Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 - Pdf 25



1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

BÙI THỊ TỐ NGA
CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG
THỜI KỲ HÔN NHÂN THEO LUẬT HÔN NHÂN
VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM NĂM 2000 CHUYÊN NGÀNH: LUẬT DÂN SỰ
MÃ SỐ: 50507

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS HÀ THỊ MAI HIÊN
HÀ NỘI - NĂM 2005 3

chồng trong thời kỳ hôn nhân 42 4
1.2.4.1. Thời kỳ hôn nhân 42
1.2.4.2. Bản chất pháp lý của việc chia tài sản chung của vợ chồng
trong thời kỳ hôn nhân 45
1.3. Pháp luật Việt Nam về việc chia tài sản chung của vợ chồng trong
thời kỳ hôn nhân qua các giai đoạn phát triển 50
1.3.1. Trước năm 1945 50
1.3.1.1. Pháp luật phong kiến Việt Nam thế kỷ XV - XVIII và dưới
triều Nguyễn ( 1802-1858) 50
1.3.1.2. Chính quyền và luật lệ của thực dân Pháp ở Việt Nam (1858-
1945) 54
1.3.2. Pháp luật Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay 55
1.3.2.1. Từ năm 1945 đến 1954 56
1.3.2.2. Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 59
1.3.2.3. Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 60
1.3.2.4. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 61
CHƢƠNG 2: CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG
THỜI KỲ HÔN NHÂN THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT
NAM NĂM 2000 VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG 63
2.1. Nội dung của Luật Hôn nhân và gia đình việt nam năm 2000 về
việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân 63
2.1.1. Cơ sở pháp lý của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn
nhân 63
2.1.2. Quyền yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân 64
2.1.3. Nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân 66
2.1.4. Lý do chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân 72
2.1.4.1. Vợ, chồng đầu tư kinh doanh riêng 74

3.2.6. Về công tác hợp tác quốc tế 131
KẾT LUẬN 132
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 134

6

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

Hôn nhân và gia đình
- HN & GĐ
Bộ luật dân sự
- BLDS
Bộ luật dân sự – thương mại
- BLDS – TM
Bộ luật Gia đình
- BLGĐ
Tư bản chủ nghĩa
- TBCN
Xã hội chủ nghĩa
- XHCN
Hội đồng thẩm phán
- HĐTP
Toà án nhân dân
- TAND


8
khác nhau, có trường hợp vợ chồng không còn tình cảm với nhau nữa nhưng
họ lại không muốn ly hôn mà chỉ muốn chia tài sản chung của vợ chồng để ra
ở riêng; có trường hợp vợ chồng muốn được độc lập về tài sản, muốn tự
mình quyết định các vấn đề liên quan đến tài sản không có sự can thiệp từ
phía bên kia; cũng có trường hợp vợ, chồng phải thực hiện một nghĩa vụ riêng
về tài sản nhưng họ không có tài sản riêng hoặc tài sản riêng của họ không đủ
để thực hiện nghĩa vụ. Vì vậy, họ có nhu cầu chia tài sản chung của vợ chồng
khi hôn nhân còn tồn tại.
Để đáp ứng thực tế đó, Điều 18 Luật Hôn nhân và gia đình (Luật HN &
GĐ) năm 1986 đã tạo ra cơ sở pháp lý cho việc chia tài sản chung của vợ
chồng trong thời kỳ hôn nhân, tạo điều kiện cho vợ chồng thực hiện đầy đủ
các quyền sở hữu của mình và đảm bảo cho các bên vợ, chồng độc lập về tài
sản, có thể tự thiết lập các quan hệ kinh tế, dân sự với người thứ ba vì lợi ích
chung của gia đình hoặc vì lợi ích riêng của vợ chồng. Luật HN & GĐ năm
2000 trên cơ sở kế thừa và khắc phục những hạn chế của Luật HN & GĐ năm
1986 đã quy định rõ hơn về vấn đề này tại Điều 29 và Điều 30.
Sau gần 05 (năm) năm thực hiện Luật HN & GĐ năm 2000, bên cạnh
những thành tựu đã đạt được, các Toà án không thể tránh khỏi những khó
khăn, vướng mắc trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến tài sản
chung của vợ chồng. Mặc dù Nhà nước ta đã kịp thời ban hành hệ thống văn
bản pháp luật hướng dẫn áp dụng Luật nhưng cũng không thể tránh khỏi
những khoảng trống chưa được pháp luật điều chỉnh, những bất cập trong việc
đưa các quy định của Luật HN & GĐ đi vào thực tiễn đời sống.
Xuất phát từ thực trạng đó, việc nghiên cứu, phân tích để làm sáng tỏ
những quy định của Luật HN & GĐ Việt Nam hiện hành về chia tài sản
chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là một việc làm cần thiết, nghiêm
túc có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, một mặt nhằm luận giải các quy



10
chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo pháp luật Hôn nhân và gia
đình hiện hành”; và bài viết “Vấn đề phân chia tài sản chung của vợ chồng
khi phá sản doanh nghiệp tư nhân” của tác giả Phạm Văn Thiệu;… Ngoài ra,
các giáo trình môn Luật Hôn nhân và gia đình của Trường Đại học Luật và
các trường Đại học có chuyên ngành luật; … cũng đề cập đến vấn đề này.
Nhìn chung, các tác giả đều thể hiện quan điểm riêng khi nghiên cứu về
vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân ở những góc
độ, khía cạnh và mức độ khác nhau. Một số bài viết cũng đề cập đến thực
trạng về vấn đề này và kiến nghị các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của
các quy định của pháp luật trong việc củng cố quan hệ gia đình Việt Nam nói
chung và quan hệ vợ chồng nói riêng trong xã hội có nhiều biến động như
hiện nay. Tuy nhiên, trong số các công trình nghiên cứu về vấn đề chia tài sản
chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân chưa có một đề tài thạc sĩ nào đề
cập một cách cụ thể, đầy đủ và toàn diện.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Từ những quan điểm và định hướng cơ bản của Đảng và Nhà nước ta
về xây dựng chế độ HN & GĐ, cũng như từ thực tiễn hoạt động xây dựng
pháp luật về chế độ tài sản chung của vợ chồng trong thời gian qua, mục tiêu
của luận văn là góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận cho sự hình thành và
phương hướng xây dựng pháp luật HN & GĐ về chia tài sản chung của vợ
chồng trong thời kỳ hôn nhân ở Việt Nam. Để thực hiện mục tiêu trên, nhiệm
vụ của luận văn là:
- Nghiên cứu, tìm hiểu cơ sở lý luận về chế độ tài sản chung của vợ
chồng và pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng trong nền kinh tế thị
trường; 11

sánh, phương pháp thống kê, tổng hợp…Từ việc phân tích khái quát sơ lược
các quy định của Hiến pháp, Bộ luật dân sự về quyền và nghĩa vụ cơ bản của
công dân, quá trình hình thành và phát triển của các quy định liên quan, để từ
đó đi sâu vào phân tích những nét đặc thù trong các quy định của pháp luật
hiện hành về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, có sử
dụng phương pháp so sánh, đối chiếu với pháp luật một số nước trên thế giới
để củng cố, làm phong phú thêm cơ sở lý luận cho việc áp dụng các quy định
của pháp luật trong thực tiễn giải quyết các tranh chấp liên quan đến vấn đề
chia tài sản chung của vợ chồng nói chung và chia tài sản chung của vợ chồng
trong thời kỳ hôn nhân nói riêng.
6. Những điểm mới và ý nghĩa khoa học của đề tài
Về mặt lý luận, luận văn là công trình nghiên cứu và trình bày một cách
có hệ thống về cơ sở lý luận, đặc điểm, nội dung của pháp luật hiện hành về
chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Việc làm sáng tỏ nội
dung này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc nhận thức đầy đủ vai trò
của pháp luật HN & GĐ trong điều kiện kinh tế thị trường
Về thực tiễn, trên cơ sở đánh giá thực trạng pháp luật có liên quan đến
việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân của Việt Nam,
luận văn đã nêu ra các phương hướng và kiến nghị một số giải pháp cụ thể
trong hoạt động xây dựng pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng trong
thời kỳ hôn nhân.
7. Bố cục của luận văn
Với mục tiêu, nhiệm vụ, phạm vi và phương pháp nghiên cứu nêu trên,
luận văn bao gồm: Lời mở đầu, 3 (ba) chương và kết luận. 13
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA
VỢ CHỒNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN

chồng, khách thể của quan hệ là tài sản chung của vợ chồng và nội dung của
quan hệ là tổng hợp các quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung.
Thời kỳ phong kiến và thuộc địa ở Việt Nam trước đây giống đa số các
nước Tư bản đều coi quan hệ hôn nhân và gia đình, trong đó có quan hệ tài
sản giữa vợ và chồng là một dạng quan hệ tài sản thuộc đối tượng điều chỉnh
của luật dân sự. Nhưng sau đó các nhà làm luật Việt Nam đã tách quan hệ tài
sản của vợ chồng ra khỏi Luật dân sự và đưa Luật HN & GĐ trở thành một
ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam với lập luận: quan hệ
tài sản trong quan hệ dân sự xuất hiện hoàn toàn trên cơ sở yếu tố ý chí của
các bên, còn quan hệ tài sản của vợ chồng phát sinh trên cơ sở tình yêu chân
chính giữa một người nam và một người nữ và được đánh dấu bằng sự kiện
kết hôn. Trong gia đình, quan hệ tình cảm vợ chồng chi phối và có ảnh hưởng
sâu sắc tới sự tồn tại và phát triển của quan hệ tài sản giữa vợ và chồng. Sự
thay đổi trong quan hệ tình cảm vợ chồng là một trong những nguyên nhân
dẫn đến sự thay đổi trong quan hệ tài sản của vợ chồng. Chẳng hạn, khi vợ
chồng còn tình cảm yêu thương, quý trọng, quan tâm đến nhau thì hạnh phúc
gia đình được bền vững và khối tài sản chung của vợ chồng không ngừng
được tạo lập, duy trì và phát triển. Ngược lại, khi tình cảm vợ chồng đã bị rạn
nứt, tan vỡ thì vợ chồng không những không còn quan tâm, yêu thương, giúp
đỡ lẫn nhau mà họ còn không chú trọng đến việc duy trì khối tài sản chung
của vợ chồng. Và khi đó, việc sử dụng, định đoạt tài sản chung của vợ chồng
không còn vì mục đích chung của gia đình nữa, nó có thể bị phân tán cho
những mục đích riêng của vợ, chồng. 15
Là một yếu tố của quan hệ pháp luật, chủ thể trong quan hệ tài sản của
vợ chồng cũng góp phần quan trọng tạo nên đặc trưng cho quan hệ tài sản của
vợ chồng. Tuy nhiên, không phải bất kỳ cá nhân nào cũng có thể trở thành
chủ thể của quan hệ tài sản của vợ chồng. Một người nam và một người nữ

vậy, vai trò của họ không được đề cao, quyền lợi của họ luôn phụ thuộc vào
cha, chồng và con trai. ở thời kỳ này, pháp luật đã thừa nhận chế độ sở hữu
chung của vợ chồng bằng việc quy định những tài sản mà vợ, chồng cùng tạo
ra trong thời kỳ hôn nhân thuộc sở hữu chung của vợ chồng. Tuy nhiên, xuất
phát từ điều kiện kinh tế - xã hội phong kiến lúc đó, chế độ tài sản chung của
vợ chồng chỉ có ý nghĩa về mặt pháp lý, còn thực chất người chồng vẫn có
toàn quyền nắm giữ và quyết định mọi vấn đề có liên quan đến tài sản, đến lợi
ích chung của vợ chồng và gia đình.
Nhà nước Tư bản chủ nghĩa (TBCN) xuất hiện, mặc dù đã giảm bớt
nhiều tính hà khắc đối với người phụ nữ hơn so với chế độ HN & GĐ phong
kiến, nhưng pháp luật các nước tư bản lại bị hạn chế bởi điều kiện kinh tế - xã
hội do nền sản xuất tư bản sinh ra, do đó hôn nhân theo pháp luật các nước
TBCN chỉ là một “khế ước” do nam nữ tự thoả thuận trên cơ sở tiền tài và địa
vị xã hội, nó mang tính rạch ròi về tài sản giữa vợ và chồng. Chế độ tài sản
chung của vợ chồng theo pháp luật Tư bản đó là sự thoả thuận giữa vợ và
chồng về việc lựa chọn chế độ quản lý và thanh toán tài sản trong gia đình để
áp dụng cho suốt thời kỳ hôn nhân. Như vậy, xã hội tư bản đã quá đề cao vai
trò của cá nhân, sự thoả thuận, bình đẳng nên đã làm mất đi bản chất tốt đẹp
vốn có của nó [5, tr.7]
Với sự ra đời của Nhà nước XHCN, chế độ hôn nhân đã phát triển theo
chiều hướng tiến bộ. Là nhà nước của dân, do dân và vì dân cho nên hôn nhân
theo pháp luật XHCN là sự liên kết công khai trọn đời, bình đẳng, tự do và tự
nguyện giữa một người nam và một người nữ, phù hợp với pháp luật của Nhà 17
nước. Nó không bị chi phối bởi yếu tố “trọng nam khinh nữ” như ở Nhà nước
Phong kiến, và cũng không bị ảnh hưởng bởi yếu tố vật chất, địa vị xã hội dựa
trên cơ sở “hôn ước“ như ở nhà nước Tư bản mà nó xuất phát từ tình yêu
chân chính và sự hiểu biết lẫn nhau giữa vợ và chồng. Mục đích của hôn nhân

Thứ nhất, dựa vào mốc thời gian có được tài sản: tài sản chung của
vợ chồng bao gồm: tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt
động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồng
trong thời kỳ hôn nhân.
Thu nhập của vợ chồng được hiểu là những lợi ích vật chất mà vợ,
chồng có được bao gồm những khoản tiền công, tiền lương phát sinh từ các
hoạt động lao động mang tính chất nghề nghiệp, không mang tính chất nghề
nghiệp hoặc các khoản lợi tức phát sinh từ các hoạt động sử dụng, quản lý tài
sản trong sản xuất kinh doanh hoặc trong giao lưu dân sự [22].
Trong gia đình, vợ, chồng có quyền tự do lựa chọn công việc phù hợp
với khả năng, sở thích, điều kiện và hoàn cảnh của mình để tạo ra thu nhập.
Thực tế, có thể do hoàn cảnh riêng của từng gia đình, do điều kiện sức khoẻ,
đặc điểm công việc và nghề nghiệp của vợ chồng khác nhau cho nên sự đóng
góp công sức của vợ, chồng vào việc xây dựng khối tài sản chung không
ngang bằng nhau. Có thể vợ hoặc chồng không trực tiếp lao động tạo ra tài
sản mà chỉ lao động trong gia đình như làm nội trợ, chăm sóc con… nhưng “
lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu
nhập”[14,tr.51]. Quy định này đã thể hiện rõ sự quan tâm của Đảng và Nhà
nước ta đến việc đảm bảo cho gia đình có một khối tài sản chung để phục vụ
cho các nhu cầu sinh hoạt của gia đình.
Ngoài ra, “ Những thu nhập hợp pháp khác” của vợ chồng trong thời
kỳ hôn nhân cũng được coi là tài sản chung của vợ chồng. Những thu nhập 19
hợp pháp khác có thể là: tiền thưởng, tiền trợ cấp, tiền trúng xổ số mà vợ,
chồng có được hoặc tài sản mà vợ, chồng được xác lập quyền sở hữu theo quy
định tại các Điều 247, 248, 249, 250, 251 và 252 BLDS (xác lập quyền sở
hữu đối với vật vô chủ, vật không xác định được ai là chủ sở hữu; xác lập
quyền sở hữu đối với vật bị chôn giấu, bị chìm đắm được tìm thấy; xác lập

trong pháp luật Pháp, các khoản thu nhập của vợ, chồng không xuất phát từ
công việc làm ăn, chẳng hạn như tiền trúng số, quyền sở hữu đối với kho báu
được tìm thấy trên ruộng đất của mình hoặc của người khác không được xác
định là tài sản chung hay tài sản riêng (Điều 716) [1]. Còn pháp luật Việt
Nam lại coi đây là tài sản chung của vợ chồng.
BLGĐ 1996 của Nga cũng thừa nhận tài sản vợ chồng làm ra trong thời
kỳ hôn nhân; các khoản thu nhập của vợ chồng từ các hoạt động lao động sản
xuất, kinh doanh thương mại và kết quả của những hoạt động trí tuệ là tài sản
chung của vợ chồng. Tuy nhiên, riêng về các khoản thu nhập hợp pháp khác,
pháp luật Nga quy định hẹp hơn so với pháp luật Việt Nam, chỉ dừng lại ở
việc thừa nhận lương hưu, phụ cấp và các số tiền được trả mà không có mục
đích riêng là tài sản chung của vợ chồng (Điều 39) [3]
Thứ hai, dựa vào nguồn gốc tài sản: tài sản mà vợ, chồng được thừa
kế chung hoặc được tặng cho chung là tài sản chung của vợ chồng.
Xuất phát từ quan điểm tôn trọng và đảm bảo quyền tự định đoạt của
chủ sở hữu, pháp luật Việt Nam quy định chủ sở hữu tài sản có quyền định tự
định đoạt tài sản của mình, có quyền để lại thừa kế theo ý chí hoặc tặng cho
tài sản. Tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung là
tài sản chung của vợ chồng. Mặc dù Luật HN & GĐ năm 2000 và các văn bản
hướng dẫn không quy định rõ thừa kế chung hay tặng cho chung trong
khoảng thời gian nào cần phải hiểu rõ là chỉ những tài sản vợ chồng được
thừa kế chung hay tặng cho chung trong thời kỳ hôn nhân mới được coi là tài 21
sản chung của vợ chồng. Do đó, không thể coi tài sản mà vợ chồng được thừa
kế chung, được tặng cho chung trước khi kết hôn hoặc khi hôn nhân chấm dứt
là tài sản chung của vợ chồng (trừ trường hợp vợ chồng có thoả thuận).
Đối chiếu với BLDS Pháp và BLGĐ 1996 của Nga thì thấy, Pháp cũng
thừa nhận tài sản được tặng cho chung là tài sản chung của vợ chồng như

phạm vi tài sản riêng của mỗi người (Chương 8)[3], (Thiên 5 chương 1)[1].
Hôn nhân Việt Nam được xây dựng dựa trên cơ sở gắn kết tình cảm giữa một
người nam và một người nữ, do đó pháp luật Việt Nam không thừa nhận chế
độ hôn ước và coi những tài sản mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung là
tài sản chung của vợ chồng.
Thứ tư, dựa vào phương pháp suy đoán pháp lý:. Trong trường hợp
không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là
tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung.
Phương pháp suy đoán pháp lý để xác định tài sản chung của vợ chồng
được pháp luật Việt Nam áp dụng trong các trường hợp có tranh chấp về tài
sản giữa vợ và chồng. Nếu một bên vợ hoặc chồng cho rằng tài sản đó là tài
sản riêng của mình thì phải có nghĩa vụ chứng minh, nếu không chứng minh
được thì tài sản đó được suy đoán là tài sản chung của vợ chồng.
Phương pháp này không chỉ được áp dụng ở Việt Nam mà còn được
pháp luật Pháp và Bộ luật dân sự và thương mại Thái Lan (BLDS - TM) áp
dụng để xác định tài sản chung của vợ chồng. Chẳng hạn, Điều 1474 khoản 3
BLDS - TM Thái Lan quy định: Trong trường hợp có nghi ngờ về việc một
tài sản có phải là tài sản riêng hay không, thì tài sản đó được coi là tài sản
chung. Hay BLDS Pháp: Mọi tài sản dù là động sản hay bất động sản, đều
được coi là thu nhập của cộng đồng tài sản, nếu không chứng minh được đó
là tài sản riêng của vợ hoặc chồng theo quy định của pháp luật ( Điều 1402)
[1 ] 23
Điểm mới của Luật HN &GĐ năm 2000 so với các Luật HN & GĐ
trước đây là quy định về quyền sử dụng đất của vợ chồng. Đây là một loại tài
sản mang những nét đặc thù riêng, có giá trị lớn hoặc đem lại thu nhập chính
cho vợ chồng. Vì vậy, để tránh những vướng mắc khi giải quyết các tranh
chấp về quyền sử dụng đất, Luật HN & GĐ năm 2000 quy định rõ: “Quyền sử

Nam.
1.1.2. Mục đích và ý nghĩa xã hội của chế độ tài sản chung của vợ chồng
Gia đình được xây dựng trên nền tảng của quan hệ hôn nhân. Khi quan
hệ vợ chồng được xác lập, thì cùng với các quyền, nghĩa vụ nhân thân, vợ
chồng có các quyền, nghĩa vụ tài sản theo quy định của pháp luật. Chế độ tài
sản chung của vợ chồng có ý nghĩa lý luận và thực tiễn vô cùng quan trọng. ở
mỗi nhà nước khác nhau, chế độ tài sản chung của vợ chồng có ý nghĩa khác
nhau xuất phát từ điều kiện kinh tế- xã hội cụ thể trong từng giai đoạn lịch sử
nhất định.
Ở nhà nước Chiếm hữu nô lệ, chế độ tài sản chung của vợ chồng không
đặt ra, bởi vì, pháp luật của nhà nước chiếm hữu nô lệ được ban hành chỉ
nhằm mục đích thể hiện ý chí của chủ nô, bảo vệ mọi quyền lợi của chủ nô và
thực hiện quyền thống trị tuyệt đối của chủ nô đối với nô lệ.
Nhà nước phong kiến do chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của tư tưởng Nho
giáo “trọng nam khinh nữ ”, đề cao lễ giáo và đạo đức phong kiến. Vì vậy,
chế độ tài sản chung của vợ chồng trong gia đình phong kiến chỉ có ý nghĩa
về mặt pháp lý (về hình thức giấy tờ) mà không có giá trị thực tiễn, thực chất
pháp luật phong kiến chỉ nhằm mục đích bảo vệ và củng cố chế độ gia đình
gia trưởng- người có toàn quyền nắm giữ và quyết định mọi vấn đề có liên
quan đến tài sản, đến lợi ích chung của vợ chồng và gia đình và hạ thấp vị trí
của người phụ nữ về mọi mặt. 25
Nhà nước Tư bản ra đời trên cơ sở điều kiện kinh tế - xã hội TBCN,
cho nên hôn nhân theo pháp luật Tư bản chỉ là một “khế ước” giữa nam và nữ
trên cơ sở tiền tài và địa vị xã hội. Chế độ tài sản chung của vợ chồng theo
pháp luật các nước tư bản chỉ có ý nghĩa đề cao vai trò của cá nhân, đề cao
quyền tự do, bình đẳng của từng người, bảo vệ sở hữu tư nhân. Vì vậy, hôn
nhân theo pháp luật các nước TBCN có bản chất khác hẳn với bản chất của

của các bên, khả năng thanh toán của vợ chồng trong các giao dịch với người
thứ ba. Ngoài ra, việc quy định chế độ tài sản chung của vợ chồng còn có ý
nghĩa là tạo cơ sở pháp lý giúp cho Toà án giải quyết các tranh chấp liên quan
đến tài sản chung của vợ chồng, đồng thời tạo sự thống nhất trong cách hiểu
thế nào là tài sản chung và áp dụng chúng trong các trường hợp cụ thể được
đúng đắn, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng.
1.2 ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA VỢ CHỒNG VÀ VIỆC CHIA TÀI SẢN
CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN
1.2.1. Địa vị pháp lý của công dân và quyền bình đẳng nam nữ theo Hiến
pháp Việt Nam
Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được hiểu là những quyền,
nghĩa vụ được Nhà nước quy định trong Hiến pháp - văn bản có hiệu lực pháp
lý cao nhất trong mỗi một Nhà nước. Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân
là cơ sở chủ yếu để xác định địa vị pháp lý của công dân, là cơ sở của mọi
quyền và nghĩa vụ cụ thể của mỗi công dân.
Cách mạng tháng Tám thành công, ngay trong phiên họp đầu tiên của
Chính Phủ ngày 3/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Trước chúng ta
bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém
phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp. Nhân dân ta không được
hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ“.

Trích đoạn Quyền yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Lý do chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Vợ, chồng đầu tư kinh doanh riêng Vợ, chồng phải thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng rẽ Trường hợp có lý do chính đáng khác
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status