Bài làm:
A. Lời mở đầu:
Như chúng ta đã biết, ở hầu hết các nước phát triển, việc thành lập doanh nghiệp
hoàn toàn là quyền của công dân. Đó là quyền tự do lập hội và họ thực hiện quyền này
theo các quy định của pháp luật và chỉ quy định đối với doanh nghiệp kể từ khi nó được
đăng ký kinh doanh. Còn ở Việt Nam, pháp luật hiện hành (Luật DN 2005 và các văn bản
hướng dẫn thi hành) đã bước đầu tiếp thu tư tưởng tiến bộ này, theo đó đã xóa bỏ chế độ
xin phép thành lập doanh nghiệp đã tồn tại trong nhiều năm qua và chỉ thực hiện đăng ký
kinh doanh. Coi việc thành lập và đăng ký kinh doanh là quyền của công dân, tổ chức và
được nhà nước bảo hộ bằng pháp luật. Tuy nhiên, thì để một doanh nghiệp được đăng ký
kinh doanh thì cần hội đủ những điều kiện nhất định, trong đó phải kể đến điều kiện về
chủ thể.
Vậy theo pháp luật hiện hành thì những đối tượng nào có quyền thành lập và góp
vốn vào doanh nghiêp?
B.Giải quyết vấn đề:
1.Đối tượng có quyền thành lập, quản lý doanh nghiệp.
a, Thế nào là thành viên sáng lập và quản lý doanh nghiệp?
* Đối với doanh nghiệp tư nhân: Xuất phát từ việc doanh nghiệp tư nhân do một cá nhân
duy nhất làm chủ, cá nhân này chính là người trực tiếp và quản lý doanh nghiệp tư nhân.
Vậy nên, điều kiện để trở thành chủ doanh nghiệp tư nhân cũng chính là các điều kiện
được quy định tại Điều 13 LDN 2005.
*Đối với các loại hình công ty: Theo khoản 10 và 11 Điều 4 LDN 2005 thì: “thành viên
sáng lập Công ty TNHH, CTHD hoặc cổ đông sáng lập của CTCP là những người góp
vốn, tham gia xây dựng, thông qua và ký tên vào bản điều lệ đầu tiên của công ty”.
Theo khoản 13 Điều 4 LDN2005 thì người quản lý doanh nghiệp bao gồm: “ Chủ sở
hữu, giám đốc doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh CTHD, chủ tich hội đồng
thành viên, chủ tịch công ty, thành viên hội đồng quản trị, giám đốc hoặc tổng giám đốc
và các chức danh quản lý khác do điều lệ công ty quy định”.
Mặt khác, cán bộ, công chức không được thành lập và hoặc tham gia quản lý điều hành
nghiệp theo các mô hình doanh nghiệp đã được quy định trong Luật DN 2005.(Vấn đê
này trước đây được quy định theo Luật Đầu tư nước ngoài)
2. Đối tượng có quyền góp vốn vào doanh nghiệp:
a, Vậy thế nào là góp vốn vào doanh nghiệp?
Theo khoản 4 Điều 4 LDN 2005 thì: “ Góp vốn là việc đưa tài sản vào công ty để trở
thành chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu cung của công ty…”
b, Đối tượng có quyền góp vốn vào doanh nghiệp.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 13 LDN2005 thì: “Tổ chức, cá nhân có quyền mua cổ
phần của CTCP, góp vốn vào CTTNHH, CTHD trừ các trường hợp quy định tại khoản 4
Điều này”. Theo đó: “Tổ chức, cá nhân sau đây không được mua cổ phần của CTCP,
góp vốn vào CTTNHH, công ty hợp danh theo quy định của Luật này:
a) Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam sử dụng tài sản nhà
nước góp vốn vào doanh nghiệp để thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;
b) Các đối tượng không được góp vốn vào doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về
cán bộ, công chức.
Đồng thời, cũng phải tuân theo các quy định tại khoản 1 Điều 13 Nghị định số
102/2010/NĐ-CP. Bên cạnh đó, thì người đứng đầu, cấp phó người đứng đầu cơ quan, vợ
hoặc chồng, bố, mẹ, con cuar những người đó không được góp vốn vào doanh nghiệp
hoạt động trong phạm vi những ngành nghề mà người đó trực tiếp quản lý. Điều này
nhằm ngăn chặn hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh.
C. Nhận xét:
Những quy định của pháp luật đã đảm bảo tốt hơn quyền tự do kinh doanh của các
chủ thể khi chỉ ra cụ thể các đối tượng bị cấm kinh doanh còn lại để mở rộng quyền tự do
kinh doanh cho các chủ thể. Đặc biệt có ý nghĩa trong điều kiện hội nhập quốc tế như
hiện nay. So với các quy định của pháp luật trước đây, đối tượng được thành lập doanh
nghiệp trong 2005 được mở rộng hơn. Theo đó, người đang bị truy cứu trách nhiệm hình
sự, người bị kết án tù chưa được xóa án tích, tổ chức, cá nhân nước ngoài không thường
trú tại Việt Nam không còn là đối tượng bị cấm thành lập doanh nghiệp.