Thực thi quyền sở hữu trí tuệ theo pháp luật Việt Nam và pháp luật của một số quốc gia ở Đông Nam Á - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT DƢƠNG ĐÌNH CÔNG
THỰC THI QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ
PHÁP LUẬT CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA Ở ĐÔNG NAM Á LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2011

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT


Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ THỰC THI
QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ
PHÁP LUẬT MỘT SỐ QUỐC GIA Ở ĐÔNG NAM Á
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của khái niệm thực thi quyền SHTT 6
1.1.1. Khái niệm “tài sản trí tuệ”, quyền SHTT 6
1.1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của SHTT và quyền SHTT 6
1.1.1.2. Phân loại quyền SHTT 9
1.1.2. Khái niệm thực thi quyền SHTT 15
1.1.2.1. Định nghĩa thực thi quyền SHTT 15
1.1.2.2. Nguyên tắc, biện pháp thực thi quyền SHTT chủ yếu 16
1.2. Cơ chế thực thi quyền SHTT theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp
luật của một số quốc gia ở Đông Nam Á 22
1.2.1. Các quy định về thể chế thực thi quyền SHTT 23
1.2.1.1. Thể chế thực thi quyền SHTT ở Việt Nam 23
1.2.1.2. Thể chế thực thi quyền SHTT ở In-đô-nê-xi-a, Ma-lai –xi-a, Xin-ga-po và
Thái Lan 25
1.2.2. Các quy định về thiết chế thực thi quyền SHTT 31
1.2.2.1. Thiết chế thực thi quyền SHTT ở Việt Nam 31
1.2.2.2. Thiết chế thực thi quyền SHTT ở In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, Xin-ga-po và
Thái Lan 32
1.2.3. Yếu tố con người trong quá trình thực thi quyền SHTT 36
1.2.4. Mối quan hệ tương tác giữa các bộ phận cấu thành cơ chế thực thi quyền
SHTT 37

2
1.3. Cơ chế giải quyết các tranh chấp về SHTT 38

2.3. Pháp luật và thực tiễn thực thi quyền SHTT ở Ma-lai-xi-a 68
2.3.1. Tổng quan về pháp luật và thực tiễn thực thi quyền SHTT ở Ma-lai-xi-a 68
2.3.2. Các nội dung cụ thể của việc thực thi quyền SHTT ở Ma-lai-xi-a 69
2.3.2.1. Thực thi quyền SHTT thông qua hoạt động của cơ quan hành chính 69
2.3.2.2. Thực thi quyền SHTT thông qua hoạt động của tòa án 71
2.3.2.3. Thực thi quyền SHTT thông qua hoạt động của hải quan 73
2.3.3. Những vấn đề vướng mắc trong quá trình thực thi quyền SHTT ở Ma-lai-xi-a 74
2.4. Pháp luật và thực tiễn thực thi quyền SHTT ở Xin-ga-po 75
2.4.1. Tổng quan về pháp luật và thực tiễn thực thi quyền SHTT ở Xin-ga-po 75
2.4.2. Các nội dung cụ thể của việc thực thi quyền SHTT ở Xin-ga-po 76
2.4.2.1. Thực thi quyền SHTT thông qua hoạt động của cơ quan hành chính 76
2.4.2.2. Thực thi quyền SHTT thông qua hoạt động của tòa án 78
2.4.2.3. Thực thi quyền SHTT thông qua hoạt động của hải quan 79
2.4.3. Những vấn đề vướng mắc trong quá trình thực thi quyền SHTT ở Xin-ga-po 80
2.5. Pháp luật và thực tiễn thực thi quyền SHTT ở Thái Lan 81
2.5.1. Tổng quan về pháp luật và thực tiễn thực thi quyền SHTT ở Thái Lan 81
2.5.2. Các nội dung cụ thể của việc thực thi quyền SHTT ở Thái Lan 82
2.5.2.1. Thực thi quyền SHTT thông qua hoạt động của cơ quan hành chính 82
5.2.2.2. Thực thi quyền SHTT thông qua hoạt động của tòa án 83
5.2.2.3. Thực thi quyền SHTT thông qua hoạt động của hải quan 84
2.5.3. Những vấn đề vướng mắc trong quá trình thực thi quyền SHTT ở Thái Lan 86
Chƣơng 3: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU
QUẢ THỰC THI QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ Ở VIỆT NAM
3.1. Phương hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về SHTT, thực thi quyền
SHTT 88
3.1.1. Đòi hỏi khách quan của việc hoàn thiện pháp luật về SHTT và thực thi
quyền SHTT 88
3.1.2. Những yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật về SHTT và nâng cao
hiệu quả thực thi quyền SHTT 91



5 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ASEAN : Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
BLDS : Bộ luật Dân sự
BLHS : Bộ luật Hình sự
EU : Liên minh Châu Âu
LHQ : Liên hiệp quốc
SHTT : Sở hữu trí tuệ
TAND : Tòa án nhân dân
TRIPs : Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại
của quyền sở hữu trí tuệ
TTDS : Tố tụng dân sự
TTHS : Tố tụng hình sự
WIPO : Tổ chức Sở hữu Trí tuệ thế giới
WTO : Tổ chức Thương mại thế giới
chí chuyên ngành luật học như: Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam – những
vấn đề lý luận và thực tiễn của PGS. TS Lê Hồng Hạnh và Th.s Đinh Thị Mai
Phương chủ biên, NXB Chính trị Quốc gia năm 2004 làm rõ các quy định của pháp
luật Việt Nam về quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp (SHCN), so sánh các
quy định về quyền tác giả, quyền SHCN trong pháp luật Việt Nam và pháp luật
quốc tế, thực trạng bảo hộ, triển vọng và thách thức của pháp luật SHTT Việt Nam;
Đổi mới và hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ của LS. TS Lê Xuân Thảo, NXB
Tư Pháp năm 2005 nghiên cứu về cơ chế bảo hộ quyền SHTT ở Việt Nam và đề
xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động bảo hộ quyền SHTT; Thực thi
quyền sở hữu trí tuệ trong tiến trình hội nhập quốc tế những vấn đề lí luận và thực
tiễn (sách chuyên khảo) của PGS. TS Nguyễn Bá Diến, NXB ĐHQG Hà Nội năm
2010 tập trung làm rõ những vấn đề lí luận, thực tiễn thực thi quyền SHTT ở Việt
Nam và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động thực thi quyền
SHTT…và một số các bài báo khoa học: Thực trạng về pháp luật về sở hữu trí tuệ
tại Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số chuyên đề về SHTT năm 2005 của
PGS.TS Đoàn Năng; Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học và nghệ thuật
đăng trên tạp chí Luật học năm 2005 của Vũ Thị Phương Lan; Một số ý kiến nhằm
đẩy mạnh bảo hộ quyền tác giả ở Việt Nam trong thời gian tới, Tạp chí Khoa học
ĐHQGHN, Luật học (25) năm 2009 của TS. Nguyễn Lan Nguyên…
Trong các giáo trình giảng dạy luật học tại các cơ sở đào tạo luật học ở nước
ta những năm qua (giáo trình tư pháp quốc tế, giáo trình luật SHTT …) cũng mới
chỉ đề cập một cách cơ bản về SHTT với tính chất giới thiệu nội dung các quy định
của pháp luật SHTT. Nhìn chung, trong các công trình khoa học kể trên, vấn đề
SHTT được nghiên cứu một cách cơ bản theo hướng hoặc là khảo cứu những Hiệp
định liên quan đến SHTT hoặc xem xét những khía cạnh riêng biệt của quyền SHTT
và việc bảo hộ quyền SHTT mà chưa gắn quy định của pháp luật với vấn đề thực
tiễn. Mặt khác, hầu hết những công trình nêu trên ra đời khi mà cơ sở pháp lý về
quyền SHTT chưa thực sự hoàn thiện.

8

thực thi quyền SHTT theo quy định của pháp luật Việt Nam; pháp luật In-đô-nê-xi-
a, Ma-lai-xi-a, Xin-ga-po và Thái Lan. Nghiên cứu thực trạng của việc thực thi
quyền SHTT ở Việt Nam, In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, Xin-ga-po và Thái Lan chủ
yếu từ năm 2005 đến nay và đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và
tăng cường năng lực thực thi quyền SHTT trên thực tế.
Do giới hạn về dung lượng của luận văn, tác giả không nghiên cứu pháp luật,
thực trạng thực thi quyền SHTT ở các quốc gia còn lại của ASEAN; không nghiên
cứu về quy trình, thủ tục tố tụng theo pháp luật các quốc gia.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
- Luận văn được trình bày trên cơ sở lý luận Mác – Lênin về nhà nước và
pháp luật; quan điểm của Đảng, nhà nước về phát triển và hội nhập quốc tế. Phương
pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
- Các phương pháp khác: Phương pháp phân tích, phương pháp logic,
phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp, phương pháp đối chiếu, phương
pháp so sánh.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Đề tài là tài liệu phục vụ cho việc học tập, giảng dạy và nghiên cứu khoa
học tại các cơ sở đào tạo luật ở Việt Nam, đặc biệt đối với chuyên ngành tư pháp
quốc tế.
- Nội dung luận văn sẽ có ý nghĩa thiết thực, bổ ích, cần thiết cho các doanh
nghiệp, cơ quan nhà nước và cá nhân trong việc nhận thức, áp dụng các quy định
của pháp luật về SHTT.
10
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, mục lục tham khảo, luận văn gồm 03
chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận pháp luật về thực thi quyền sở hữu trí tuệ

Theo cách tiếp cận này nhà nước không thừa nhận quyền sở hữu đối với sản phẩm
sáng tạo trí tuệ nhưng cũng không chính thức phủ nhận quyền đó. Đa số các nước
phát triển đi theo quan điểm thứ nhất. Ngược lại các nước chậm và đang phát triển
không phủ nhận quyền sở hữu đối với tài sản trí tuệ nhưng cũng không công khai
thừa nhận quyền đó, đặc biệt đối với các sản phẩm được tạo ra ở nước ngoài có giá
trị đối với nền kinh tế trong nước [25, 8]. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã
hội, xu hướng tăng tỷ trọng trí tuệ trong các sản phẩm công – nông nghiệp, thương
mại, dịch vụ, sự giao thương và xích lại gần nhau của các nền kinh tế… nhiều quốc

12
gia đã thừa nhận quyền tư hữu đối với sản phẩm sáng tạo trí tuệ và bảo hộ đối với
quyền đó.
Qua quá trình lao động và không ngừng sáng tạo, con người ngày càng tạo ra
các sản phẩm mang hàm lượng chất xám nhiều hơn. Các sản phẩm kết tinh từ trí tuệ
con người được nhà nước thừa nhận sẽ trở thành tài sản trí tuệ. Là một dạng đặc
biệt của tài sản theo cách hiểu thông thường nhưng trong nhiều trường hợp tài sản
trí tuệ lại cho giá trị vô cùng to lớn. Do đó, từ rất sớm, sản phẩm trí tuệ đã được nhà
nước ghi nhận lần đầu tiên một cách có hệ thống trong đạo luật Venice năm 1474
[12, 13]. Đạo luật này cho phép người sở hữu các sản phẩm sáng chế một uy quyền
tuyệt đối dưới hình thức văn bằng bảo hộ độc quyền. Cũng trong khoảng thời gian
này sáng chế đã được cấp cho sản phẩm máy in của Johannes Gutenberg đã đặt
những viên gạch đầu tiên cho sự ra đời của hệ thống bảo hộ quyền SHTT trên toàn
thế giới. Theo xu hướng phát triển của xã hội, phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa ra đời thay thế phương thức sản xuất phong kiến lỗi thời đã tạo nên cuộc cách
mạng trong công nghiệp. Các sản phẩm mã điện tín của Samuel Morse; thuốc nổ
của Alfred Nobel; điện thoại của Alexander G. Bell; radio của Guglielmo
Marconi… và nhiều sản phẩm trí tuệ khác ra đời đã làm thay đổi diện mạo và cơ
cấu kinh tế của các quốc gia. Song song với điều đó, như một tất yếu đã làm cho hệ
thống bảo hộ quyền SHTT của các quốc gia phát triển. Năm 1883 và năm 1886 thế
giới chứng kiến sự ra đời của hai công ước quốc tế về SHTT lần lượt là Công ước

nhãn hiệu hàng hoá, sáng chế, thiết kế bố trí (topography) mạch tích hợp, tín hiệu vệ
tinh mang chương trình đã được mã hoá, thông tin bí mật (bí mật thương mại), kiểu
dáng công nghiệp và quyền đối với giống thực vật.
Luật SHTT Việt Nam 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009) khoản 1, điều 4 định
nghĩa: quyền SHTT là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm
quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và
quyền đối với giống cây trồng.

14
Như trên đã chỉ ra SHTT và quyền SHTT có những điểm tương đồng so với
quyền sở hữu thông thường. Bên cạnh đó quyền SHTT có những điểm khác biệt so
với quyền sở hữu thông thường do tính chất đặc biệt của sản phẩm trí tuệ.
Thứ nhất, quyền SHTT là quyền đối với những tài sản trí tuệ có tính sáng
tạo. Những sản phẩm trí tuệ này đều mang trong nó những đặc điểm của tài sản hữu
hình và được pháp luật thừa nhận các quyền cơ bản là quyền chiếm hữu, sử dụng và
quyền định đoạt. Tuy nhiên, tài sản trí tuệ được sáng tạo chủ yếu ở dạng vô hình,
theo đó khó có thể xác định được đặc điểm vật chất của tài sản trí tuệ. Hay nói cách
khác những sản phẩm trí tuệ được bộc lộ ra bên ngoài dưới những hình thức khách
quan nhất định nhưng bản thân nó không phải là vật chất mà sản phẩm của chính sự
sáng tạo của con người [24, 32].
Thứ hai, do tài sản trí tuệ mang thuộc tính “vô hình” nên việc bảo hộ tài sản
này chỉ mang tính tương đối. Sản phẩm trí tuệ và quyền SHTT luôn bị đe dọa xâm
phạm và bị xâm phạm cao hơn các loại tài sản hữu hình khác.
Thứ ba, phần lớn quyền SHTT được pháp luật bảo hộ trong một thời hạn
nhất định. Đối với quyền sở hữu tài sản thì pháp luật bảo hộ vô thời hạn. Khi và chỉ
khi có các căn cứ làm chấm dứt quyền sở hữu tài sản thì quyền sở hữu của chủ thể
đối với tài sản đó mới bị chấm dứt. Tùy theo từng đối tượng của quyền SHTT cụ thể
mà pháp luật có quy định về thời hạn bảo hộ khác nhau.
Thứ tư, tài sản trí tuệ mang thuộc tính “ tích lũy”. Một sản phẩm trí tuệ mang
tính sáng tạo cao có thể là ý tưởng để phát triển các ý tưởng mới trong nhiều lĩnh

Quyền liên quan đến quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với
cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang
chương trình được mã hóa.
Tác giả, người thừa kế quyền tác giả có quyền cho phép hoặc cấm người
khác thực hiện các hành vi: Nhập khẩu vào nước mình các bản sao tác phẩm; phân
phối công khai lần đầu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm dưới các hình thức; cho thuê

16
bản gốc hoặc bản sao chương trình máy tính nhằm mục đích thương mại; truyền đạt
tác phẩm tới công chúng.
Thời hạn bảo hộ quyền tác giả được tính suốt cuộc đời tác giả và 50 năm sau
khi tác giả qua đời. Đối với tác phẩm nhiếp ảnh, tác phẩm nghệ thuật ứng dụng thì
thời gian bảo hộ không dưới 50 năm kể từ khi kết thúc năm dương lịch mà tác phẩm
được công bố hợp pháp; hoặc 50 năm tính từ khi kết thúc năm dương lịch mà tác
phẩm được sáng tạo nếu tác phẩm không được công bố hợp pháp trong vòng 50
năm kể từ ngày tạo ra tác phẩm. Đối với tác phẩm mĩ thuật ứng dụng, tác phẩm
nhiếp ảnh thời gian bảo hộ tối thiểu là 25 năm kể từ thời điểm tác phẩm được sáng
tạo ra. Tác phẩm điện ảnh thời hạn bảo hộ là 50 năm từ khi tác phẩm được công bố
hoặc từ khi tác phẩm được sáng tạo nếu tác phẩm chưa được công bố. Đối với
người biểu diễn, người sản xuất bản ghi âm phải kéo dài ít nhất là đến hết thời hạn
50 năm tính từ khi kết thúc năm lịch mà việc ghi âm hoặc buổi biểu diễn được tiến
hành. Đối với các chương trình phát thanh, truyền hình của tổ chức phát thanh,
truyền hình thì thời hạn bảo hộ phải kéo dài ít nhất là 20 năm tính từ khi kết thúc
năm lịch mà chương trình phát thanh, truyền hình đó được thực hiện.
- Quyền SHCN bao gồm quyền đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp,
thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí
mật kinh doanh, quyền chống cạnh tranh không lành mạnh.
a. Sáng chế: Sáng chế là giải pháp kĩ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy
trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự
nhiên.

phải có tính nguyên gốc và có tính mới thương mại. Hiệp định TRIPs quy định các
hành vi bị coi là xâm phạm quyền của chủ sở hữu gồm: sao chép, dù bằng cách thể
hiện trong một mạch tích hợp hoặc bằng cách khác, một phần hoặc toàn bộ thiết kế
bố trí (trừ trường hợp hành vi sao chép phần bất kỳ không có tính nguyên gốc).
Nhập khẩu, bán hoặc các cách phân phối khác nhằm mục đích thương mại (trừ
trường hợp tại thời điểm tiếp nhận mạch tích hợp hoặc vật phẩm chứa mạch tích

18
hợp, người thực hiện hành vi đó hoặc người đặt hàng không biết và không thể biết
mạch tích hợp có chứa thiết kế bố trí mạch tích hợp đã bị sao chép bất hợp pháp).
Thời hạn bảo hộ đối với thiết kế bố trí là 10 năm kể từ ngày nộp đơn đăng ký hoặc
kể từ ngày thiết kế bố trí được khai thác thương mại lần đầu tiên ở bất kỳ nơi nào
trên thế giới. Lưu ý là sau 15 năm kể từ ngày thiết kế bố trí được tạo ra thì việc bảo
hộ này sẽ bị chấm dứt.
d. Nhãn hiệu hàng hóa: nhãn hiệu hàng hóa là những dấu hiệu dùng để phân
biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau.
Theo TRIPs các quy định về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa, bao gồm: Chủ sở
hữu nhãn hiệu hàng hóa có quyền ngăn cản người khác không được sử dụng các dấu
hiệu trùng hoặc tương tự với hàng hóa, dịch vụ mà mình đã đăng ký trong sản xuất,
kinh doanh, nếu việc sử dụng đó không được phép của chủ sở hữu và có nguy cơ
nhầm lẫn với nhãn hiệu của chủ sở hữu đó. Việc đăng ký ban đầu của một nhãn hiệu
hàng hóa có thời hạn ít nhất là 07 năm và có thể được gia hạn không hạn chế số lần.
Luật pháp quốc gia có thể quy định các điều kiện về cấp li –xăng và chủ sở
hữu nhãn hiệu hàng hóa phải được chuyển nhượng quyền sở hữu nhãn hiệu hàng
hóa cùng với hoặc không cùng với việc chuyển nhượng doanh nghiệp có nhãn hiệu
hàng hóa đó, không được cấp li – xăng không tự nguyện đối với nhãn hiệu hàng
hóa.
đ. Tên thương mại: tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong
hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với các chủ
thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực kinh doanh và khu vực kinh doanh.

pháp thực hiện những biện pháp hợp lý theo hoàn cảnh thực tế để giữ bí mật thông
tin đó.
- Quyền đối với giống cây trồng: Giống cây trồng là quần thể cây trồng thuộc
cùng một cấp phân loại thực vật thấp nhất, đồng nhất về hình thái, ổn định qua các
chu kì nhân giống, có thể nhận biết được bằng sự biểu hiện các tính trạng do kiểu
gen hoặc sự phối hợp của các kiểu gen quy định và phân biệt được với bất kỳ quần

20
thể cây trồng nào khác bằng sự biểu hiện của ít nhất một tính trạng có khả năng di
truyền được.
Quyền đối với giống cây trồng là quyền của tổ chức, cá nhân đối với giống
cây trồng mới do mình chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển hoặc được hưởng
quyền sở hữu. Đối tượng quyền đối với giống cây trồng là giống cây trồng và vật
liệu nhân giống.
1.1.2. Khái niệm thực thi quyền SHTT
1.1.2.1. Định nghĩa thực thi quyền SHTT
Trong khoa học pháp lý Việt Nam chưa đưa ra một khái niệm đầy đủ, chính
thức về thực thi quyền SHTT. Thực thi trong Tiếng Anh (enforcement) nghĩa là bắt
tuân theo pháp luật [34, 209]. “Enforcement” có gốc Tiếng Anh là “force” với nghĩa
dùng sức mạnh (quyền lực nhà nước) bắt làm đúng quy định. Thuật ngữ này có
nghĩa buộc mọi người phải tuân theo một luật lệ để làm cho chúng có hiệu lực; là
sự thi hành nghiêm ngặt một luật lệ và được bảo đảm bằng các biện pháp chế tài.
Khái niệm thực thi quyền SHTT gần với khái niệm thực hiện pháp luật về
SHTT và khái niệm thi hành (chấp hành) pháp luật về SHTT nhưng giữa chúng có
những điểm khác nhau.
Thực hiện (implementation) có nghĩa là tự nguyện, tận tâm làm theo đúng
quy định [34, 441]; là quá trình hoạt động có mục đích làm cho các quy tắc xử sự
chứa đựng trong các quy phạm pháp luật SHTT trở thành hành vi thực tế hợp pháp
của các chể thể pháp luật.
Thi hành (execution) có nghĩa tự mình phải làm theo lẽ phải [34, 306]; là

phải được quy định cụ thể và phải được thực hiện trên thực tế và không quá phức
tạp một cách không cần thiết hoặc những yêu cầu vô lý hoặc sự chậm trễ không
được bảo đảm. Các bên tham gia phải được đối xử công bằng, phải được quyền
cung cấp các văn bản có liên quan, các quyết định, căn cứ; phải được tạo điều kiện

22
để được xem xét lại yêu cầu, điều kiện khiếu nại hoặc kháng cáo mà không được
đối xử bất bình đẳng.
* Nguyên tắc minh bạch và không quá tốn kém: Hệ thống thực thi quyền
SHTT quốc gia phải tạo điều kiện cho các bên liên quan được tiếp cận các cơ quan
có thẩm quyền mà không được có các quy định gây phiền hà, phức tạp hoặc quá tốn
kém. Các luật, quyết định của cơ quan hữu quan về tranh chấp phải được công bố
hoặc phải được tiếp cận một cách công khai, minh bạch.
* Nguyên tắc cân bằng lợi ích: Nguyên tắc này đòi hỏi việc bảo hộ và thực
thi quyền SHTT phải tạo được sự cân bằng giữa quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu
quyền và sự hài hòa với lợi ích của xã hội; việc bảo hộ phải có mục đích, bảo hộ có
điều kiện, bảo hộ có chọn lọc và bảo hộ có thời hạn [15, 228]. Việc tuân thủ nguyên
tắc này trong thực tế sẽ thúc đầy sự sáng tạo, tạo ra sự công bằng và thịnh vượng;
ngược lại sẽ tạo nên sức ỳ trong sáng tạo, sự không ổn định và bất bình đẳng xã hội.
b. Các biện pháp chủ yếu thực thi quyền SHTT
Hiệp định TRIPs đưa ra các tiêu chuẩn tối thiểu về các biện pháp chủ yếu và
nghĩa vụ buộc các quốc gia thành viên phải thực hiện nhằm thực thi quyền SHTT
một cách hiệu quả nhất. Nghĩa vụ chính mà các thành viên là đảm bảo các biện
pháp thực thi phải được quy định tương ứng trong hệ thống pháp luật quốc gia
nhằm giúp các chủ sở hữu quyền SHTT có thể khiếu kiện có hiệu quả đối với những
người vi phạm, kể cả ngăn ngừa hành vi có thể tái diễn trong tương lai. Các biện
pháp đó cơ bản bao gồm: các biện pháp tư pháp, biện pháp hành chính và các biện
pháp tạm thời.
* Thực thi quyền SHTT thông qua các biện pháp tư pháp
Việc thực thi quyền SHTT thông qua biện pháp tư pháp được xem xét trước

phạt tù và/hoặc phạt tiền và các hình phạt bổ sung như bắt giữ, tịch thu, tiêu hủy
hàng hóa xâm phạm và các công cụ, nguyên liệu, phương tiện chủ yếu để thực hiện
hành vi phạm tội.

Trích đoạn Thực thi quyền SHTT thông qua hoạt động của cơ quan hành chính Thực thi quyền SHTT thông qua hoạt động của tòa án Thực thi quyền SHTT thông qua hoạt động của hải quan Các hoạt động thực thi quyền SHTT khác Tổng quan về pháp luật và thực tiễn thực thi quyền SHTT ở In-đô-nê-xi-a
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status