chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân - Pdf 26

I. Đặt vấn đề
Hôn nhân và gia đình là một ngành luật quan trọng trong hệ thống pháp
luật việt nam và ngày càng có một vai trò tích cực. cùng với sự phát triển của
nền kinh tế, sự du nhập của những giá trị văn hóa mang tính quốc tế nên các
mối quan hệ trong lĩnh vực hôn nhân, gia đình ở Việt Nam cũng có những biến
chuyển để trở nên phù hợp. Điều này đòi hỏi pháp luật cần phải có nhưng điều
chỉnh hợp lý trên cơ sở đời sống thực tiễn.
Đề cập đến Luật hôn nhân và gia đình, phải kể đến nội dung “chia tài
sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân”, vì đây là một vấn đề mang
tính thời sự cao trong Điều kiện nền kinh tế nước ta có sự hội nhập mạnh mẽ
với quốc tế và các quy định pháp luật liên quan đến tài sản có ý nghĩa vô cùng
to lớn, thiết thực.
II. Giải quyết vấn đề.
1. Tài sản chung của vợ chồng.
Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình quy định về tài sản chung của vợ
chồng. Theo đó, việc xác định tài sản chung của vợ chồng phải dựa vào nguồn
gốc phát sinh tài sản. Cụ thể, tài sản cung của vợ chồng bao gồm những tài sản
sau:
- Tài sản do vợ chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất,
kinh doanh trong thời kỳ hôn nhân.
- Thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có thể
là: tiền lương, tiền thưởng, tiền trợ cấp, tiền trúng số mà vợ, chồng có được
hoặc tài sản mà vợ, chồng được xác lập quyền sở hữu theo quy định của Bộ
1
luật dân sự 2005 như: Xác lập quyền sở hữu đối với vật vô chủ, vật không xác
định được ai là chủ sở hữu (Điều 239); xác lập quyền sở hữu đối với vật bị
chon giấu, bị chìm đắm được tìm thấy (Điều 240); xác lập quyền sở hữu đối
với vật do người khác đánh rơi, bỏ quên (Điều 241); xác lập quyền sở hữu đối
với gia súc bị thất lạc (Điều 242); xác lập quyền sở hữu đối với gia gia cầm bị
thất lạc (Điều 243); xác lập quyền sở hữu đối với vật nuôi dưới nước (Điều
244).

“Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung bằng công
sức của mỗi người; có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định
đoạt tài sản chung.” (Khoản 2, Điều 219 Bộ luật dân sự 2005).
“Vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử
dụng, định đoạt tài sản chung.” (khoản 1, Điều 28, Luật hôn nhân và gia đình
2000).
quyền bình đẳng của vợ chồng đối với khối tài sản chung thể hiện trong
việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài sản
chung có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình, việc dùng tài
3
sản chung để đầu tư, kinh doanh phải được vợ chồng bàn bạc, thỏa thuận
(Điều 28, Luật hôn nhân và gia đình).
Đối với những giao dịch dân sự có liên quan đến tài sản có giá trị không
lớn hoặc để phục vụ nhu cầu thiết yếu hàng ngày của gia đình thì chỉ cần một
bên vợ hoặc chồng thực hiện hoặc đương nhiên coi là có sự đồng ý của bên
kia. Trong trường hợp vì một lý do nào đó mà chỉ có một bên vợ hoặc chồng
thực hiện giao dịch dân sự có liên quan đến tài sản chung của vợ chồng nhằm
để phục vụ nhu cầu sinh hoạt thiết yếu hang ngày của gia đình thì bên kia phải
chịu trách nhiệm liên đới (Điều 25 Luật hôn nhân và gia đình 2000). Quy định
này khẳng định quyền tự chủ của vợ, chồng trong việc thực hiện các giao dịch
dân sự nhằm đảm bảo nhu cầu thiết yếu hàng ngày của gia đình cũng chính là
nhằm bảo vệ lợi ích của gia đình, đồng thời cũng khẳng định trách nhiệm của
bên kia đối với các hành vi dân sự hợp pháp do vợ hoặc chồng mình thực hiện
vì lợi ích chính đáng của gia đình.
vợ, chồng có quyền ngang nhau trong việc quản lý, sử dụng tài sản
chung. Vợ, chồng sử dụng tài sản chung của vợ chồng đương nhiên được coi
có sự thỏa thuận của cả hai vợ chồng.
tài sản chung của vợ chồng được chi dung để bảo đảm nhu cầu của gia
đình, thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ chồng (Điều 28 Luật hôn nhân và
gia đình). Do vậy, trong việc duy trì và phát triển khối tài sản chung không cần

tháng 01 năm 1987, ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực mà
chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn; trong trường hợp
có yêu cầu ly hôn thì được Tòa án thụ lý giải quyết theo quy định về ly hôn của
Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;
b) Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03 tháng 01
năm 1987 đến ngày 01 tháng 01 năm 2001, mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy
định của Luật này thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ
ngày Luật này có hiệu lực cho đến ngày 01 tháng 01 năm 2003; trong thời hạn
này mà họ không đăng ký kết hôn, nhưng có yêu cầu ly hôn thì Tòa án áp dụng
các quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết.
Từ sau ngày 01 tháng 01 năm 2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì
pháp luật không công nhận họ là vợ chồng;
c) Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2001 trở đi, trừ trường hợp quy định tại
điểm a và điểm b khoản 3 của Nghị quyết này, nam và nữ chung sống với nhau
như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, đều không được pháp luật công nhận
là vợ chồng; nếu có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công
nhận quan hệ vợ chồng; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì Tòa án áp dụng
khoản 2 và khoản 3 Điều 17 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải
quyết.”
6


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status