So sánh trách nhiệm bồi thường của nhà nước theo pháp luật đức và pháp luật việt nam (tóm tắt trích đoạn) - Pdf 42

so SÁNH TR ÁC H NH IỆM BÒI TH Ư Ờ N G CỦ A NH À NƯỚC
THEO PHÁP LUẬT ĐỨC VÀ PH ÁP LU Ậ T VIỆT NAM
Nguyễn Minh Tuấn

Pháp luật trách nhiệm bồi thường của N hà nước (dưới đây viết tắt là
TNBTCNN) là một phần của trật tự pháp quyền. Trong N hà nước pháp quyền, pháp
luật TNBTCNN đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Đây là m ột trong những yểu tố
thuộc nội dung của Nhà nước pháp quyền1. Mặc dù Luật Trách nhiệm bồi thường
của Nhà nước (dưới đây viết tắt là Luật TNBTCNN) đã được ban hành ngày 18/6/2009
và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2010, đến nay vẫn còn rất nhiều vấn đề bỏ ngỏ,
nhiều vấn đề gây tranh cãi, chưa được giải quyết m ột cách thấu đáo. Trong phạm vi
bài viết này, tác giả tiếp cận vấn đề theo hướng so sánh các qui phạm pháp luật của
Đức và Việt Nam về cơ sở của TNBTCNN, nhằm rút ra những bài học kinh
nghiệm, hoàn thiện pháp luật TNBTCNN Việt Nam trong tương lai.

I.
KHÁI NIỆM VÀ CÁC KHÍA CẠNH LỊCH s ử PHÁP LÝ CỦA
TRÁCH NHIỆM BÒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC
Trong chế độ toàn trị, Nhà nước không chịu trách nhiệm. N hà nước đứng trên
pháp luật và vì thế không thể hành động trái luật (Tiếng Anh: The King can do no
wrong - Nhà nước không thể làm sai). Theo quan điểm Nhà nước pháp quyền hiện
đại, Nhà nước phải chịu trách nhiệm trong các quan hệ bên ngoài đổi với những
thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra cho người bị thiệt hại là các cá nhân, tổ
chức. Ở Đức, nguồn gốc của TNBTCNN là xuất phát từ nguyên tắc Nhà nước pháp
quyền (Rechtsstaatsprinzip) được qui định ở Điều 20 LCB, đặc biệt là nguyên tắc
ưu tiên tính hợp pháp trong khi thi hành công vụ tại Điều 20 Khoản 3 LCB và
nguyên tắc bảo đảm quyền khởi kiện tại Điều 19 Khoản 4 LCB. Tương tự, tại
Điều 2 Hiển pháp (HP) Việt Nam 1992 sửa đổi năm 2001 cũng qui định rằng Việt
Nam là một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đây là cơ sở hiến định, cùng
với qui định tại Điều 72, 74 HP Việt Nam 1992 đặt nền móng cho việc thiết lập một
hệ thống các qui phạm pháp luật về TNBTCNN ở Việt Nam. Trong Nhà nước hiện

Xét về thời gian, lịch sử của pháp luật TNBTCNN Việt Nam ngắn hơn nhiều
so với lịch sử của pháp luật 11MBTCNN của Đức. Từ năm 1919, Điều 131 Hiến
pháp Cộng hòa W eimar đà qui định TNBTCNN theo nghĩa hẹp. Ngược lại phải rất
muộn ở Việt Nam, đến năm 1992, Hiến pháp mới bắt đầu qui định quyền được bồi
thường của người bị thiệt hại do hành vi công quyền gây ra. Luật TNBTCNN đã
được ban hành năm 2009 và cỏ hiệu lực từ năm 2010, tuy nhiên cho đến nay còn
nhiều văn bản hướng dẫn thi hành đạo luật này vẫn chưa được ban hành.
II.
SO SÁNH TRÁCH NHIỆM BÒI THƯỞNG CÔNG v ụ CỦA ĐỨC
VÀ TRÁCH NHIỆM BÒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC Ở VIỆT ISAM
1.
Vi phạm nghĩa vụ công vụ và vi phạm nghĩa vụ p h áp lu ật tron g quá
trìn h thực thi công vụ

1. ỉ. Theo luật của Đức
ỉ. ì. ì. Hành vi thực thi công vụ
Khái niệm "bất cứ a i” theo nghĩa của Luật TNBTCNN không chỉ bao gồm
những "công chức" theo nghĩa hẹp, mà còn bao gồm cà những người khác được

663


VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TÉ LẦN THỨ TƯ

giao quyền thực thi nhiệm vụ công1. Hành vi gây thiệt hại theo Điều 34 câu 1 LCB
phải trong quá trình thi hành công vụ ("in Ausủbung eines offentlichen Amts")2.

1.1.2. Vi phạm nghĩa vụ công vụ (Amtspflichtverletzung)
Điều kiện cơ bản nhất của cả Điều 839 khoản 1 câu 1 BLDS Đức và Điều 34
câu 1 LCB là việc vi phạm một nghĩa vụ công vụ (Amtspflichtverletzung). Nghĩa vụ

quan hệ với cơ quan quản lý trực tiếp người thi hành công vụ, chứ không phải là trong quan
hệ giữa Nhà nước và người bị thiệt hại.
664


s o SÁNH TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG.

thì khái niệm "người thi hành công vụ" được hiểu theo nghĩa rộng, tức là bao hàm
mọi chủ thể thực thi nhiệm vụ công. Theo Điều 3 khoản 1 câu 1 Luật TNBTCNN,
các cá nhân được giao quyền thực hiện chức năng nhiệm vụ công cũng được coi là
"người thi hành công vụ".
Trong Luật TNBTCNN, nhà làm luật Việt Nam sử dụng thuật ngữ "hành vi
trái pháp luật cùa ngicời thi hành công vụ" (Điều 6 khoán 1 mục a Luật TNBTCNN).
Một hành vi được coi là trái pháp luật khi người thi hành công vụ không thực hiện
hoặc thực hiện không đúng các qui phạm thuộc Điều 13, 26, 28, 38 và 39 Luật
TNBTCNN cũng như các qui phạm liên quan khác. Điều kiện tiếp theo là hành vi
trái pháp luật của người thi hành công vạ phải được xác nhận bởi một quyết định
của cơ quan Nhà nước cỏ thẩm quyền theo Điều 3 khoản 3 Luật TNBTCNN. N hu
đã nêu ờ trên, Luật TNBTCNN Việt Nam liệt kê các hành vi trái pháp luật của
người thi hành công vụ trong lĩnh vực hành chính, tổ tụng hình sự, dân sự và hành
chính, cũng như lĩnh vực thi hành án dân sự và hình sự. Vói cách liệt kê đó, Điều 13
Luật TNBTCNN thiếu rất nhiều lĩnh vực quan trụng thuộc phạm vi điều chỉnh của
lĩnh vực hành chính như xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng, hôn
nhân gia đình, giao thông, tư pháp, giáo dục và đào tạo, an ninh quốc phòng, y tế,
v.v... Điều 26 Luật TNBTCNN cũng không bao quát toàn bộ lĩnh vực tổ tụng,
không bao gồm các lĩnh vực tố tụng khác như tố tụng kinh tế, tổ tụng lao động...,
không bồi thường cho những trường hợp bị xử lý "sai" ưong tố tụng.
1.3. Quan điểm của tác giả

1.3.1. Theo pháp luật Đức

thành phố A hướng dẫn chỉ đạo cho Chủ tịch của m ột quận trực thuộc B ban hành
một quyết định trái luật, trong đó có liên hệ với lợi ích của m ột bên thứ ba ậà công
dân). Vấn đề này hiện ở Đức còn nhiều ý kiến khác nhau. Tác giả bài viết cho rằng,
cần chia thành hai khả năng:
- Khả năng thứ nhất: Nếu vị Chủ tịch quận này thực hiện đúng theo hướng dẫn
trái luật của Chủ tịch thành phố và thông qua việc ban hành quyết định này gây thiệt
hại cho bên thứ ba. Trường hợp này là trái luật, nhưng không vi phạm nghĩa vụ
công vụ. Trách nhiệm, theo tác giả bài viết, sẽ không thuộc về vị Chủ tịch quận B
bởi lẽ vị Chủ tịch B này đã thực hiện đúng những yêu cầu của cấp trên, mà trách
nhiệm sẽ thuộc về người đã ban hành hướng dẫn đó, trong trường hợp này là Chủ
tịch thành phố A.
- Khả năng thứ hai: Nếu vị Chủ tịch quận này không thực hiện theo đúng
hướng dẫn của vị Chủ tịch thành phổ. Hệ quả là ở quan hệ bên trong, Chủ tịch quận
này đã vi phạm nghĩa vụ công vụ, chứ không phải là một vi phạm pháp luật ở quan
hệ bên ngoài với người bị thiệt hại. Trường hợp này đương nhiên không phát sinh
trách nhiệm bồi thường nhà nước.

l.Ossenbiihl, 1998, Staatshaftungsrecht, 5. Aufl., s. 35; BGH, Urteil des Dritten Zivilsenats,
V. 12.7.1979, III ZR 102/78, BGHZ 75, 134 (136); BGH, Urteil des Dritten Zivilsenats,
V. 28.10.1982, III ZR 206/80, BGHZ 85, 225 (228).
l.Wincithorst, in: DetterbeckAVindthorsƯSproll, Staatshaftungsrecht, 2000, §9, Rn. 18;
Maurer, Allgemeines Vervvaltungsrecht, 18. Aufl., 2011, § 26, Rn 13.

3.BGH, Urteil des Dritten Zivilsenats, V . 21.1.1993, III ZR 189/91, BGHZ 121, 161 (164 f.);
Maurer, Staatsrecht I, 6. Aufl., 2010, § 26, Rn 13.
4.BGH, Urteil des Dritten Zivilsenats, V . 21.1.1993, III ZR 189/91, BGHZ 121, 161 (164 f.);
Windthorst, in: Detterbeck/Windthorst/Sproll, Staatshaftungsrecht, 2000, § 9, Rn. 18, Fn. 38;
Ossenbủhl, Staatshaflungsrecht, 5. Aufl., 1998, s. 22.
666


cơ quan hành chính dó không có quan hệ trực thuộc và thực hiện những chức năng,
nhiệm vụ công khác nhau4.

1. Ahrens, 2009, Staatshaftungsrecht, Rn. 45; Sodan/Ziekow, 2012, Grundkurs Õjfentliches
Recht, 5. Aufl., § 86, Rn. 12.

2. Sodan/Ziekow, 2012, Grundkurs Ồffentliches Recht, 5. Aufl., § 86, Rn, 13.
3. Detterbeck, 2012, Alỉgemeines Verwaltungsrecht mit Verwaltungsprozessrecht, 10. Aufl.,
§ 21, Rn. 1075.
4. Detterbeck, 2012, Allgemcines Venvaitunẹsrecht mit Verwaltungsprozessrecht, 10. Aufl.,
§21, Rn. 1075.
667


VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ LÀN THỬ T ư

2.2. Theo pháp luật Việt Nam
Điều 2 Luật TNBTCNN1 không sử dụng thuật ngữ "bên thứ ba", mà sử dụng
thuật ngữ "người bị thiệt hại". Cá nhân, tổ chức được coi là người bị thiệt hại khi
thuộc một trong các trường hợp được qui định tại các Điều 13, 26, 28, 38 và 39 của
Luật này. Khác với luật Đức, nhà làm luật Việt Nam giới hạn phạm vi "người bị
thiệt hại" bằng cách liệt kê các trường hợp cụ thể ở trong luật.
2.3. Quan điểm của tác giả

2.3.1. Theo pháp luật Đức
Phạm vi bồi thường theo Luật trách nhiệm bồi thường công vụ của Đức không
bao quát những vi phạm trong lĩnh vực lập pháp2. Có m ột ngoại lệ về khái niệm bên
thứ ba đối với các qui hoạch xây dựng (Bebauungsplan - theo Điều 1 khoản 2
trường hợp 2 Điều 8 Luật xây dựng). Theo đó, m ột qui hoạch xây dựng được coi
như là một văn bản qui phạm hướng dẫn (Satzung - Điều 10 khoản 1 Luật xây

không thể trở thành bên thứ ba theo nghĩa là chủ thể bị thiệt hại. Hay nói cách khác,
luật Việt Nam chưa lường tính đến hav chưa có qui định cụ thể về vấn đề này.
3. Lỗi (V erschulden)

3.1. Theo pháp luật Đức
Theo qui định tại Điều 839 khoản 1 câu 1 BLDS Đức thì điều kiện lỗi của
người thi hành công vụ là một trong những điều kiện bắt buộc của quyền yêu cầu
bồi thường nhà nước. Điều 276 khoản 2 BLDS Đức định nghĩa rằng để xác định lỗi
vô ý phải căn cứ vào nhận thức và khả năng của những công chức ở mức trung bình
("pflichtgetreue Durchschnittsbeamte”) để xác định. Tác giả Detterbeck giải thích
rằng lỗi theo nghĩa của Điều 839 BLDS Đức chi trong mổi liên hệ với hành vi vi
phạm nghĩa vụ công vụ, chứ không phải trong mối liên hệ với thiệt hại hay là quan
hệ nhân quả.

3.2. Theo pháp luật Việt Nam
Vấn đề lỗi theo Luật TNBTCNN ở Việt Nam hiện nay rất đáng bàn. Điều 6
khoản 1 và 2 Luật TNBTCNN không coi yếu tổ lỗi là điều kiện bắt buộc, bởi lẽ điều
khoản này chỉ qui định điều kiện "hành vi trái pháp luật". Hành vi trái pháp luật
theo pháp luật Việt Nam chỉ là một trong những dấu hiệu cơ bản để nhận biết vi
phạm pháp luật (Rechtsverletzung), đó là yếu tố thuộc mặt khách quan của một vi
phạm pháp luật.
Nhà làm luật Việt Nam khi xây dựng Luật TNBTCNN có mong muốn rất tiến
bộ rằng nên coi TNBTCNN là một dạng cụ thể của trách nhiệm bồi thường ngoài
hợp đồng, tức là xác định TNBTCNN không phụ thuộc vào yếu tố lỗi. Tuy nhiên dù
cho Điều 6 không trực tiếp qui định điều kiện lỗi của người thi hành công vụ nhưng
lại đặt điều kiện ở Điều 3 khoản 3, Điều 6 khoản 1 mục a Luật TNBTCNN rằng:
phải có "văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ là
quyết định giải qưyết khiếu nại, tổ cáo của người cỏ thẳm quyền giải quyết khiếu
nại, tổ cáo
Điều 2 Khoản 1 Luật tố cáo không sử đụng khái niệm "trái pháp

Việt Nam.
Lỗi tổ chức: Trong lĩnh vực TNBTCNN ở Đức có một trường hợp xảy ra khá
phổ biến là Lồi tổ chức (Organisaíionsverschulden'ỷ Trưởng hợp này xảy ra khi
bên thứ ba chịu thiệt hại do hành vi công quyền của một cơ quan Nhà nước cụ thể
gây ra, nhưng không xác định được người thi hành công vụ cụ thể nào có lỗi, mà lỗi
ià do công tác tổ chức và điều hành của cơ quan đó2. Trong trường hợp này, luật
Đức xác định cơ quan công quyền gâv ra thiệt hại cho bên thứ ba có nghĩa vụ phải
bồi thường, bất luận là có tìm ra người có lỗi cụ thể hay không. Tác giả cho rằng
đây là một qui định tiến bộ, theo hướng TNBTCNN không phụ thuộc vào yếu tố lỗi
của người thi hành công vụ, nên được tham khảo trong quá trình hoàn thiện pháp
luật Việt Nam.
4.
Thiệt hại và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm nghĩa vụ và
thiệt hại xảy ra

4.1. Theo pháp luật Đức
Điều kiện thiệt hại (Schaden) và mối quan hệ nhân quả (Kausalităt) là hai điều
kiện quan trọng của quyền yêu cầu bồi thường trách nhiệm bồi thường công vụ ở
Đức, được qui định ở Điều 839 BLDS Đức3. Thiệt hại bao gôm cả những thiệt hại
tài sản và thiệt hại phi tài sản. Phạm vi bồi thường trách nhiệm bồi thường công vụ
theo pháp luật Đức căn cứ vào các Điều 249, 252, 253 BLDS khá rộng và chi tiết.
Việc bồi thường bao gồm toàn bộ những thiệt hại phát sinh, bao gồm bồi thường
bằng tiền đối với những thiệt hại vật chất (Điểu 249 BLDS Đức), bồi thường do mất
cơ hội kinh doanh, đầu tư (ein entgangener Gewinn - Điều 252 BLDS Đức), bồi
thường cho những tổn thương về tinh thần - tiền đau thương (Điều 253 khoản 2
BIDS Đức).

4.2. Theo pháp luật Việt Nam
Luật TNBTCNN Việt Nam không làm rõ khái niệm mối quan hệ nhân quả
giữa hành vi trái pháp luật cùa người thi hành công vụ và thiệt hại. Hàng loạt các

cho trường hợp mất cơ hội kinh doanh và tiền đau thương căn cứ vào mức độ thiệt
hại giống với luật Đức cho hai trường hợp này.

III.

NHỮNG VẨN ĐÈ ĐẶT RA CỦA LUẬT TRÁCH NHIỆM BỒI

THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM NĂM 2009
Cơ sở của quyền yêu cầu bồi thường là Điều 6 Luật TNBTCNN. Căn cứ xác
định TNBTCNN trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng dân sự, tổ tụng hành
chính và thi hành án (Điều 6 khoản 1 Luật TNBTCNN) bao gồm: "Có văn bản xác

định hành vi trải pháp luật của người thi hành công vụ của cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền xác định thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường quy định tại Luật
TNBTCNN; Có thiệt hại thực tế do hành vi trái pháp luật cùa người thi hành công
vụ gây ra đối với người bị thiệt hại. Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường trong
hoạt động tố tụng hình sự" (Điều 6 khoản 2 Luật TNBTCNN) bao gồm: "Có bản án,
quyết định cùa cơ quan Nhà nước có thấm quyền trong hoạt động tổ tụng hình sự
xác định thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường quy định tại Điều 26 Luật
TNBTCNN; Có thiệt hại thực tế đổi với người bị thiệt hại do người tiến hành tổ
tụng hình sự gây ra trong trường hợp qicy định tại Điều 26 Luật TNBTCNN".
Điều 72, 74 Hiến pháp Việt Nam 1992 qui định về quyền yêu cầu bồi thường
thiệt hại của công dân, nhưng lại không nêu rõ chủ thể nào có nghĩa vụ bồi thường.
Điều 1 Luật TNBTCNN đề cập đến "trách nhiệm bồi thường của nhà nước", nhưng
672


s o SÁNH TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG...

thực tế tại Điều 3 khoản 4, Điều 4 khoản 1 Luật TNBTCNN lại chuyển giao trách

- Điều kiện TNBTCNN theo Điều 6 khoản 1 và khoản 2Luật TNBTCNN khá
phức tạp, đặc biệt là yêu cầu phải có văn bản của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật, đồng thời thuộc phạm
vi bồi thường của Luật. Cơ quan có trách nhiệm bồi thường là cơ quan trực tiếp
quản lý người thi hành công vụ. Điểm mâu thuẫn có thể dễ dàng thấy ngay là quan
hệ giữa người thi hành công vụ và cơ quan có trách nhiệm bồi thường là quan hệ

bên trong, trong khi đó TNBTCNN là quan hệ bên ngoài giữa Nhà nước và người bị
thiệt h ạ i. Điều này dẫn đến hệ quả:

673


VIỆT NAM HỌC - KỶ YÉU HỘI THẢO QUỐC TÉ LÀN THỨ TƯ

• Do tính chất quan hệ trực thuộc (quan hệ bên trong), nên cơ quan quản lý
trực tiếp người thi hành công vụ hoặc cơ quan N hà nước có thẩm quyền xác định
hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ theo Điều 6 Luật TNBTCNN sẽ
khó đảm bảo tính chất khách quan;
• Với qui định người bị thiệt hại phải thu thập hồ sơ, chứng cứ xác định hành
vi trái pháp luật của người thi hành công vụ (Điều 9 khoản 2 Luật TNBTCNN) gây
khó cho người dân, bởi lẽ việc tiếp cận với các văn bản hành chính từ phía bên
ngoài đối với các cơ quan công quyền ở Việt Nam luôn là vấn đề khó khăn;
- Điều 26 Luật TNBTCNN chỉ áp dụng cho những trường hợp bị oan trong tổ
tụng hình sự. Trong quá trình tố tụng, những trường hợp sai diễn ra phổ biến, nhưng
Luật TNBTCNN không qui định cho những trường hợp như vậy.
- Hàng loạt các khái niệm của Luật TNBTCNN không rõ ràng, ví dụ như hành
vi trái pháp luật của người thi hành công vụ (Điều 6, khoản 1 mục a Luật
TNBTCNN), cơ quan có trách nhiệm bồi thường (Điều 3 khoản 4 Luật TNBTCNN),
đối tượng được bồi thường (Điều 2 Luật TNBTCNN). Ngoài ra, nhà làm luật cũng


*

Trên cơ sở nghiên cứu, so sánh với pháp luật TNBTCNN Đức, tác giả cho
rằng cần tiếp tục hoàn thiện Luật TNBTCNN theo những nội dung cụ thể sau:
1. T rách nhiệm bồi thưòug của Nhà nưóc trự c tiếp theo nghĩa N hà nước
là chủ thế duy n h ất chịu trách nhiệm
Để tránh việc dùn đẩy trách nhiệm giữa các cơ quan Nhà nước trong quá trình
tiến hành bồi thường, nhà làm luật Việt Nam nên qui định rõ trong Hiến pháp và
trong Luật rằng người bị thiệt hại có quyền yêu cầu bồi thường chi đối với một chủ
thể duy nhất là Nhà nước. Hay nói cách khác, trách nhiệm bồi hoàn của người thực
thi công vụ vi phạm pháp luật cho Nhà nước ra sao là thuộc về quan hệ bên trong,
còn bản chất trách nhiệm bồi thường Nhà nước chi liên quan đến quan hệ bên ngoài

giữa một bên là người bị thiệt hại và một bên là Nhà nước. Đề xuất này, theo tác giả
bài viết là có ích, hời lẽ nó sẽ tránh được những tranh chấp về trách nhiệm bồi
thường giữa các cơ quan Nhà nước khác nhau, Ngoài ra, cần xác định rõ
TNBTCNN là một chế định của Luật công để phân biệt với các dạng bồi thường
của luật tư. Đê bảo vệ quyền lợi ngườỉ bị thiệt hại, thay vỉ qui định trách nhiệm
chứng minh thuộc về người bị thiệt hại như lâu nay, cần qui định ngược lại rằng
nghĩa vụ chứng minh việc thực hiện đúng các nghĩa vụ, không cỏ lỗi và không gây
ra thiệt hại cho bên thứ ba thuộc nghĩa vụ của người thi hành công vụ.
2. Phân biệt giữa trác h nhiệm bồi thường của N hà nướ c trự c tiếp và các
quyền yêu cầu bồi thư ờ ng khác theo lu ật dân sự
Như trên đã nêu, các Điều 619, 620 BLDS Việt Nam 2005 tồn tại song song
với Luật TNBTCNN là một mâu thuẫn lớn. Tác giả cho rằng nhà làm luật Việt Nam
nên có một qui định nêu rõ mối quan hệ giữa các Điều 619, 620 BLDS Việt Nam và
Luật TNBTCNN, trong đó xác định rõ TNBTCNN không thuộc lĩnh vực luật dân
sự, bởi lẽ trách nhiệm này chi phát sinh khi người thực thi công vụ nhân danh Nhà
nước thực thi chức năng, nhiệm vụ pháp luật qui định.

vệ lợi ích của Nhà nước chứ không phải người bị thiệt hại. Nhà làm luật cần sử
dụng thống nhất khái niệm "hành vi trải nghĩa vụ pháp luật của người thi hành

công vụ" trong luật, để thể hiện rõ quan hệ bồi thường là quan hệ bên ngoài giữa
Nhà nước và công dân. Hành vi vi phạm ở đây là hành vi trái nghĩa vụ pháp luật
(quan hệ bên ngoài) chứ không phải trái với nghĩa vụ công vụ giữa người thi hành
công vụ với cấp trên của m inh (quan hệ bên trong).
Người bị thiệt hại nên được định nghĩa lại trong luật, theo đó các cá nhân, tổ
chức được coi là người bị thiệt hại khi phải chịu các thiệt hại về vật chất hoặc tinh
thần do hành vi vi phạm nghĩa vụ pháp luật của người thi hành công vụ gây ra.
5. Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước không phụ thuộc vào yếu tố lỗi
Để bảo vệ quyền lợi của người bị thiệt hại, tác giả bài viết cho rằng yếu tố lỗi
không nên là một điều kiện bắt buộc thuộc căn cứ xác định TNBTCNN. Luậl
TNBTCNN nên bãi bỏ những điều kiện không phù hợp của Điều 6 khoản 1 Luật
TNBTCNN, đồng thời nên tham khảo các quỉ định của luật Đức như:
-

Nếu hành vi của người thi hành công vụ m à trái luật nhưng không vì phạm

nghĩa vụ công vụ, ví dụ ban hành quyết định đo thực hiện hướng dẫn của cấp trên
mà hướng dẫn đó trái luật. Trường hợp này, người bị thiệt hại có quyền yêu cầu bồi
thường đối với Nhà nước và Nhà nước yêu cầu bồi hoàn đối với cấp trên đã ban
676


s o SÁNH TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG...

hành văn bản trái luật đó, chứ không phải đối với công chức thực hiện nhiệm vụ cấp
trên giao cho.
- Đối với những tình huống phức tạp. gây nhiều tranh cãi, người thi hành công


giữa hành vi vi phạm nchĩa vụ pháp luật của người thực thi công vụ và hậu quả có
mối quan hệ nhân quả.

6 77


VIỆT NAM HỌC - KỶ YÉU HỘI THẢO QUỐC TÉ LÀN THỨ T ư

Tóm lại, một đạo luật nói chung cũng như Luật TNBTCNN ở Việt Nam nói
riêng chỉ thành công khi những đạo luật này được thực thi hiệu quả trên thực tế.
Những gì được qui định ở trong luật TNBTCNN là m ột vấn đề. Việc thi hành
được không và thi hành như thể nào những điều khoản đã được thông qua lại là
một vấn đề khác. Tác giả bài viết cho rằng những yếu tố có tính chất quyết định
nhất là điều kiện kinh tế, hệ thống chính trị, sự độc lập của Tòa án, chất lượng
công chức cũng như tập quán và nhận thức pháp luật của người dân. N hững yếu tố
này cần phải được dần hoàn thiện, bổ khuyết, một cách song hành, đồng bộ với
những đề xuất nêu trên.

678




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status