ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHAN CÔNG TIẾN
XÁC ĐỊNH TÀI SẢN CÓ CỦA THƢƠNG NHÂN
THEO PHÁP LUẬT PHÁ SẢN Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHAN CÔNG TIẾN
XÁC ĐỊNH TÀI SẢN CÓ CỦA THƢƠNG NHÂN
THEO PHÁP LUẬT PHÁ SẢN Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số
: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn: PGS. TS. Vũ Thị Hồng Vân
Hà nội – 2016
toán.... ........................................................................................................................ 26
1.3.1. Xác định tài sản có của thương nhân mất khả năng thanh toán tại thời điểm
mở thủ tục phá sản .................................................................................................... 27
1.3.2. Xác định tài sản có của thương nhân trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc
phá sản ....................................................................................................................... 27
1.3.3. Xác định tài sản có của thương nhân sau khi tuyên bố phá sản...................... 28
1.4.
Ý nghĩa của việc xác định tài sản có của thương nhân mất khả năng thanh
toán.... ........................................................................................................................ 29
Chƣơng 2. Thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về xác định tài sản có
của thƣơng nhân mất khả năng thanh toán ............. Error! Bookmark not defined.
2.1.
Thực trạng quy định pháp luật Việt Nam về xác định tài sản có của thương
nhân mất khả năng thanh toán ................................... Error! Bookmark not defined.
2.1.1. Thời điểm xác định tài sản có của thương nhân mất khả năng thanh toánError! Bookma
2.1.1.1.
Thời ha ̣n kiể m kê và xác đinh
̣ tài sản có của thương nhân
mất khả năng
Thực trạng thi hành pháp luật về xác định tài sản có của thương nhân mất khả
năng thanh toán ......................................................... Error! Bookmark not defined.
2.2.1. Một số kết quả đạt được trong quá trình thực hiệnError! Bookmark not defined.
2.2.2. Một số khó khăn vướng mắc trong việc thực hiện pháp luật về xác định tài
sản có của thương nhân mất khả năng thanh toán..... Error! Bookmark not defined.
Chƣơng 3. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành
pháp luật về xác định tài sản có của thƣơng nhân mất khả năng thanh toánError! Bookmar
3.1.
Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về xác định tài sản có của thương nhân
mất khả năng thanh toán ........................................... Error! Bookmark not defined.
3.2.
Một số giải pháp về tổ chức thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các
quy định của pháp luật về xác định tài sản có của thương nhân mất khả năng thanh
toán.... ........................................................................ Error! Bookmark not defined.
KẾT LUẬN .................................................................. Error! Bookmark not defined.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................... 34
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Có thể thấy rằng , mục đích quan trọng của thủ tục phá sản là xác định khả
hợp phá sản, dẫn đến bỏ lọt nhiều tài sản, xác định chưa chính xác tài sản có của
1
thương nhân để đánh giá khả năng phục hồi cũng như đ ảm bảo các nghĩa v ụ của
thương nhân đố i với chủ nơ .̣
Trên thực tế trong thời gian gần đây, Tổng cục Thống kê - Bộ Kế hoạch và
Đầu tư vừa công bố báo cáo về tình hình kinh tế xã hội 6 tháng đầu năm 2016, theo
đó cả nước có 5.500 doanh nghiê ̣p phá s ản, tăng 17% so với cùng kỳ năm 2015. Số
doanh nghiê ̣p bu ộc tạm ngừng hoạt động là 31.119 doanh nghiê ̣p , tăng 15%, bao
gồm 12.203 doanh nghiê ̣p ng ừng hoạt động có thời hạn (tăng 37,1%) và 18.900
doanh nghiê ̣p ng ừng hoạt động chờ đóng mã số thuế. Tổng số doanh nghiê ̣p phá
sản, chờ phá sản 6 tháng đầu năm 2016 đạt 36.600 doanh nghiê ̣p, bình quân mỗi
tháng có hơn 6.000 doanh nghiê ̣p phá sản, chờ phá sản, mỗi ngày có hơn 200 doanh
nghiê ̣p phá sản, chờ đóng cửa. So với số doanh nghiê ̣p phá sản, chờ phá sản 6 tháng
đầu năm 2015 (31.700 doanh nghiê ̣p ), con số 6 tháng năm tăng gần 5.000 doanh
nghiê ̣p, đáng nói có hơn 5.100 doanh nghiê ̣p ch ờ phá sản có quy mô vốn đăng ký
khoảng 10 tỷ đồng [47]. Như vậy, trong điều kiện phát triển của nền kinh tế thị
trường tại Việt Nam hiện nay, số lượng doanh nghiệp giải thể, phá sản ngày càng
lớn và đang là vấn đề cần được quan tâm giải quyết.
Như vâ ̣y, những vướng mắ c nêu trên là hê ̣ quả tấ t yế u của viê ̣c thiế u vắ ng đi
những quy đinh
̣ cu ̣ thể của pháp luâ ̣t . Nhìn nhận một cách khách quan , pháp luật
Viê ̣t Nam điề u chỉnh về vấ n đề xác định tài sản có của thương nhân mất khả năng
thanh toán còn khá nhiều lỗ hổng cần được bù đắp . Do đó, cần xây dựng hành lang
pháp lý hoàn thiện, đảm bảo quyền lợi của thương nhân mất khả năng thanh toán và
chủ nợ trong trường hợp phá sản.
Xuấ t phát từ những điề u nêu trên , tôi cho rằ ng, viê ̣c đi sâu nghiên cứu về vấ n
đề “Xác định tài sản có của thương nhân theo pháp luật phá sản ở Việt Nam” là
PGS, TS. Dương Đăng Huệ, Ths. Nguyễn Thanh Tịnh – Chủ biên ,
“Thực trạng pháp luật về phá sản và viê ̣c hoàn thiê ̣n môi trường pháp luật kinh
doanh ta ̣i Viê ̣t Nam”, tháng 11/2008;
-
TS. Lê Danh Viñ h , Hoàng Xuân Bắc , ThS. Nguyễn Ngo ̣c Sơn , “Pháp
luật ca ̣nh tranh Viê ̣t Nam”, NXB Tư pháp, năm 2006;
-
TS. Phạm Duy Nghĩa, “Chuyên khảo Luật Kinh tế ”, NXB Đa ̣i ho ̣c Quố c
gia Hà Nô ̣i, năm 2004;
-
FRASER Law Company, “Luật Phá sản năm 2014 và việc g iải quyết
các lợi ích có bảo đảm tại Việt Nam ”, Bản tin pháp luật – Pháp luật phá sản năm
2015;
-
Vũ Thị Hồng Vân, “Quản lý và xử lý tài sản phá sản theo quy định của
pháp luật phá sản Việt Nam”, Luận án tiến sĩ, Hà Nội, năm 2008;
-
Vũ T hị Hồng Vân , “Bàn về nguyên tắc và cách thức xác định TSPS
theo pháp luật phá sản Việt Nam”, Tạp chí kiểm sát số 3 tháng 2 năm 2007;
trường hợp phá sản; hoặc đã nghiên cứu về tài sản phá sản, xác định tài sản có của
thương nhân nhưng lại theo Luật Phá sản 2004. Chưa có một công trình nào nghiên
cứu một cách trực tiế p , đầy đủ, toàn diện các khía cạnh pháp lý về xác định tài s ản
có của thương nhân theo pháp luật phá sản hiện hành ở Việt Nam.
Chính vì những lí do trên mà tôi đã chọn nghiên cứu đề tài: “Xác đi ̣nh tài sản
có của thương nhân theo pháp luật phá sản ở Việt Nam” làm luận văn thạc sĩ luật
học với mong muốn nghiên cứu, đánh giá nhữ ng quy đinh
̣ mới về xác đinh
̣ tài s ản
có của thương nhân theo pháp luật phá sản, góp phần làm sáng tỏ các vấn đề vướng
mắc trong quá trình thực hiện pháp luật ta ̣i Viê ̣t Nam v ề xác định tài s ản có của
thương nhân mất khả năng thanh toán, để từ đó đề xuất một vài ý kiến nhằm hoàn
thiện pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là một số vấn đề cơ bản về tài sản có của
thương nhân mất khả năng thanh toán trong trường hợp phá sản; các quy định hiện
hành của pháp luật phá sản điều chin
̣ tài s ản có của thương nhân mất
̉ h viê ̣c xác đinh
khả năng thanh toán ở Việt Nam; phân tích, so sánh, đối chiếu các quy định này
trong tổng thể hệ thống pháp luật Viê ̣t Nam và pháp luật một số nước trên thế giới.
Trong phạm vi này, Luận văn không đi sâu vào tìm hiểu tất cả các vấn đề về
xác định tài s ản doanh nghiê ̣p trong trư ờng hợp phá sản cũng như việc xác định tài
sản có của thương nhân ở nước ngoài; mà chỉ tập trung nghiên cứu khía cạnh pháp
4
lý, cơ sở lý luận, thực tiễn và nội dung về xác định tài sản có của thương nhân mất
khả năng thánh toán theo pháp luật phá sản ở Việt Nam. Trên cơ sở phạm vi nghiên
5
việc xác định tài sản, phạm vi tài sản cũng như các giao dịch khác liên quan.
- Nghiên cứu thực trạng hệ thống pháp luật về xác định tài sản có của thương
nhân theo pháp luật phá sản cũng như thực trạng thực thi pháp luật ta ̣i Viê ̣t Nam.
- Kiến nghị hướng sửa đổi, hoàn thiện pháp luật về xác định tài s ản có của
thương nhân theo pháp luật phá sản ở Việt Nam cho phù hợp với thực tế và phù hợp
với xu hướng hội nhập quốc tế.
6. Nội dung, địa điểm nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu vấn đề xác đinh
̣ tài s ản có của thương nhân mất khả năng thanh
toán theo pháp luật phá sản ở Việt Nam.
Địa điểm nghiên cứu
Luâ ̣n văn tâ ̣p trung nghiên cứu các quy đinh
̣ pháp luật Việt Nam có liên quan
đến hoạt động xác định tài s ản có của thương nhân mất khả năng thanh toán. Vì
vâ ̣y, địa điểm nghiên cứu đề tài này chúng tôi chọn là ở Việt Nam, cụ thể là các
thương nhân trong nền kinh tế Việt Nam mất khả năng thanh toán. Mục đích là tập
trung nghiên cứu pháp luật Viê ̣t Nam về xác đinh
̣ tài s ản có của thương nhân mất
khả năng thanh toán trong trường hợp phá sản.
7. Tính mới và những đóng góp của đề tài
Luận văn là một công trình khoa học ở cấp thạc sĩ luật học đề cập mô ̣t cách
chuyên sâu, đầ y đủ và toàn diê ̣n v ấn đề lý luận, thực tiễn về xác đinh
̣ tài s ản có của
thương nhân theo pháp luật phá sản ở Việt Nam.
Đề tài “Xác đi ̣nh tài s ản có của thương nhân theo pháp luật phá sản ở Việt
Nam” sẽ trực tiếp nghiên cứu chuyên sâu, và đưa ra một số điểm mới như sau:
khả năng thanh toán.
Chương 2. Thực trạng về xác định tài sản có của thương nhân mất khả năng
thanh toán.
Chương 3. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành
pháp luật về xác định tài sản có của thương nhân mất khả năng thanh toán.
7
Chƣơng 1. Những vấn đề cơ bản về xác định tài sản có của thƣơng nhân
mất khả năng thanh toán
1.1.
Một số vấn đề cơ bản về tài sản có của thƣơng nhân mất khả năng
thanh toán
1.1.1. Khái niệm thƣơng nhân
Với tư cách là một ngành luật, Luâ ̣t Thương ma ̣i còn đươ ̣c go ̣i là luâ ̣t của
thương nhân (Merchant law ). Ngành luật này điều tiết quan hệ giữa các thương
nhân hoă ̣c hành vi thương ma ̣i . Xoay quanh vấn đề khái niệm thương nhân là gì,
pháp luật thương mại của mỗi quốc gia lại có những quy định khác nhau, cụ thể:
Bô ̣ luâ ̣t Thương ma ̣i Pháp
1807 (Bô ̣ luâ ̣t Thương ma ̣i đầ u tiên đươ ̣c pháp
điể n hóa theo kiể u hiê ̣n đa ̣i trên thế giới ) có đưa ra định nghĩa pháp lý kinh đi ển về
“thương nhân” như sau: Thương nhân là những người thực hiê ̣n các hành vi thương
mại và lấy chúng làm nghề nghiệp thường xuyên của mìn h [15]. Theo đó, pháp luật
thương mại của Pháp đưa tới sự hiểu về thương nhân trước hết phải là những người
thực hiện các hành vi thương mại, với mục đích của các hành vi này là nhằm sinh
Thương ma ̣i Nhấ t thể của Hoa Kỳ (UCC-1990) cùng với khái niê ̣m “mua bán” , “chi
nhánh tài chính” , các nhà làm luật đã đưa ra nhâ ̣n đinh:
̣ Thương gia đươ ̣c dùng để
chỉ một nhóm nhất định của các chủ thể kinh doanh mà những người này là những
người tiế n hành hoa ̣t đô ̣ng kinh doanh hàng hóa các loa ̣i thông qua các công viê ̣c
thường xuyên, lâu dài của ho .̣ Những công viê ̣c đó đòi hỏi phải có những nhâ ̣n thức
và kỹ năng thực hiện riêng biê ̣t. Thương nhân theo Bô ̣ luâ ̣t này có 3 loại hình chủ
yế u là cá nhân kinh doanh (Sole proprietorship), công ty đố i nhân (partnership) và
công ty đố i vố n (corporation) [29, tr. 18].
Áp dụng phương thức liệt kê, tại khoản 2, Điề u 2 Bô ̣ luâ ̣t Thương ma ̣i Cô ̣ng
hòa Czech mô tả , thương nhân đươ ̣c coi là : a/Người (thể nhân hoặc pháp nhân )
được ghi tên vào sổ đăng ký thương mại ; b/Người thực hiê ̣n hoạt động kinh doanh
trên cơ sở một giấ y phép cho tiế n hành một số hoạ
t động buôn bán nhấ t đi ̣nh ;
c/Người thực hiê ̣n các hoạt động kinh doanh trên cơ sở một giấ y phép được cấ p
theo các luật hoặc các quy đi ̣nh đặc biê ̣t khác với các quy đi ̣nh điề u chỉnh viê ̣c cấ p
giấ y phép bán buôn ; d/Thể nhân th ực hiện hoạt động nông nghiệp (sản xuất nông
nghiê ̣p) mà được đăng ký vào sổ đăng ký thích hợp theo luật quy định đặc biệt [15].
Với quy định này, thương nhân theo pháp luật thương mại của Cô ̣ng hòa Czech
được hiểu với phạm vi tương đối rộng, đó có thể là thể nhân hoặc pháp nhân có tên
trong sổ đăng ký thương mại, họ thực hiện hoạt động kinh doanh hoặc một số hoạt
động buôn bán nhất định trên cơ sở giấy phép kinh doanh được cấp theo quy định
của pháp luật.
Tại Việt Nam, Điều 6 Luật Thương mại 2005 quy định: “Thương nhân bao
9
10
nghĩa là chủ thể thực hiện những hành vi thương mại một cách thực tế, lặp đi lặp
lại, kế tiếp, liên tục mang tính nghề nghiệp. Điều này có nghĩa rằng, các chủ thể
thực hiện hành vi thương mại một cách riêng lẻ, đứt quãng sẽ không có tư cách
thương nhân. Bên cạnh đó khi xác định tư cách thương nhân cũng cần quan tâm đến
tính nghề nghiệp, tức là cá nhân hay pháp nhân nào đó phải thực hiện những hoạt
động thương mại một cách thường xuyên, liên tục nhằm tạo thu nhập chính cho
thương nhân.
- Thương nhân phải có năng lực hành vi thương mại. Được hiểu là khả năng
của tổ chức, cá nhân bằng những hành vi của mình có thể xác lập và thực hiện các
quyền, nghĩa vụ pháp lí. Để bảo vệ lợi ích xã hội, pháp luật thương mại Việt Nam
quy định một số người không được công nhận là thương nhân như người bị mất
năng lực hành vi dân sự hay người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự…
- Thương nhân phải có đăng kí kinh doanh. Đây là một đặc điểm bắt buộc
của thương nhân. Khi đăng kí kinh doanh những thông tin chủ yếu về thương nhân
sẽ được công khai như: tên thương mại, trụ sở, mục tiêu, ngành nghề kinh doanh…
được ghi nhận vào sổ đăng kí kinh doanh và như vậy một người nào đó muốn có
thông tin về một thương nhân cụ thể thì sẽ chỉ cần đến những cơ quan nhà nước có
thẩm quyền để có được thông tin cần thiết.
Xuất phát từ những phân tích trên, có thể thấy rằng, khi đề cập tới khái niệm
thương nhân, pháp luật thương mại của một số nước trên thế giới, trong đó có Việt
Nam đều thống nhất quan điểm khi khẳng định một cá nhân hay pháp nhân để được
coi là thương nhân thì trước tiên họ phải thực hiện hành vi thương mại bao gồm mua
bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động khác
nhằm mục đích sinh lợi. Đồng thời các hành vi thương mại mà họ thực hiện phải là
mang tính nghề nghiệp, tức là các hoạt động ấy được tiến hành một cách thường
xuyên, liên tục, lặp đi lặp lại và nó mang lại nguồn thu nhập chính cho họ. Ngoài ra,
mang tính nhấ t thời, bấ t thường, trong khi đó hoạt đô ̣ng kinh doanh của họ vẫn diễn
ra bình thường. Ngươ ̣c lại, có những doanh nghiê ̣p nhìn bề ngoài có vẻ “nơ ̣ nầ n
sòng phẳ ng” nhưng sự trả nơ ̣ chỉ mang tính chấ t trá hình nhằ m che đâ ̣y mô ̣t tình
trạng “vô phương cứu chữa” bên trong. Thêm nữa, thương nhân mất khả năng thanh
toán thường dựa trên tiêu chí không thanh toán nợ đến hạn (dòng tiền) hoặc tổng nợ
vượt quá tài sản có (cân đối tài sản), điều này không có ý nghĩa thương nhân đã phá
12
sản, cần phải thu hồi, phát mại và thanh lý sản nghiệp, cũng chính vì lý do đó, nhiều
nước đã đổi tên Luật Phá sản thành Luật Mất khả năng thanh toán.
Dưới góc độ lập pháp , liên quan tới khái niê ̣m thương nhân mấ t khả năng
thanh toán , pháp luật phá sản của một số quốc gia cũng có những quy định nhất
đinh
̣ về vấ n đề này . Dù có sự khác nhau về kỹ thuật lập pháp nhưng hầu hết pháp
luật phá sản của các nước nêu dưới đây đều đưa ra một sự hiểu chung tương đối
thống nhất khi nói về thương nhân mất khả năng thanh toán cụ thể:
Theo quy định của Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1992 của Liên bang Nga,
tình trạng mấ t khả năng thanh toán đươ ̣c hiể u là tình tra ̣ng con nơ ̣ mất khả năng đáp
ứng yêu cầu của chủ nợ về thanh toán hàng hóa (công việc, dịch vụ) kể cả việc mất
khả năng bảo đảm các thanh toán phải nộp ngân sách và các quỹ ngoài ngân sách do
nghĩa vụ của người mắc nợ vượt quá tài sản của mình hoặc do mất cân đối trong cán
cân thanh toán của người mắc nợ. Dấu hiệu bên trong của tin
̀ h tra ̣ng này là s
ự
ngừng việc thanh toán bình thường của con nơ ̣ , nếu không bảo đảm hoặc rõ ràng
không có khả năng thực hiện các yêu cầu của chủ nợ trong thời hạn 3 tháng kể từ
thương nhân mắc nợ và các chủ nợ, ngăn chặn hiện tượng phá sản dây chuyền.
Đồng thời, việc bỏ từ “các” trong cụm từ “các khoản nợ” để thể hiện rõ tiêu chí mất
khả năng thanh toán không phụ thuộc vào số lượng khoản nợ mà chỉ cần một khoản
nợ. Thêm vào đó , quy đinh
̣ hiê ̣n hành vẫn dành một khoảng thời gian 03 tháng kể từ
ngày khoản nợ đến hạn để thương nhân tự giải quyết những khó khăn về tài chính
tạm thời, qua đó tạo thêm cơ hội để thương nhân thanh toán nợ và giảm áp lực “đe
dọa” nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản từ phía chủ nợ. Quy định này thể hiện sự
tiếp thu tích cực của lập pháp nước ta, phù hợp với kinh nghiệm lập pháp của một
số nước trên thế giới.
Như vậy, trên cơ sở nghiên cứu vấ n đề này dưới nhiề u góc đô ̣ khác nhau, tác
giả xin đươ ̣c đưa ra khái niê ̣m về thương nhân mấ t khả năng thanh toán như sau:
Thương nhân mất khả năng thanh toán là tình trạng của thương nhân bị mấ t
cân đố i trong cán cân thanh toán, theo đó thương nhân mắ c nợ không thực hiện
hoặc không thể thực hiê ̣n nghĩa vụ thanh toán hoặc ngừng các hoạt động thanh
toán đối với khoản nợ đến hạn trong một thời hạn nhất định theo quy đinh
̣ của
pháp luật kể từ ngày đến hạn thanh toán.
Trên cơ sở đó, thương nhân mất khả năng thanh toán có những đặc điểm cơ
bản sau:
14
- Về khoản nợ đến hạn mà thương nhân không thanh toán được. Đó là bất
kỳ khoản nợ nào dù là nợ lương, nợ thuế, nợ bảo hiểm xã hội, khoản nợ phát sinh từ
hợp đồng, kể cả việc mất khả năng bảo đảm các thanh toán phải nộp ngân sách và
các quỹ ngoài ngân sách phát sinh từ nghĩa vụ của người mắc nợ.
- Về cơ bản, mất khả năng thanh toán được hiểu theo nghĩa hẹp nhất là việc
thương nhân không còn khả năng chi trả, thanh toán cho các khoản nợ đến hạn; tài
một phạm trù kỹ thuật của khoa học luật, “Sản nghiệp” đư ợc hiểu như là một tập
hợp các tài sản có và tài sản nợ, là một tổng thể các quan hệ pháp luật về tài sản
chứ không chỉ đơn giản là một bộ sưu tập đồ vật [37]. Điề u này có thể đươ ̣c lý
giải rằng : tài sản phá sản là khối sản nghiệp của thương nhân
, bao gồ m toàn bô ̣
những tài sản của thương nhân mấ t khả năng thanh toán hay còn g ọi là “Tài sản có”
và nghĩa vụ về tài sản của thương nhân mấ t khả năng thanh toán hay còn go ̣i là “ Tài
sản nợ” từ thời điểm Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đến thời điểm
có quyết định của Toà án về việc hoàn tất vụ việc phá sản [36, tr. 21].
Đề câ ̣p trực tiế p tới khái niê ̣m tài sản có của thương nhân trong
năng thanh toán, mô ̣t quan niê ̣m nêu ra như sau
mất khả
: Tài sản (tài sản có) của doanh
nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản là toàn bộ số tài sản thuộc quyền sở
hữu của doanh nghiệp, hợp tác xã theo quy định của pháp luật có hoặc sẽ có tại
thời điểm Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản [10, tr. 39]. Đồng thời ,
nhằm tạo nên mô ̣t cái nhiǹ chin
́ h xác
, toàn diê ̣n về khái niê ̣m trên , tác giả của
quan điể m này còn nêu thêm sự hiể u thế nào là “ tài sản nợ” của thương nhân mất
khả năng thanh toán, theo đó , nghĩa vụ về tài sản (tài sản nợ) của doanh nghiệp,
hợp tác xã lâm vào tình tr ạng phá sản là toàn bộ các khoản nợ theo quy định của
pháp luật mà doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản có nghĩa vụ
mô ̣t thuâ ̣t ngữ chung là “ Tài sản phá sản” hoặc “ Sản nghiệp” để nói về tài sản có
hoă ̣c/và tài sản nợ của thương nhân mất khả năng thanh toán.
Tuy nhiên, đă ̣t trong mố i liên hê ̣ với thời điể m hiê ̣n ta ̣i thì có thể thấ y
rằ ng, quan niê ̣m hiế m hoi trên cầ n có sự điề u chin
̣ để có đươ ̣c những
̉ h nhấ t đinh
nhâ ̣n thức pháp luâ ̣t đúng đắ n , thố ng nhấ t hơn , cụ thể là việc sử dụng t huâ ̣t ngữ
mang tiń h đinh
̣ tiń h như “lâm vào tin
̀ h tra ̣ng phá sản”
, cùng với đó là việc ấn
đinh
̣ thời điể m xác đinh
̣ khố i tài sản có của thương nhân
là tại thời điểm Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tụ
mất khả năng thanh toán
c phá sản dường như chưa
thực sự hơ ̣p lý bởi trong suố t quá trin
̀ h Tòa thu ̣ lý vu ̣ viê ̣c
, thương nhân vẫn đươ ̣c
tiế n hành các hoa ̣t đô ̣ng kinh doanh mô ̣t cách bình thường
- Tài sản phá sản cũng bao gồm những tài sản mà Tín thác viên thu hồi được
theo thẩm quyền do luật định trong các trường hợp:
17
- Quyền xiết nợ (đại diện cho chủ nợ): Tín thác viên có quyền xiết nợ đối với
các con nợ của doanh nghiệp mà không cần sự đồng ý của con nợ (khoản 544 a);
- Các tài sản có được do Tín thác viên đã thực hiện việc xiết nợ người khác
đối với tài sản của doanh nghiệp mà người tín thác này đang quản lý.. [34].
Theo đó, tài sản có của thương nhân trong trường hơ ̣p phá sản nằ m trong
khố i tài sản phá sản chung, nó chính là tấ t cả số tài sản thuô ̣c quyề n sở hữu hơ ̣p
pháp của con nơ ̣ mà không thuô ̣c trường hơ ̣p tài sản loại trừ tại thời điể m bắ t đầ u vụ
phụ sản, cũng như những tài sản con nơ ̣ có đươ ̣c từ bấ t kì lơ ̣i ích nào trong vòng
180 ngày sau khi vụ viê ̣c bắ t đầ u...
Trong Luật Phá sản của Nhật Bản, phạm vi của khối tài sản phá sản bao gồm
tất cả tài sản còn lại của con nợ, “Bất kỳ tài sản nào và tất cả những tài sản do bên
bị phá sản giữ tại thời điểm tuyên bố phá sản” thuộc khối tài sản phá sản (Điều 6
Luật Phá sản Nhật Bản) [44]. Với cách thức lâ ̣p pháp như vâ ̣y, có thể hiể u rằ ng, tài
sản có của thương nhân mất khả năng thanh toán chính là toàn bô ̣ khố i tài sản còn
lại mà họ đang nắ m giữ tại thời điể m tuyên bố phá sản, trừ những tài sản có được
sau khi tuyên bố phá sản và những tài sản ở ngoài phạm vi lãnh thổ của Nhật Bản.
Theo Điều 35 Luật Phá sản của Cộng hòa Liên bang Đức, khối tài sản phá
sản (Insolvenzmasse) là toàn bộ tài sản mà con nợ có được vào thời điểm Toà án ra
quyết định thụ lý và những tài sản mà con nợ có thêm được từ thời điểm thụ lý.
Đồng thời, các nhà làm luâ ̣t còn quy đinh
̣ những tài sản không thuộc phạm vi tài sản
bị cưỡng bức tịch thu (Zwangsngvollstreckung) hay còn gọi là tài sản loại trừ không
thuộc về khối tài sản phá sản và phải hoàn trả lại cho chủ nợ, ví dụ: các quyền liên
quan đến cá nhân (như sức lao động), các tài sản nhất định theo quy định của Luật
sản có của doanh nghiệp , hơ ̣p tác xã mấ t khả năng thanh toán ta ̣i thời điể m Tòa án
quyế t đinh
̣ mở thủ tu ̣c phá sản cũng như sau ngày Tòa án ra quyế t đinh
̣ mở thủ tu ̣c
phá sản nhằm đảm bảo quyền lợi cho các chủ nợ cũng như là cơ sở để Tòa án lự
a
chọn phương hướng giải quyết cho từng vụ việc cụ thể.
Bên cạnh đó, so sánh với chế định tài sản có của thương nhân đang hoạt động
bình thường có thể nhận thấy, về bản chất tài sản có của thương nhân đang hoạt
động thông thường hay thương nhân mất khả năng thanh toán thì đều tương tự
nhau. Vì tài sản có của doanh nghiệp là yếu tố tồn tại khách quan, chỉ khác nhau về
mục đích xác định tài sản của từng thời điểm. Khi doanh nghiệp hoạt động bình
thường, việc xác định tài sản có của thương nhân được thực hiện chủ yếu trên sổ
sách, giấy tờ nhằm định hướng hoạt động của thương nhân cũng như phát triển kinh
19
doanh. Còn khi thương nhân mất khả năng thanh toán thì việc xác định tài sản có
nhằm mục đích để xử lý tài sản.
Như vâ ̣y, thông qua viê ̣c nghiên cứu khái niệm “Tài sản có” của thương nhân
mất khả năng thanh toán dưới cả hai khía ca ̣nh khoa ho ̣c pháp lý và thực tiễn lâ ̣p
pháp, có thể thấ y rằ ng, hiê ̣n nay đang tồ n tại mô ̣t sự hạn chế nhấ t đinh
̣ trong viê ̣c
nghiên cứu khái niê ̣m này. Theo đó, các nhà khoa học pháp lý cũng như các nhà lâ ̣p
pháp đều chưa có sự chú trọng cầ n thiế t trong việc xây dựng một cách hiểu thống
nhất về khái niệm tài sản có nói riêng cũng như sản nghiệp hay tài sản phá sản nói
chung, và điề u này sẽ gây những cản trở nhấ t đinh
mô ̣t cách đầ y đủ , rõ ràng, tránh tình trạng thất thoát tài sản thì đa phần các nước đều
đưa ra những căn cứ hay nguy ên tắ c nhấ t đinh
̣ . Cụ thể , xác định khối tài sản nói
chung cũng như tài sản có của thương nhân nói riêng có th ể dựa vào th ời điểm và
20