khiển các phiên
bán đấu giá theo một trình tự được pháp luật quy định với những điều kiện bán
hàng do người bán hàng đưa ra.
 Người mua hàng

vụ đấu giá hàng hóa.
 Làm thủ tục chuyển quyền sở hữu đối với hàng hóa bán đấu giá phải đăng
ký quyền sở hữu cho người mua theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp có
thỏa thuận khác với người bán hàng.
 Thanh toán cho người bán hàng tiền hàng đã bán, kể cả khoản tiền chênh
lệch thu được từ người rút lại giá đã trả, hoặc trả lại hàng hóa không bán được cho
người bán hàng theo thỏa thuận.
.Quyền và nghĩa vụ của người bán hàng hóa:
Trong quan hệ đấu giá tài sản, người bán hàng hóa, với tư cách độc lập với
người tổ chức bán đấu giá, có các quyền và nghĩa vụ sau:
 Quyền (Điều 191 Luật thương mại 2005)
 Nhận tiền hàng đã bán đấu giá và khoản chênh lệch thu được trong trường
hợp người tham gia đấu giá rút lại giá đã trả hoặc nhận lại hàng hóa trong trường
hợp đấu giá không thành;
 Giám sát việc tổ chức bán đấu giá hàng hóa;
 Nghĩa vụ (Điều 192 Luật thương mại 2005)
 Giao hàng hóa cho người tổ chức đấu giá, tạo điều kiện để người tổ chức
đấu giá, người tham gia đấu giá xem xét hàng hóa và cung cấp đầy đủ, chính xác
các thông tin cần thiết liên quan đến hàng hóa đấu giá;
 Trả thù lao dịch vụ tổ chức đấu giá theo quy định tại điều 211 của Luật
này.
 Quyền và nghĩa vụ của người mua hàng hóa:
Người mua hàng hóa có các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật
nhưng chủ yếu vẫn tập trung vào một số vấn đề chính như:
 Quyền:
 Tham gia trả giá
 Được quyền mua hàng hóa nếu đạt điều kiện trong cuộc bán đấu giá
 Nhận lại tiền đặt cọc trong trường hợp không mua được hàng hóa
 Trả lại hàng hóa nếu hàng hóa không đúng với niêm yết, thông báo.
6


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status