ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM HỒNG MINH HOÀNG
CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG
TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật dân sự
Mã số: 60 38 30
HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Phương Lan
HÀ NỘI - 2013
LỜI CAM ĐOAN
T ô i xi n ca m đ o a n đ â y l à cô n g t r ì n h n g h i ên cứu kh o a h ọ c
củ a r i ên g t ô i . Cá c s ố l i ệu , v í d ụ và t r í ch d ẫ n t r o n g Lu ậ n vă n đ ả m b
ả o đ ộ t i n cậ y , ch í n h xá c và t r u n g t h ự c . Nh ữ n g kết l u ậ n kh o a h ọ c c ủ
a L u ậ n v ă n c h ư a t ừ n g đ ư ợc a i c ô n g b ố t r o n g b ấ t k ỳ c ô n g t r ì n h n à o
kh á c .
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Phạm Hồng Minh Hoàng
1.2
Đặc điểm của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.... 18
1.2.1
Cách phân chia đặc biệt..................................................................... 18
1.2.2
Không làm chấm dứt quan hệ hôn nhân trước pháp luật .................. 19
1.2.3
Làm thay đổi căn cứ xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ
chồng trong thời kỳ hôn nhân............................................................ 21 Ý
1.3
nghĩa của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân ...... 22
1.4
Pháp luật của một số nước về chia tài sản chung của vợ
chồng trong thời kỳ hôn nhân ........................................................ 24
1.4.1
Pháp luật Dân sự Pháp....................................................................... 25
2 .4
P h ương th ức c hi a tà i s ả n ch ung của v ợ chồ ng t ro ng thời
kỳ hôn nhân ..................................................................................... 52
2.4.1
Chia một phần tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân ...... 52
2.4.2
Chia toàn bộ tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân...... 54
2.5
Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung trong thời kỳ
hôn nhân ........................................................................................... 55
2.5.1
Về nhân thân...................................................................................... 55
2.5.2
Về tài sản ........................................................................................... 62
2.6
Khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng sau khi chia
Một số vấn đề tồn tại cần giải quyết trong việc công chứng văn
bản thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân................ 92
3.2
Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và đảm bảo hiệu quả của
việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân ......... 97
3.2.1
Hoàn thiện pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng trong
thời kỳ hôn nhân ................................................................................ 97
3.2.2
Những điều cần chú ý khi giải quyết việc chia tài chung của vợ
chồng trong thời kỳ hôn nhân.......................................................... 103
3.2.3
Một số biện pháp nhằm đảm bảo hiệu quả việc chia tài chung
trong thời kỳ hôn nhân .................................................................... 105
KẾT LUẬN .................................................................................................. 108
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................... 110
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLDS
nhân và gia đình
n
ă
m
2
0
0
0
Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP Nghị quyết số
02/2000/ NQ-HĐTP
ngày 23/12/2000
của Hội đồng
thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao hướng
dẫn áp dụng một số
quy định của Luật
Hôn nhân và Gia đình
năm 2000
Nghị quyết
số
35/2000/Q
H10
Nghị quyết
số
35/2000/Q
H10 ngày
9/6/2000 của Quốc hội
nước Cộng hòa xã
sống chung của gia đình. Từ thực tiễn cho thấy, khi hôn nhân còn tồn tại vợ chồng
có thể xác lập rất nhiều giao dịch liên quan đến
1
tài sản và sẽ không thể tránh khỏi những rủi ro như một bên kinh doanh thua
lỗ, dẫn đến phá sản,… Việc giải quyết hậu quả của những rủi ro này trong nhiều
trường hợp có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế của cả gia đình, ảnh
hưởng đến các điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con cái, ảnh hưởng đến lợi ích
của những người khác có liên quan đến tài sản chung của vợ chồng. Do vậy,
quy định về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân sẽ góp phần ổn định các
quan hệ hôn nhân gia đình, tạo cơ sở pháp lý thực hiện các quyền và nghĩa vụ tài
sản của vợ chồng. Bên cạnh những kết quả đạt được, một số quy định và việc áp
dụng chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân còn khá nhiều bất
cập và vướng mắc cần phải giải quyết.
Từ thực tiễn nêu trên, đề tài của Luận văn đề cập đến "Chia tài sản
chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo pháp luật Việt Nam".
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Gia đình có vị trí và vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội
nên các vấn đề liên quan đến HN&GĐ luôn được nhiều độc giả cũng như các
nhà lập pháp quan tâm. Do đó đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về các
quy định của Luật HN&GĐ nói chung và việc chia tài sản chung của vợ
chồng trong thời kỳ hôn nhân nói riêng. Tuy nhiên, việc chia tài sản chung
trong thời kỳ hôn nhân chỉ được nghiên cứu chung trong các các công trình
nghiên cứu về chia tài sản chung của vợ chồng hoặc một vài nghiên cứu chỉ
tập trung nghiên cứu một vài khía cạnh cụ thể của vấn đề này.
Một số luận văn, luận án đã có nghiên cứu một phần về vấn đề này, tiêu
biểu như "Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt
Nam", Luận án tiến sĩ Luật học của tác giả Nguyễn Văn Cừ (2005). Luận án
2007; Tập bài giảng Luật Hôn nhân và gia đình, Trường Đại học Luật Thành
phố Hồ Chí Minh; Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình của Đại học Huế,
Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2003. Một số sách chuyên sâu như: Một số
3
vấn đề lý luận và thực tiễn về Luật HN&GĐ năm 2000 của hai tác giả Nguyễn
Văn Cừ và Ngô Thị Hường, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002; Chế độ tài sản
của vợ chồng theo pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam của Tiến sĩ
Nguyễn Văn Cừ, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2008; Bình luận khoa học Luật hôn
nhân và gia đình của tác giả Nguyễn Ngọc Điện, Nxb Trẻ, 2002, và còn có một số
sách và giáo trình khác nhưng chưa có công trình nào đi sâu phân tích các vụ
việc thực tế về việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Một số bài báo, tạp chí nghiên cứu về vấn đề này như: "Chia tài sản
chung của vợ chồng khi hôn nhân đang tồn tại" của tác giả Nguyễn Văn Cừ trên
Tạp chí Tòa án nhân dân số 11 năm 2003, và Tạp chí Tòa án nhân dân số 9 năm
2000, tr.18-21; "Bàn thêm về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ
hôn nhân theo pháp luật hôn nhân và gia đình hiện hành" của tác giả Nguyễn
Hồng Hải đăng trên Tạp chí Luật học số 5/2003; bài viết "Hậu quả pháp lý
của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân" của tác giả
Nguyễn Phương Lan, Tạp chí Luật học số 6/2002; ngoài ra còn có nhiều bài
viết được đăng trên nhiều báo điện tử như http://vnexpress.net,
http://moj.gov.vn; http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com; …
N h ì n c h u n g t ấ t c ả c á c c ô n g t r ì n h n g h i ê n c ứ u t ừ t r ướ c đ ế n n a y c h ưa
có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ các nội dung liên quan đến v i
ệc ch i a t ài s ản ch u n g củ a v ợ ch ồ n g t ro n g t h ời k ỳ h ô n n h ân , c h ư a có cô n g t r ì n
h n à o đ ưa r a n h ữ n g b ấ t c ậ p h ướ n g h o à n t h i ệ n t r o n g v i ệ c c ô n g c h ứn g v ă n b ả
n t h ỏ a t h u ậ n c h i a t à i s ả n c h u n g t r o n g t h ờ i k ỳ h ô n n h â n . V ì v ậ y, đ ề t à i củ a l u ận
v ăn l à h o àn t o àn k h ô n g t rù n g l ập n ộ i d u n g s o v ới c ác cô n g t rì n h n g h i ê n c ứ
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng
Luận văn nghiên cứu các vấn đề lý luận về chia tài sản chung của vợ
chồng trong thời kỳ hôn nhân; quy định của pháp luật hiện hành về chia tài
sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; một số công trình nghiên cứu
5
và một số vụ việc cụ thể về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn
nhân qua thực tiễn.
* Phạm vi nghiên cứu
- Luận văn nghiên cứu các quy định của pháp luật về chia tài sản chung
trong thời kỳ hôn nhân trong một số văn bản pháp luật như: Luật HN&GĐ
năm 1986; Luật HN&GĐ năm 2000; Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005 và các
văn bản pháp luật khác có liên quan.
- Luận văn cũng nghiên cứu các quy định trong pháp luật của một số n
ướ c c ó q u y đ ị n h v ề v i ệ c c h i a ( t á c h ) t à i s ả n c h u n g c ủ a v ợ c h ồ n g t r o n g t h ờ i k ỳ
h ô n n h â n ; t ừ đ ó c ó s ự s o s á n h v à đ ố i c h i ế u v ớ i p h á p l u ậ t H N & G Đ Vi ệ t Nam,
qua đó học hỏi, tiếp thu có chọn lọc những điểm phù hợp để bổ sung, h o àn t h i
ện c ác q u y đ ị n h v ề ch i a t ài s ản ch u n g t ro n g t h ời k ỳ h ô n n h ân t ro n g t h ờ i g i an t ới
.
- Đặc biệt, luận văn nghiên cứu một số trường hợp thực tế về chia tài
sản chung trong thời kỳ hôn nhân thông qua các bản án của tòa án và các văn
bản thỏa thuận được thực hiện tại các cơ quan công chứng trong thực tiễn áp
dụng Luật HN&GĐ năm 2000.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận
Việc tiếp cận nghiên cứu đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận của
chủ nghĩa Mác - Lênin với phép duy vật lịch sử và duy vật biện chứng, gắn
theo quy định của pháp luật hiện hành
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về chia tài sản chung
của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
7
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG
CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN
1.1 Cơ sở lý luận về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ
hôn nhân
1.1.1 Khái niệm chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Chế độ tài sản của vợ chồng là một trong những chế độ pháp lý quan
trọng của luật HN&GĐ. Trải qua quá trình phát triển, chế độ tài sản của vợ
chồng đã có những thay đổi đáng kể. Từ việc chỉ quy định chế độ tài sản của vợ
chồng là chế độ tài sản chung, đến nay với sự tác động của nền kinh tế thị trường
đã thay đổi căn bản các quan hệ xã hội trong đó có quan hệ HN&GĐ, vì vậy Luật
HN&GĐ năm 2000 đã quy định chế độ tài sản của vợ chồng bao gồm chế độ tài
sản chung và tài sản riêng. Điều này sẽ đảm bảo được nhu cầu thiết yếu của gia
đình, thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của vợ chồng để thực hiện
các nghĩa vụ chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau; chăm sóc và giáo dục con cái,… đều
cần sử dụng đến tài sản chung của vợ chồng. Mặt khác, sự phát triển của nền kinh tế
thị trường đã tạo điều kiện cho mọi người có thể có thể tăng thu nhập cho bản
thân và gia đình, vì vậy nhu cầu tài sản riêng của vợ chồng lúc này trở nên cần
thiết để họ có thể chủ động trong việc quan hệ giao dịch với người khác trong xã
hội mà không ảnh hưởng đến sinh hoạt bình thường của gia đình. Do đó, chia
tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là một trong những giải pháp có hiệu
quả để giải quyết nhu cầu chính đáng của vợ chồng.
Sự ảnh hưởng của phong tục, tập quán cũng như những tư tưởng phong
HN&GĐ năm 1986, Luật HN&GĐ năm 2000 đã quy định cụ thể hơn về điều
kiện, quyền yêu cầu và hậu quả pháp lý sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ
hôn nhân.
9
Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân đã được
quy định trong Luật HN&GĐ năm 1986 và Luật HN&GĐ năm 2000, nhưng
vẫn còn có nhiều cách hiểu khác nhau về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn
nhân. Tác giả Phạm Thị Tươi đã đưa ra khái niệm về chia tài sản chung trong
thời kỳ hôn nhân như sau: "Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là việc
chuyển một phần hoặc toàn bộ tài sản vốn là tài sản chung của vợ chồng
thành tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng theo sự thỏa thuận của vợ chồng
hoặc do Tòa án quyết định theo yêu cầu của vợ, chồng khi có những lý do
nhất định nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi bên vợ, chồng và
người thứ ba có liên quan mà không làm chấm dứt quan hệ giữa vợ và chồng
trước pháp luật" [46]. Khái niệm này đã chứa đựng đầy đủ bản chất của việc chia
tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.
Ngoài nghiên cứu trên, qua quá trình tìm hiểu hiện nay chưa có bất kỳ
văn bản quy phạm pháp luật nào đưa ra khái niệm về chia tài sản chung của vợ
chồng trong thời kỳ hôn nhân. Chính vì vậy, chúng tôi mạnh dạn đưa ra
khái niệm về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân như sau:
"Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là việc thay
đổi một phần hoặc toàn bộ tài sản chung của vợ chồng thành tài sản riêng
của mỗi bên vợ chồng theo thỏa thuận hoặc do Tòa án quyết định trong
trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự
riêng hoặc có lý do chính đáng khác. Việc chia tài sản chung của vợ chồng
được thực hiện trong thời kỳ hôn nhân và hậu quả của việc này không làm
chấm dứt quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng trước pháp luật".
Thái Lan khi chỉ quy định việc chia tài sản chung phải được thực hiện qua con
đường tư pháp, do Tòa án quyết định. "Thỏa thuận" có nghĩa là "đi tới sự đồng
ý sau khi cân nhắc, thảo luận" [51]. Theo đó, vợ chồng đã bàn bạc, thảo luận
trước đó rồi mới đi đến sự đồng ý chia tài sản chung. Trong đó họ đã cân nhắc
đến vấn đề như hậu quả sau khi chia, nghĩa vụ của mỗi người đối với con cái
và các thành viên trong gia đình. Người thứ ba hoặc các chủ
11
thể khác có liên quan đến tài sản chung của vợ chồng đều không thể can thiệp
đến thỏa thuận chia này.
Luật HN&GĐ hiện hành quy định việc thỏa thuận chia tài sản chung
phải lập thành văn bản và ghi rõ các nội dung như: lý do chia tài sản, phần tài
sản chia, phần tài sản còn lại không chia (nếu có), thời điểm có hiệu lực của
việc chia tài sản chung và những nội dung khác (nếu có). Điều này nhằm
tránh việc vợ chồng thỏa thuận với mục đích tẩu tán tài sản, trốn tránh việc
thực hiện nghĩa vụ dân sự với người khác. Ngoài ra, văn bản thỏa thuận chia tài
sản chung có thể có người làm chứng hoặc được công chứng theo yêu cầu của
vợ, chồng hoặc theo quy định của pháp luật [4].
Bên cạnh đó, thực tế cho thấy khi có tranh chấp về tài sản xảy ra, pháp
luật cho phép vợ chồng có thể thỏa thuận được với nhau về những vấn đề
đang tranh chấp. Đây là biện pháp hữu hiệu nhất để vợ chồng tránh được
những bất đồng khi chia tài sản chung khi hôn nhân đang tồn tại hơn là việc
yêu cầu tòa án giải quyết. Vợ chồng có thể thỏa thuận về hoa lợi, lợi tức phát
sinh từ tài sản đã chia là sở hữu riêng của mỗi người hay là tài sản chung hoặc
có thể thỏa thuận về thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và
những thu nhập hợp pháp khác của một bên sau khi chia tài sản chung là tài
sản riêng của vợ, chồng hay vẫn là tài sản chung. Với quy định này đã cho
thấy sự tự do thỏa thuận của vợ chồng là hoàn toàn tuyệt đối về việc định đoạt tài
Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo quy
định của Luật HN&GĐ cho phép vợ chồng có quyền tự thỏa thuận. Quy định
này đã thể hiện sự tự do của vợ chồng đối với khối tài sản chung nhằm tạo điều
kiện thuận lợi cho vợ chồng có thể thỏa mãn những nhu cầu cá nhân nhất định.
Dựa trên nguyên tắc này, khi vợ chồng có đủ điều kiện theo quy định của pháp
luật HN&GĐ và pháp luật dân sự có thể thỏa thuận với nhau bất kỳ các vấn đề
liên quan đến tài sản chung của vợ chồng, nếu vợ chồng có yêu cầu. Tuy nhiên
thỏa thuận chỉ có hiệu lực pháp luật, được pháp luật công nhận và bảo vệ khi ý
chí của vợ chồng khi thỏa thuận đó phù hợp với ý chí của nhà
15
nước. Hay nói cách khác, sự tự do ý chí trong thỏa thuận của vợ chồng phải
nằm trong khuôn khổ, giới hạn nhất định - giới hạn lợi ích của các cá nhân
khác, lợi ích chung của xã hội và trật tự công cộng. Nếu để vợ chồng tự do
thỏa thuận vô hạn thì thỏa thuận đó sẽ trở thành phương tiện để trốn tránh
việc thực hiện các nghĩa vụ dân sự với người khác và ảnh hưởng đến lợi ích
chung của xã hội. Lênin đã viết "phải đi xa hơn nữa trong vấn đề tăng cường sự
can thiệp của nhà nước vào các quan hệ pháp luật tư, các việc dân sự…
không được bỏ qua một khả năng tối thiểu nào để mở rộng sự can thiệp của nhà
nước vào các quan hệ dân luật" [24, tr.577]. Chính vì vậy, trong xã hội ta - xã
hội xã hội chủ nghĩa, lợi ích chung của toàn xã hội (lợi ích cộng đồng) và đạo
đức xã hội không cho phép bất cứ cá nhân, tổ chức, kể các vợ chồng được lợi
dụng ý chí tự do để biến những thỏa thuận của cá nhân thành phương tiện trốn
tránh việc thực hiện các nghĩa vụ dân sự. Do đó, thỏa thuận chia tài sản của vợ
chồng không nhằm mục đích tẩu tán tài sản, trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ
dân sự với người khác; không nhằm mục đích trốn tránh việc thực hiện các
nghĩa vụ dân sự chung đối với gia đình thì có thể thực hiện được. Nếu thỏa
thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân không tuân theo quy định của
chưa thành niên. Công ước về quyền trẻ em được Đại hội đồng Liên hợp quốc
đã cho rằng trẻ em là đối tượng "còn non nớt về thể chất và trí tuệ, cần được
chăm sóc và bảo vệ đặc biệt" [12]. Vì vậy, trẻ em là đối tượng cần được chăm sóc
đặc biệt, đồng thời đây là quyền cơ bản mà trẻ em được hưởng và phải đảm bảo
thực hiện.Vì vậy, việc chia tài sản chung đòi hỏi vợ chồng phải có sự cân nhắc
việc thực hiện các nghĩa vụ về chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con sau khi
chia tài sản chung, đặc biệt là khi chia toàn bộ tài sản chung và khi vợ chồng
sống riêng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Thực hiện nguyên
tắc này nhằm đảm bảo lợi ích chung của con chưa thành niên, con đã thành
niên không có khả năng lao động, tàn tật hoặc mất năng lực hành vi dân sự,
đồng thời cũng thể hiện truyền thống tốt đẹp của gia đình
17
Việt Nam, luôn có sự yêu thương, chăm sóc, đùm bọc lẫn nhau giữa các thành
viên trong gia đình.
Tóm lại các nguyên tắc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là cơ sở
pháp lý để giải quyết khách quan, đúng pháp luật yêu cầu chia tài sản chung
của vợ chồng. Những nguyên tắc này có mối liên hệ mất thiết với nhau. Tuân thủ
các nguyên tắc này là yêu cầu cần thiết, bắt buộc đối với vợ chồng, mọi chủ thể
và cơ quan trong hoạt động thực hiện và áp dụng pháp luật.
1.2 Đặc điểm của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Do tính chất đặc thù của yêu cầu chia tài sản chung được thực hiện khi hôn
nhân còn tồn tại giữa vợ và chồng nên việc chia này có những đặc điểm khác với
trường hợp chia tài sản chung khi ly hôn và chia tài sản chung khi một bên chết
trước. Vì vậy, việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có một
số đặc điểm cơ bản sau:
1.2.1 Cách phân chia đặc biệt
Khi hôn nhân đã đổ vỡ do nhiều nguyên nhân khác nhau thì vợ chồng