SO SÁNH QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN HỮU HÌNH VÀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
KHOA LUẬT KINH TẾ
BÀI THUYẾT TRÌNH
SO SÁNH QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN HỮU
HÌNH VÀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ THEO
PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH
NGƯỜI THỰC HIỆN :
TRẦN THANH HOÀNG
NGUYỄN VĂN CƯỜNG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2015

SO SÁNH QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN HỮU HÌNH
VÀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ THEO PHÁP LUẬT
HIỆN HÀNH
I- QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN HỮU HÌNH
1.1- Khái niệm về quyền sở hữu:
Quyền sở hữu là hệ thống các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành
nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình chiếm hữu, sử dụng,
định đoạt tài sản của chủ sở hữu
Mức độ xử sự mà pháp luật cho phép một chủ thể được thực hiện các quyền
năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt trong điều kiện nhất định
Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt
tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật.
- Quyền chiếm hữu là quyền nắm giữ, quản lý tài sản.
- Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài
sản.
- Quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản hoặc từ bỏ
quyền sở hữu đó.
1.2- Khái niệm chủ sở hữu:
Chủ sở hữu là cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác có đủ ba quyền là quyền

CHIẾM HỮU BẤT HỢP PHÁP
KHÔNG NGAY TÌNH
Người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản : Khi chủ sở hữu uỷ quyền
quản lý tài sản cho người khác thì người được uỷ quyền thực hiện quyền chiếm
hữu tài sản đó trong phạm vi, theo cách thức, thời hạn do chủ sở hữu xác định
Người được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự phù
hợp với ý chí của chủ sở hữu. Người được giao tài sản có quyền sử dụng tài sản
được giao, được chuyển quyền chiếm hữu, sử dụng tài sản đó cho người khác, nếu
được chủ sở hữu đồng ý.
Người phát hiện và giữ các tài sản vô chủ, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị
chôn dấu, bị chìm đắm phù hợp với các điều kiện do pháp luật quy định.
Các trường hợp khác do pháp luật quy định như: Chiếm hữu trên cơ sở một
mệnh lệnh của một cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc do pháp luật quy định
có quyền đương nhiên chiếm hữu vật.
2.1.2 Chiếm hữu bất hợp pháp
Là việc chiếm hữu của một người đối với một tài sản mà không dựa trên
những cơ sở của pháp luật. Cụ thể là những trường hợp mà người chiếm hữu một
tài sản nhưng không phải là chủ sở hữu hoặc không chiếm hữu theo những căn cứ
do Bộ luật dân sự đã quy định cụ thể tại các điều luật nêu trên.
Trong việc chiếm hữu bất hợp pháp thường xảy ra hai khả năng sau đây:
Chiếm hữu bất hợp pháp ngay tình: là người chiếm hữu không có căn cứ
pháp luật theo quy định của luật dân sự nhưng không biết và không thể biết việc
chiếm hữu tài sản đó là không có căn cứ pháp luật . Tức là, luật không buộc người
đó phải biết tính bất hợp pháp trong việc chiếm hữu của mình.
Chiếm hữu bất hợp pháp không ngay tình: là người chiếm hữu không có căn
cứ pháp luật biết đó là chiếm hữu bất hợp pháp hoặc tuy không biết nhưng cần phải
biết rằng, người chuyển dịch tài sản cho mình là người không có quyền chuyển
dịch.
Ngoài ra trong những điều kiện nhất định: liên tục, công khai và trong một
khoảng thời hạn mười năm đối với động sản, ba mươi năm đối với bất động sản,

Định đoạt về số phận pháp lý của vật là việc làm chuyển giao quyền sở hữu
đối với vật từ người này sang người khác . Thông thường định đoạt về số phận
pháp lý của vật phải thông qua các giao dịch phù hợp với ý chí của chủ sở hữu như
bán , trao đổi , tặng cho, cho vay, để thừa kế… thông qua việc định đoạt mà chủ sở
hữu có thể tiêu dùng hết; chuyển quyền chiếm hữu tạm thời (trong hợp đồng gửi
giữ); quyền chiếm hữu và quyền sử dụng tài sản trong một khoảng thời hạn (trong
hợp đồng cho thuê , cho mượn) hoặc chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu tài sản
cho người khác bằng hợp đồng bán , đổi, cho… Việc một người thực hiện quyền
định đoạt đối với vật sẽ làm chấm dứt hoặc thay đổi các quan hệ pháp luật liên
quan đến vật đó .
Ngoài ra , vì lợi ích chung của xã hội và để đảm bảo ổn định giao lưu dân sự
trong những trường hợp nhất định Bộ luật dân sự còn quy định việc hạn chế quyền
định đoạt tài sản của chủ sở hữu . Đó là những trường hợp bị kê biên , hoặc tài sản
đã được đem đi làm vật bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ . Nếu các quan hệ đặt
cọc , thế chấp chấm dứt , quyết định kê biên tài sản cả cơ quan nhà nước cơ thẩm
quyền không còn hiệu lực, thì quyền định đoạt của chủ sở hữu lại được khôi phục .
3. XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU:
Căn cứ để xác lập quyền sở hữu là những sự kiện pháp lý do Bộ luật dân sự
quy định. Dựa vào nguồn gốc của những sự kiện pháp lý có thể chia thành ba
nhóm sau đây:
3.1 Xác lập theo hợp đồng hoặc giao dịch một bên
* Xác lập quyền sở hữu theo thoả thuận
* Xác lập quyền sở hữu do được thừa kế theo di chúc
3.2 Xác lập theo quy định của pháp luật
* Xác lập quyền sở hữu đối với tài sản có được do lao động, do hoạt
động sản xuất, kinh doanh hợp pháp
* Xác lập quyền sở hữu đối với hoa lợi, lợi tức
* Xác lập quyền sở hữu trong trường hợp sáp nhập, trôn lẫn, chế biến.
* Xác lập quyền sở hữu đối với vật vô chủ, vật không xác định được
chủ sở hữu

thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Bộ luận dân sự ghi nhận và phân biệt nhiều phương thức kiện dân sự khác
để bảo vệ quyền sở hữu. Vì vậy vấn đề là phải chọn phương thức nào cho phù hợp
với mức độ và những tình tiết cụ thể của vụ việc.
5.1 Kiện đòi tài sản:
Là việc chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp yêu cầu toà án buộc người
có hành vi chiếm hữu bất hợp pháp phải trả lại tài sản cho mình.
* Quyền đòi lại tài sản từ người không có căn cứ pháp luật và không ngay
tình
* Quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người
* Quyền đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản
từ người chiếm hữu ngay tình
5.2- Kiện yêu cầu ngăn chặn hoặc chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối
với việc thực hiện quyền sở hữu,quyền chiếm hữu hợp pháp:
- Khi thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu của mình, chủ sở hữu, người
chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người có hành vi cản trở trái pháp luật phải
chấm dứt hành vi đó.
- Nếu không có sự chấm dứt tự nguyện thì có quyền yêu cầu Toà án, cơ quan, tổ
chức có thẩm quyền khác buộc người đó chấm dứt hành vi vi phạm.
- Phương thức kiện này nhằm bảo đảm chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp
pháp được sử dụng và khai thác công dụng của tài sản một cách bình thường.
5.3 Kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại:
6. QUYỀN CỦA CHỦ THỂ KHÁC
Quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề
• Quyền về lối đi qua bất động sản liền kề
• Quyền mắc đường dây tải điện, thông tin liên lạc qua bất động sản
liền kề
• Quyền về cấp, thoát nước qua bất động sản liền kề
• Quyền về tưới nước, tiêu nước trong canh tác
II- QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ

Phát sóng tác phẩm, bao gồm phát thanh, truyền hình hoặc phát qua vệ tinh;
Dịch tác phẩm sang ngôn ngữ khác, hoặc phóng tác tác phẩm, chẳng hạn
như chuyển thể một tiểu thuyết thành phim.
Quyền tác giả áp dụng cho nhiều loại hình khác nhau của tác phẩm nghệ
thuật, bao gồm hội họa, âm nhạc, thơ, vở diễn, sách, kiến trúc và múa, đồng thời áp
dụng cho những tác phẩm thường không được coi là nghệ thuật như phần mềm
máy tính, bản đồ và bản vẽ kỹ thuật.
Các quyền liên quan đến quyền tác giả: là những quyền đã phát triển trong
khoảng chừng 50 năm gần đây, "xung quanh" quyền tác giả và bao gồm quyền của
người biểu diễn đối với cuộc biểu diễn của người đó, quyền của người chế tạo bản
ghi âm đối với bản ghi âm đó và quyền của tổ chức phát sóng đối với cuộc phát
sóng.
Quyền tác giả cũng có thể bao gồm quyền tinh thần, liên quan đến quyền
nhận danh nghĩa tác giả đối với một tác phẩm và quyền phản đối sự thay đổi tác
phẩm có thể gây hại cho uy tín của tác giả.
Quyền tác giả cùng với quyền sở hữu công nghiệp tạo thành hai bộ phận chính
của chế định quyền sở hữu trí tuệ là một chế định pháp luật quan trọng quy định về
các vấn đề thiết lập và bảo hộ quyền của những người sáng tạo ra các sản phẩm trí
tuệ, các sản phẩm vô hình, phi vật thể của con người. Sản phẩm trí tuệ của con
người có thể được chia thành hai loại: Sản phẩm phục vụ nhu cầu tinh thần, giải trí
(tác phẩm văn học, nghệ thuật, hội họa, sân khấu, điện ảnh…) và sản phẩm có tác
dụng về mặt công nghiệp, thương mại (phát minh, sáng chế, giải pháp hữu ích,
kiểu dáng công nghiệp…). Loại sản phẩm đầu tiên được bảo hộ theo pháp luật về
quyền tác giả, còn loại sản phẩm thứ hai được bảo hộ theo pháp luật về quyền sở
hữu công nghiệp. Hai chế định pháp luật này là hai bộ phận chính cấu thành chế
định Quyền sở hữu trí tuệ.
Giữa hai quyền tác giả và sở hữu công nghiệp không có và không thể có
ranh giới tuyệt đối, bởi có những sản phẩm trí tuệ vừa có tác dụng về mặt công
nghiệp, thương mại nhưng vẫn có tác dụng phục vụ nhu cầu giải trí, tinh thần của
con người.

vực sở hữu đặc thù có đối tượng là các tài sản vô hình, tài sản phi vật thể hình
thành từ hoạt động sáng tạo của con người.
Chính điều này cho phép phân biệt giữa sở hữu trí tuệ (sở hữu tài sản
vô hình) và sở hữu tài sản thông thường (sở hữu tài sản hữu hình).
Sự khác biệt lớn nhất giữa hai loại sở hữu nói trên thể hiện ở chính đối
tượng sở hữu. Nếu như đối tượng của sở hữu tài sản thông thường là các tài sản
vật chất, hữu hình có thể tiếp cận về cơ học được, thì đối tượng của sở hữu trí tuệ
là các tài sản vô hình, phi vật thể, là kết quả của hoạt động sáng tạo của con người,
con người không thể tiếp cận cơ học vào chúng, ví dụ như một phát minh, một giải
pháp hữu ích hay một bài thơ, một tác phẩm hội họa, một tác phẩm kiến trúc, mà
chỉ có thể tiếp cận được với chúng khi và chỉ khi chúng được thể hiện ra dưới một
hình thức vật chất nào đó: được in, vẽ trên giấy.
Chính sự khác biệt cơ bản đó đã dẫn đến sự khác nhau về khả năng chiếm
hữu đối tượng. Nếu như tài sản vật thể không được đặc định hóa thì việc chiếm
hữu có thể bằng cách khoanh vùng, cách ly nó khỏi những người khác thì với loại
đối tượng của quyền tác giả lại khác. Nếu tác giả sáng tác ra một tác phẩm và giữ
tuyệt đối bí mật không cho người khác biết, thì không nói làm gì. Nhưng một tác
phẩm cần phải đến được với công chúng, thì nó mới có sức sống. Khi mà nó đến
được với công chúng thì đây là một điểm khác biệt: ai cũng có thể được tiếp cận
với nó. Với quyền tác giả, không thể dùng phương pháp khoanh vùng, cách ly như
đối với tài sản vật thể. Chúng ta có thể thấy rằng vấn đề quan trọng nhất đặt ra trong
quyền sở hữu trí tuệ không còn là vấn đề chiếm hữu nữa, mà chính là vấn đề xác
định ai là người có quyền khai thác, sử dụng đối tượng sở hữu.
Việc khai thác những đặc tính của đối tượng sở hữu do đó cũng khác
nhau. Với tài sản là vật thể, người ta có thể đánh giá được giá trị kinh tế của nó qua
một số tiêu chí như khả năng sinh lợi của nó trong tương lai do giá cả thị trường
lên xuống, do công năng của nó có thể vận hành đẻ ra lợi nhuận… tương đối chính
xác thì với quyền tác giả thì khía cạnh vật chất của nó không dễ dàng gì đánh giá
được. Nó có thể đem lại rất nhiều tiền, nhưng đồng thời có thể không mang lại
được đồng nào. Về khía cạnh này thì giữa hai loại đối tượng vật thể và phi vật thể

tiêu chuẩn khác với tiêu chuẩn tính mới trong bằng độc quyền sáng chế, tức là lĩnh
vực tập trung vào tính mới của ý tưởng hoặc khái niệm hữu ích, không tập trung
vào sự thể hiện ý tưởng. Khác với sáng chế, tác phẩm do tác giả sáng tạo không
cần mang tính hữu ích. Quyền tác giả chỉ dành cho sự thể hiện về ý tưởng hoặc
khái niệm, không dành cho bản thân ý tưởng hoặc khái niệm. Sự khác biệt giữa
quyền tác giả và bằng độc quyền sáng chế là "sự đối lập thể giữa sự hiện - ý
tưởng".
Không có một định nghĩa chung thế nào là tác phẩm thuộc phạm vi bảo hộ
của quyền tác giả. Thay thế người ta dùng một khái niệm bao quát là các "tác phẩm
văn học và nghệ thuật" - một tiêu chuẩn linh hoạt. Trên thực tế, bảo hộ quyền tác
giả đã được mở rộng tới cả những tác phẩm mà có thể người bình thường không
coi là tác phẩm văn học cũng không coi là tác phẩm nghệ thuật, chẳng hạn như
phần mềm máy tính hoặc tài liệu kỹ thuật.
Trên thực tế, cũng khó có được ranh giới rõ rệt giữa bảo hộ quyền tác giả và
bảo hộ các quyền khác thuộc lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Bảo hộ quyền tác giả có thể
phát sinh đối với cùng một sản phẩm hoặc công nghệ, đồng thời với những hình
thức khác của sở hữu trí tuệ; ví dụ, một sáng chế liên quan đến phần mềm máy tính
có thể được bảo hộ theo bằng độc quyền sáng chế, đồng thời mã phần mềm có thể
được bảo hộ theo quyền tác giả. Tương tự như vậy, quyền tác giả có thể bảo hộ
một tác phẩm nghệ thuật trong khi tác phẩm nghệ thuật đó cũng được bảo hộ dưới
danh nghĩa một kiểu dáng công nghiệp, cũng như quyền tác giả có thể bảo hộ một
văn bản trong khi văn bản đó còn là một bí mật thương mại.
2- Quyền sở hữu công nghiệp với quyền sở hữu tài sản hữu hình:
Quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền sở hữu công nghiệp nói riêng là
một loại quyền tài sản, do đó nó có đầy đủ đặc tính của quyền tài sản nói chung đó
là : chủ sở hữu có toàn quyền đối với tài sản của mình và không ai được sử dụng
tài sản đó nếu không được sự cho phép của chủ sở hữu. Bên cạnh đó, xuất phát từ
tính chất đặc thù của các đối tượng sở hữu công nghiệp – tài sản trí tuệ, quyền sở
hữu công nghiệp có những đặc điểm riêng để phân biệt với quyền sở hữu tài sản
hữu hình.

của đối tượng sở hữu công nghiệp – một tài sản vô hình được truyền bá bằng con
đường nhận thức nên rất dễ bị xâm phạm, khó kiểm soát. Hơn nữa, việc áp dụng
các đối tượng sở hữu công nghiệp chủ yếu gắn với quá trình sản xuất công nghiệp,
với mục đích thương mại và thỏa mãn nhu cầu vật chất của con người nên thường
mang lại lợi ích lớn, có ảnh hưởng tới sự phát triển của khoa học kỹ thuật và kinh
tế xã hội quốc gia. Vì vậy, quyền sở hữu công nghiệp mang tính lãnh thổ tuyệt đối.
Về mặt thời gian, quyền sở hữu công nghiệp được bảo hộ trong một khoảng
thời gian nhất định, vì đối tượng sở hữu công nghiệp là các sản phẩm trí tuệ thay
đổi nhanh chóng theo tiến bộ khoa học công nghệ, dễ lạc hậu so với yêu cầu phát
triển kinh tế, xã hội của đất nước. Các đối tượng sở hữu công nghiệp, đặc biệt là
những đối tượng mang lại nhiều lợi ích kinh tế, giảm chi phí trong sản xuất hàng
hóa và dịch vụ (sáng chế, giải pháp hữu ích, ) thường được bảo hộ trong một
khoảng thời gian tương đối ngắn (tối đa là 20 năm). Hầu hết pháp luật về sở hữu
công nghiệp các nước đều quy định thời hạn bảo hộ sáng chế là 20 năm, thời hạn
bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa là 10 năm, có thể gia hạn nhiều lần, mỗi lần 10 năm.
Hết thời hạn bảo hộ, chủ sở hữu sẽ mất độc quyền cũng như những quyền khác đối
với đối tượng được bảo hộ. Tuy nhiên, một số đối tượng sở hữu công nghiệp như
tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu nổi tiếng, được bảo hộ vô thời hạn
nhưng các đối tượng đó cũng như chủ sở hữu các đối tượng đó phải đáp ứng một
số điều kiện do pháp luật quy định.
Thứ ba, quyền sử dụng
Đối với tài sản hữu hình, trong ba quyền năng của chủ sở hữu (chiếm hữu,
sử dụng, định đoạt) thì quyền chiếm hữu dường như là quyền cơ bản và quan trọng
nhất. Điều này xuất phát từ các đặc tính của tài sản hữu hình : trong hầu hết các
trường hợp, chủ sở hữu phải chiếm hữu tài sản thì mới có thể khai thác công dụng
của tài sản đó.
Trong khi đó, đối với quyền sở hữu công nghiệp, quyền sử dụng lại được
coi là quyền năng cơ bản nhất. Với tài sản là nhãn hiệu, quyền này được thể hiện
thông qua quyền sử dụng, cho phép người khác sử dụng, ngăn cấm người khác sử
dụng và định đoạt nhãn hiệu được bảo hộ nếu không được chủ sở hữu cho phép.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status