Trách nhiệm của công chức trong hoạt động công vụ theo pháp luật việt nam hiện nay - Pdf 61

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ THU HIỂN

TR¸CH NHIÖM CñA C¤NG CHøC TRONG HO¹T §éNG
C¤NG Vô
THEO PH¸P LUËT VIÖT NAM HIÖN NAY
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật
Mã số: 60 38 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS. TS. NGUYỄN NGỌC ANH


HÀ NỘI - 2014


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã
hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN


.................................................................................................................
6. Những điểm mới và đóng góp của luận văn..............................................
Chương 1..................................................................................
NHẬN THỨC CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA CÔNG
CHỨC TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG VỤ......................................
1.1. Khái niệm, đặc điểm, phân loại công chức ở Việt Nam........................
1.2. Khái niệm, đặc điểm và các dạng trách nhiệm của công
chức trong hoạt động công vụ..............................................................
1.3. Yêu cầu về trách nhiệm pháp lý của công chức trong thời
đại ngày nay.........................................................................................
Kết luận chương 1..................................................................
Chương 2................................................................................
THỰC TRẠNG VÀ ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN PHÁP
LUẬT.......................................................................................
VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA CÔNG CHỨC.......................................
TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG VỤ...............................................
2.1. Thực trạng thực hiện trách nhiệm của công chức trong hoạt
động công vụ........................................................................................
2.2. Đánh giá tình hình thực thi trách nhiệm công vụ của công
chức hiện nay.......................................................................................
Kết luận chương 2..................................................................
Chương 3................................................................................


NHỮNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA
CÔNG CHỨC...........................................................................
TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG VỤ...............................................
3.1. Dự báo tình hình và nhu cầu hoàn thiện các quy định pháp
luật về trách nhiệm của công chức trong hoạt động công

phù hợp với chủ trương cải cách hành chính. Công tác pháp điển hóa về
trách nhiệm pháp lý, nhất là trách nhiệm kỷ luật và trách nhiệm vật chất của
công chức tuy đã được chú trọng, nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu của
thực tiễn. Việc áp dụng các quy định pháp luật về trách nhiệm của công chức
ở nhiều nơi, nhiều lúc còn chưa nghiêm, thiếu tính thống nhất, kỷ cương, kỷ
luật lỏng lẻo. Vì vậy, việc nghiên cứu, tổng kết thực tiễn để đề xuất các giải
pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động thực thi quy định


của pháp luật về trách nhiệm của công chức trong giai đoạn hiện nay đang là
một yêu cầu cấp thiết của thực tiễn.
Ở bình diện lý luận, cho đến nay mới chỉ có một số công trình nghiên
cứu có liên quan đến trách nhiệm của công chức trong hoạt động công vụ.
Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên sâu, toàn diện
các quy định của pháp luật Việt Nam về trách nhiệm của công chức trong hoạt
động công vụ.
Với những lý do nêu trên, việc tác giả đã chọn đề tài "Trách nhiệm của
công chức trong hoạt động công vụ theo pháp luật Việt Nam hiện nay" làm
luận văn thạc sĩ luật học là có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
2. Tình hình nghiên cứu theo quan điểm đề tài
- Ở nước ngoài: đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề trách nhiệm
pháp lý nói chung, trách nhiệm pháp lý của công chức nói riêng. Các khía
cạnh khác nhau của trách nhiệm pháp lý của công chức như: khái niệm, mục
đích, cơ sở, đặc điểm, các hình thức trách nhiệm và thủ tục áp dụng trách
nhiệm pháp lý của công chức đã được đề cập đến trong các công trình, báo
cáo của một số tác giả, như Lazarev B.M với cuốn sách Cơ sở pháp lý của
trách nhiệm trong quản lý ở Liên xô và Cộng hòa dân chủ Đức (Mátxcơva,
năm 1986) và bài Đặc điểm trách nhiệm của những người có chức vụ trong
cuốn sách Liên xô - Cộng hòa dân chủ Đức: Chế độ công vụ (Mátxcơva, năm
1986), Aduskin I.C với cuốn sách Thủ tục kỷ luật ở Liên xô (Saratop, năm

Thiện Sơn về trách nhiệm pháp lý của người có chức vụ trong quản lý ở Việt
Nam (luận án phó tiến sĩ luật học năm 1989),... Nhìn chung, việc nghiên cứu của
các tác giả được quan tâm ở những góc độ khác nhau của phạm trù pháp lý được
xem xét, nhưng chưa nghiên cứu một cách toàn diện vấn đề trách nhiệm pháp lý
của công chức, nhất là trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa Việt Nam hiện nay. Do đó, việc nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống
và sâu sắc vấn đề trên là việc làm có ý nghĩa quan trọng về lý luận và thực tiễn.


3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
- Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn về trách
nhiệm của công chức trong hoạt động công vụ theo pháp luật Việt Nam, qua
đó đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện pháp luật về công chức và nâng cao
hiệu quả của công chức Việt Nam trong thời gian tới
- Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu nêu trên, luận văn đặt ra và
giải quyết các nhiệm vụ cụ thể sau đây:
+ Phân tích, làm rõ các quy định pháp luật hiện hành về trách nhiệm
của công chức trong hoạt động công vụ;
+ Làm rõ các luận cứ khoa học góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật
về trách nhiệm của công chức trong hoạt động công vụ; đánh giá thực trạng.
+ Phân tích pháp luật về công chức chỉ ra những ưu-nhược điểm của
pháp luật về công chức từ thực tiễn áp dụng;
+ Tổng hợp kết quả nghiên cứu đề ra phương hướng, mục tiêu và các giải
pháp góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả việc thực thi pháp luật
về trách nhiệm của công chức trong hoạt động công vụ.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn: là trách nhiệm của công chức
trong hoạt động công vụ theo quy định của pháp luật Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn: luận văn nghiên cứu về trách nhiệm
của công chức trong hoạt động công vụ theo quy định của pháp luật Việt

Chương 1. Nhận thức chung về trách nhiệm của công chức trong hoạt
động công vụ
Chương 2. Thực trạng quy định pháp luật và thực hiện pháp luật về
trách nhiệm của công chức trong hoạt động công vụ
Chương 3. Những giải pháp hoàn thiện pháp luật và thực hiện pháp
luật về trách nhiệm của công chức trong hoạt động công vụ


Chương 1
NHẬN THỨC CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA CÔNG CHỨC
TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG VỤ
1.1. Khái niệm, đặc điểm, phân loại công chức ở Việt Nam
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm
Khái niệm công chức được hiểu khác nhau giữa các quốc gia do có sự
khác biệt về hệ thống chính trị; tổ chức bộ máy nhà nước; sự phát triển kinh tế xã hội; tính truyền thống và các yếu tố văn hóa lịch sử. Tuy nhiên, ở nhiều quốc
gia, đặc điểm chung của công chức thường được hiểu là: là công dân của nước
đó; được tuyển dụng qua thi tuyển hoặc xét tuyển; được bổ nhiệm vào một
ngạch, một chức danh hoặc gắn với một vị trí việc làm; được hưởng lương từ
ngân sách nhà nước.
Ở Việt Nam, ngay từ sau khi nước Việt Nam dân củ cộng hòa ra đời Chủ
tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 ban hành Quy chế công
chức, trong đó khái niệm công chức Việt Nam chỉ được xác định trong phạm vi
các cơ quan Chính phủ. Theo Sắc lệnh số 76/SL, những công dân Việt Nam
được chính quyền nhân dân tuyển dụng, giao giữ một chức vụ thường xuyên
trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là công chức theo
Quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định (Điều 1,
Sắc lệnh số 76/SL). Đến năm 1998, khi Pháp lệnh Cán bộ, công chức được ban
hành, những người làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị của Đảng, Nhà
nước, đoàn thể được gọi chung trong một cụm từ là "cán bộ, công chức".
Công chức Việt Nam được hiểu theo khoản 2 Điều 4 Luật cán bộ, công

- Bảo đảm thứ bậc hành chính và sự phối hợp chặt chẽ [11].
1.1.2. Phân loại công chức
Theo Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 quy định những


người là công chức (Nghị định số 06/NĐ-CP):
Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm
vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân
sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp
công lập theo quy định của pháp luật, làm việc trong các cơ quan, tổ
chức, đơn vị của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội và bộ
máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập [2].
Công chức có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau tuỳ thuộc vào
mục đích phân loại. Ở Việt Nam có một số cách phân loại công chức cơ bản sau:
* Căn cứ vào ngạch được bổ nhiệm, công chức được phân thành loại A,
loại B, loại C và loại D, cụ thể như sau:
- Loại A gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên cao
cấp hoặc tương đương;
- Loại B gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên
chính hoặc tương đương;
- Loại C gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên hoặc
tương đương;
- Loại D gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch cán sự hoặc
tương đương và ngạch nhân viên.
* Căn cứ vào vị trí công tác, công chức được phân loại như sau:
- Công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý;
- Công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
* Phân loại theo ngành, lĩnh vực: bao gồm lĩnh vực hành chính, kinh
tế, xây dựng, luật,…
Ngoài ra, công chức còn có thể được phân loại theo trình độ đào tạo

- Chủ thể thực thi công vụ là cán bộ, công chức.


- Hoạt động công vụ không chỉ thuần tuý mang tính quyền lực nhà nước,
mà còn bao gồm cả hoạt động của các tổ chức do nhà nước thành lập (được
nhà nước uỷ quyền) để phục vụ các nhu cầu của nhân dân. Các hoạt động này
đều do cán bộ, công chức nhân danh nhà nước tiến hành. Bao gồm các hoạt
động nhân danh quyền lực nhà nước và các hoạt động của các tổ chức được
nhà nước uỷ quyền. Ở các nước trên thế giới, khi đề cập đến công vụ, người ta
ít nói đến yếu tố quyền lực nhà nước mà thường chỉ nói tới công chức nhân
danh pháp luật hoặc nhân danh nhà nước mà thôi. Bởi lẽ, pháp luật là công cụ
chính, chủ yếu do Nhà nước ban hành. Ngoài ra, ở Việt Nam do đặc thù về thể
chế chính trị nên hoạt động công vụ còn bao gồm cả hoạt động của cán bộ,
công chức trong các cơ quan của Đảng, của tổ chức chính trị - xã hội.
- Công vụ được tiến hành theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được
Nhà nước giao và tuân theo pháp luật.
- Hoạt động công vụ mang tính thường xuyên, chuyên nghiệp.
Trách nhiệm công vụ là một khái niệm mang tính chính trị, tạo nên hình
ảnh của chế độ, của Nhà nước trong mắt người dân. Đó là việc cán bộ, công
chức tự ý thức về quyền và nhiệm vụ được phân công cũng như bổn phận
phải thực hiện các quyền và nhiệm vụ đó. Trách nhiệm trong hoạt động công
vụ của cán bộ, công chức có mối quan hệ chặt chẽ với kết quả công vụ. Kết
quả công vụ và trách nhiệm công vụ tạo nên hiệu lực, hiệu quả của các cơ
quan, tổ chức. Hai nhân tố này luôn có mối quan hệ biện chứng với nhau. Nếu
nói kết quả công vụ là điểm mục tiêu, là mong muốn của chủ thể quản lý thì
trách nhiệm công vụ là phương thức, cách thức để thực hiện mục tiêu của chủ
thể quản lý. Một nền công vụ hiệu lực, hiệu quả đều dựa trên cơ sở đề cao
tính trách nhiệm với tinh thần tận tuỵ, mẫn cán và làm tròn bổn phận của cán
bộ, công chức.
1.2.2. Các dạng trách nhiệm của công chức trong hoạt động công vụ


Không nên nhầm lẫn cho rằng trách nhiệm kỷ luật chỉ là một loại "xử lý nội
bộ" mà không có ý nghĩa pháp lý, trừ trường hợp "xử lý nội bộ" trong tổ chức
Đảng hay tổ chức xã hội khác, tức là không mang tính chất Nhà nước. Các
biện pháp xử lý kỷ luật này đúng là mang tính "xử lý nội bộ", không phải một
dạng trách nhiệm pháp lý.
Mặt khác, cần lưu ý trường hợp ngoại lệ của trách nhiệm kỷ luật. Đó là
trường hợp mà giữa cơ quan, tổ chức có thẩm quyền áp dụng đối với đối tượng
bị áp dụng trách nhiệm kỷ luật không có quan hệ trực thuộc với tổ chức, mà chỉ
trực thuộc dưới khía cạnh nào đó về mặt hành chính. Ví dụ, trách nhiệm kỷ luật
của học sinh, sinh viên, của những người sống trong ký túc xá,…
Những người có chức vụ hay các công chức ở những nghề nghiệp riêng
biệt, khi vi phạm các quy tắc đạo đức và danh dự nghề nghiệp dẫn đến hậu
quả xấu, ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan, ngành nghề cũng có thể bị xử lý
kỷ luật (ví dụ: Hải quan, giáo viên, bác sỹ, kiểm soát viên có hành động
không văn hóa…). Ở đây không cần tính đến yếu tố địa điểm và thời gian vi
phạm. Có thể những hành vi vi phạm đạo đức, danh dự nghề nghiệp đó được
thực hiện ngoài phạm vi cơ quan nhà nước, ngoài giờ làm việc, ở địa phương
hay bất kỳ ở địa điểm nào khác, nhưng người vi phạm vẫn có thể bị xử lý kỷ
luật. Do đó, trách nhiệm kỷ luật không chỉ được áp dụng đối với người vi
phạm kỷ luật lao động, vi phạm hoạt động công vụ. Nếu nói nhiệm vụ của các
chế tài kỷ luật chỉ là để bảo vệ những quan hệ lao động là đã thu hẹp một cách
không có cơ sở những khả năng trách nhiệm kỷ luật.
Khác với trách nhiệm hành chính và trách nhiệm hình sự, trách nhiệm
kỷ luật có thể áp dụng đồng thời với các dạng trách nhiệm pháp lý khác (hình
sự, hành chính, vật chất) đối với một công chức thực hiện một vi phạm, nếu
hành vi vi phạm kỷ luật đó đồng thời cũng là hành vi phạm tội hoặc vi phạm
hành chính hoặc gây tổn hại cho tài sản của Nhà nước hoặc của công dân.



gồm: vi phạm việc thực hiện nghĩa vụ, đạo đức và văn hóa giao tiếp của công
chức trong thi hành công vụ; những việc công chức không được làm quy định
tại Luật Cán bộ, công chức; vi phạm pháp luật bị Tòa án kết án bằng bản án
có hiệu lực pháp luật; vi phạm quy định của pháp luật về phòng, chống tham
nhũng; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; bình đẳng giới; phòng chống tệ
nạn mại dâm và các quy định khác của pháp luật liên quan đến công chức
nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Các trường hợp chưa
xem xét kỷ luật: Đang trong thời gian nghỉ hàng năm, nghỉ theo chế độ, nghỉ
việc riêng được người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị cho phép; đang
trong thời gian điều trị có xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền; Công
chức nữ đang trong thời gian mang thai, nghỉ thai sản, đang nuôi con dưới 12
tháng tuổi; đang bị tạm giữ, tạm giam chờ kết luận của cơ quan có thẩm
quyền điều tra, truy tố, xét xử về hành vi pháp luật. Các trường hợp được
miễn trách nhiệm kỷ luật: được cơ quan có thẩm quyền xác nhận tình trạng
mất năng lực hành vi dân sự khi vi phạm pháp luật; phải chấp hành quyết định
của cấp trên theo quy định tại khoản 5 Điều 9 Luật Cán bộ, công chức; được
cấp có thẩm quyền xác nhận vi phạm pháp luật trong tình thế bất khả kháng
khi thi hành công vụ. Hình thức kỷ luật: với công chức không giữ chức vụ
lãnh đạo, quản lý gồm có: khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, buộc thôi việc.
Với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý gồm: Khiển trách, cảnh cáo, hạ
bậc lương, giáng chức, cách chức, buộc thôi việc.
Thực hiện chủ trương này, các cơ quan đơn vị, ban ngành, các tỉnh đều
ban hành chỉ thị thực hiện kỷ cương chấp hành kỷ luật khi có hành vi vi phạm
để làm gương và đảm bảo sự nghiêm minh trong việc thực thi quyền hạn và
nghĩa vụ cụ thể là Ban Thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An và Chỉ thị số
10/2013/CT-UBND ngày 06/4/2014 của UBND tỉnh Nghệ An về tăng cường


kỷ luật, kỷ cương hành chính trong các cơ quan, đơn vị; ngày 05/12/2013;
ngày 19/8/2014, Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế đã ban hành Chỉ thị số

công vụ hoặc bị xử lý kỷ luật hoặc đã bị xử phạt hành chính. Ngoài một số
điều đã dẫn chứng ở phần trách nhiệm hành chính, Bộ luật hình sự năm 1985
và Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) dành một chương
riêng quy định về các tội phạm về chức vụ
Chủ thể áp dụng trách nhiệm kỷ luật là thủ trưởng cơ quan, đơn vị nơi
có người vi phạm. Còn chủ thể áp dụng trách nhiệm hình sự là Tòa án (cơ
quan xét xử). Giữa người có quyền áp dụng trách nhiệm hình sự với công
chức vi phạm không có quan hệ trực thuộc nhau về mặt tổ chức.
Xét về hình thức trách nhiệm, trách nhiệm hình sự mang tính trừng phạt
nặng hơn so với hình thức trách nhiệm kỷ luật. Việc áp dụng trách nhiệm hình
sự được tiến hành theo trình tự tố tụng hình sự. Còn trách nhiệm kỷ luật áp
dụng theo trình tự hành chính.
Như vậy, trách nhiệm hình sự là hình thức cưỡng chế bên ngoài quan
hệ công vụ, còn trách nhiệm kỷ luật là hình thức cưỡng chế trong nội bộ cơ
quan, tổ chức nhà nước nhất định hoặc trong hệ thống của chúng, nghĩa là có
trực thuộc về mặt tổ chức. Tuy nhiên, hai loại trách nhiệm trên có quan hệ với
nhau rất chặt chẽ. Căn cứ vào mức độ thiệt hại do vi phạm kỷ luật gây ra mà
có thể có sự chuyển hóa từ trách nhiệm kỷ luật sang trách nhiệm hình sự.
Đối tượng bị xử lý kỷ luật, xử lý hình sự theo quy định của Điều 68
Luật phòng chống tham nhũng (2005) như sau:
1. Người có hành vi tham nhũng quy định tại Điều 3 của Luật này.
2. Người không báo cáo, tố giác khi biết được hành vi tham nhũng.
3. Người không xử lý báo cáo, tố giác, tố cáo về hành vi tham nhũng.
4. Người có hành vi đe doạ, trả thù, trù dập người phát hiện,


báo cáo, tố giác, tố cáo, cung cấp thông tin về hành vi tham nhũng.
5. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra hành vi
tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ
trách.

quản lý xã hội. Nghiêm trọng hơn, các tội phạm về chức vụ gây mất niềm tin
của nhân dân lao động đối với Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ
nghĩa đặc biệt trong bối cảnh Đảng ta là Đảng cầm quyền. Chính vì vậy, Bộ
luật hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009) đã dành trọn chương XXI
của Bộ luật để quy định tội phạm về chức vụ. Các tội phạm về chức vụ quy
định trong chương này là các tội phạm có tính chất bao trùm đối với hành vi
phạm tội xảy ra ở các lĩnh vực hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc tổ chức
xã hội và được thực hiện bởi người có chức vụ.
Điều 277 Bộ luật hình sự năm 1999 (sử đổi bổ sung năm 2009) quy
định: “Các tội phạm về chức vụ là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng
đắn của cơ quan, tổ chức do người có chức vụ thực hiện trong khi thực hiện
công vụ” [13]. Người có chức vụ nói trên đây là người do bổ nhiệm, do dân
cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không
hưởng lương, được giao thực hiện một công vụ nhất định và có quyền hạn
nhất định trong khi thực hiện công vụ.
Từ quy định trên cho thấy, khái niệm "người có chức vụ" trong luật
hình sự được hiểu khá rộng, dường như là bất cứ người thực thi công vụ nào,
tức là bất cứ công chức nào. Do đó, công chức nhà nước với tư cách là chủ
thể của các tội phạm về chức vụ không những phải chịu trách nhiệm hình sự
như mọi công dân khác khi vi phạm những điều luật cấm, mà còn phải chịu
trách nhiệm với tư cách người có chức vụ. Điều này có ý nghĩa lớn trong việc
đảm bảo nguyên tắc công bằng trong luật hình sự cũng như việc tăng cường


pháp chế xã hội chủ nghĩa, tăng cường trách nhiệm của công chức, giúp cho
mọi người nhân thức được rằng luật không loại trừ một ai nếu có vi phạm
pháp luật thì đều bị xử lý, và người nào có quyền hạn càng cao thì trách
nhiệm càng cao. Thực ra, đây cũng là biểu hiện cụ thể của nguyên tắc công
bằng, cũng là đặc điểm cần phải có của pháp luật trong nhà nước pháp quyền.
Nghiên cứu các quy định về tội phạm có chức vụ, có thể thấy những


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status