nghiên cứu - trao đổi
22
-
T
ạp
chí
luật học
ThS. Nguyễn Phơng Lan *
iều 30 Luật hôn nhân và gia đình
(HN&GĐ) năm 2000 quy định: "Trong
trờng hợp chia tài sản chung của vợ chồng
thì hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đ
đợc chia thuộc sở hữu của mỗi ngời; phần
tài sản còn lại không chia vẫn thuộc sở hữu
chung của vợ chồng". Quy định trên tuy có
cụ thể hơn so với Điều 18 Luật HN&GĐ
năm 1986 song vẫn còn tồn tại một số vấn đề
vớng mắc cần có quan điểm thống nhất về
lí luận cũng nh trong thực tiễn xét xử. Đó là
các vấn đề sau:
1. Quan hệ nhân thân
Việc chia tài sản chung trong thời kì hôn
nhân không làm chấm dứt quan hệ vợ chồng
trớc pháp luật, do đó giữa hai bên vẫn tồn
thoả thuận đợc thì yêu cầu toà án giải
quyết. Đây là điểm khác so với Điều 18 Luật
HN&GĐ năm 1986. Điều 18 Luật HN&GĐ
năm 1986 quy định: "Khi hôn nhân tồn tại,
nếu một bên có yêu cầu và có lí do chính
đáng, thì có thể chia tài sản chung của vợ
chồng theo quy định ở Điều 42 của Luật
này", tức là chia tài sản nh khi li hôn. Vì
vậy, "sau khi chia tài sản chung theo Điều 18
thì nên hiểu chế độ tài sản chung của vợ
chồng sẽ chấm dứt kể từ thời điểm phán
Đ
* Giảng viên chính Khoa t pháp
Trờng đại học luật Hà Nội nghiên cứu - trao đổi
Tạp
chí
luật
học
-
23
quyết của tòa án có hiệu lực pháp luật".
(1)
So
chia và hoa lợi, lợi tức phát sinh từ phần tài
sản đ đợc chia.
Khoản 1 Điều 8 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP
cũng quy định: "Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ
tài sản đ đợc chia thì thuộc sở hữu riêng
của mỗi ngời, trừ trờng hợp vợ chồng có
thoả thuận khác. Ví dụ: Hai vợ chồng có ba
ngôi nhà là tài sản chung, họ thoả thuận chia
mỗi ngời đợc sở hữu riêng một ngôi nhà,
còn một nhà đợc dùng làm chỗ ở chung của
gia đình. Sau khi chia, vợ hoặc chồng có thể
độc lập quyết định việc dùng ngôi nhà đ
đợc chia đó để cho thuê, bán mà không
phụ thuộc vào ý chí của ngời kia. Tiền thuê
nhà là tài sản riêng của mỗi bên. Đối với
những tài sản này vợ, chồng có quyền chiếm
hữu, sử dụng, định đoạt theo quy định tại
Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2000. Vậy trong
trờng hợp này, vợ (chồng) có tài sản riêng
có bị hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng
đó theo quy định tại khoản 5 Điều 33 Luật
HN&GĐ không? Theo quan điểm của chúng
tôi thì trong trờng hợp này vợ, chồng không
bị ràng buộc bởi quy định tại khoản 5 Điều
33 khi định đoạt tài sản riêng của mình vì vợ,
chồng đ có sự thoả thuận trớc về việc chia
tài sản đó.
2.2. Quyền sở hữu chung của vợ chồng
đối với phần tài sản chung
Điều 30 Luật HN&GĐ quy định: "
cho chung, đợc thừa kế chung là tài sản
thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng.
- Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có
đợc sau khi chia tài sản chung. Ví dụ: Đất
đợc Nhà nớc giao, giao khoán, đất mà vợ
chồng thuê của Nhà nớc, đợc chuyển
nhợng, đợc thừa kế chung, cho chung
Trong những trờng hợp này, quyền sử dụng
đất vẫn là tài sản chung của vợ chồng vì theo
quy định tại Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000
thì quyền sử dụng đất mà vợ chồng có đợc
sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng.
- Quyền sử dụng đất mà mỗi bên vợ hoặc
chồng có đợc sau khi chia tài sản chung do
đợc Nhà nớc giao, giao khoán, hoặc đợc
thuê của Nhà nớc Theo quy định tại Điều
27 Luật HN&GĐ năm 2000 và các Điều 24,
25 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP thì đây là
tài sản chung của vợ chồng. Tuy nhiên, sau
khi chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân
thì quyền sử dụng đất mà mỗi bên vợ hoặc
chồng có đợc chỉ là tài sản chung của vợ
chồng nếu nó không liên quan đến lí do chia
tài sản chung của vợ chồng. Ví dụ: Sau khi
chia tài sản chung, vợ hoặc chồng thuê đất
hoặc đợc giao đất để đầu t kinh doanh
riêng hoặc nuôi trồng thuỷ sản thì quyền sử
dụng đất đó là tài sản riêng của mỗi ngời.
Ngợc lại, nếu vợ, chồng yêu cầu chia một
phần tài sản chung để thực hiện nghĩa vụ
một số điểm bất cập và mâu thuẫn sau:
+ Thứ nhất, theo quy định tại Điều 27 thì
tài sản do bất cứ ai, vợ hay chồng tạo ra
trong thời kì hôn nhân đều là tài sản chung
của vợ chồng, không phân biệt mức đóng
góp, mức thu nhập của mỗi bên, không đòi
hỏi phải do cả hai vợ chồng cùng trực tiếp
tạo ra. Khi chia tài sản chung trong thời kì
hôn nhân, vì hôn nhân vẫn đang tồn tại và do nghiên cứu - trao đổi
Tạp
chí
luật
học
-
25
tính chất cộng đồng của hôn nhân chi phối
nên thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất
kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác
của mỗi bên vợ, chồng về nguyên tắc vẫn là
tài sản chung của vợ chồng, trừ trờng hợp
vợ chồng có thoả thuận khác. Nhng theo
quy định tại khoản 2 Điều 8 Nghị định số
70/2001/NĐ-CP thì cần phải hiểu rằng sau
khi chia tài sản chung, mọi tài sản mà vợ
đơng sự có vốn cần thiết để sản xuất kinh
doanh nhng lí do khác quan trọng hơn là vì
lợi ích chung của gia đình, xuất phát từ ý chí
của đơng sự là không muốn những rủi ro
trong hoạt động sản xuất kinh doanh ảnh
hởng đến gia đình, tránh tình trạng khuynh
gia bại sản. Khi chia tài sản chung với mục
đích để đầu t kinh doanh riêng cần phân
biệt hai loại thu nhập phát sinh sau khi chia
tài sản chung là: Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ
phần tài sản đ đợc chia do chính hoạt động
sản xuất kinh doanh đó (loại thu nhập này là
tài sản riêng của vợ, chồng nếu không có
thoả thuận khác) và những thu nhập khác của
vợ, chồng không liên quan đến phần tài sản
đ đợc chia nh: Tiền lơng, tiền thởng,
tiền trợ cấp, tiền đền bù giá trị quyền sử dụng
đất khi giải phóng mặt bằng cũng nh
những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng
nh tiền trúng xổ số vì hôn nhân vẫn còn
tồn tại nên về nguyên tắc tất cả những tài sản
này vẫn thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ
chồng chứ không thể là tài sản riêng của mỗi
bên. Vì vậy, thu nhập do lao động, hoạt động
sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp
pháp khác của mỗi bên sau khi chia tài sản
chung chỉ là tài sản riêng của vợ chồng nếu
những thu nhập đó có đợc gắn liền với
phần tài sản đợc chia, ngợc lại, những thu
nhập đó là tài sản chung của vợ chồng nếu
đình nh thế nào thì lại cha có quy định,
trong khi đó theo quy định tại khoản 2 Điều
8 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP thì toàn bộ
thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất
kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác
của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài
sản riêng của vợ, chồng. Nh vậy, trong
trờng hợp vợ chồng chia hết (chia toàn bộ
tài sản chung) mà sau đó không có tài sản
chung nào khác nh không có tài sản thừa
kế, không đợc tặng cho chung tài sản thì
đời sống chung của gia đình sẽ đợc bảo
đảm nh thế nào? Rõ ràng là về vấn đề này,
quy định trên đ thể hiện sự không đầy đủ,
thiếu chặt chẽ và logic. Trong pháp luật các
nớc, vợ chồng có thể thoả thuận về tài sản
trớc khi kết hôn, có thể phân chia tài sản
chung và bất cứ tài sản nào mà vợ hoặc
chồng có đợc sau khi chia tài sản chung sẽ
là tài sản riêng của ngời đó. Đối với tài sản
mà vợ chồng đợc thừa kế hoặc đợc tặng
cho sau khi chia tài sản chung sẽ trở thành
tài sản riêng chia đều cho cả vợ và chồng.
(2)
Trách nhiệm của vợ, chồng đối với đời sống
chung của gia đình sau khi chia tài sản
chung cũng đợc quy định rõ ràng nh: "
cả hai vợ chồng phải chịu trách nhiệm thanh
toán những chi tiêu của gia đình theo tỉ lệ
sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn
nhân tại nơi vợ chồng c trú để bảo đảm
quyền, lợi ích hợp pháp của ngời thứ ba
giao dịch với vợ chồng.
2.3. Vấn đề khôi phục chế độ tài sản
chung
Trong Luật HN&GĐ năm 2000 không có
quy định nào về việc khôi phục chế độ tài nghiên cứu - trao đổi
Tạp
chí
luật
học
-
27
sản chung sau khi chia tài sản chung. Tuy
nhiên, trong Nghị định số 70/2001/NĐ-CP
tại Điều 9 và 10 lại có quy định về vấn đề
này. Xét về hiệu lực pháp lí, các quy định
của nghị định phải phù hợp với quy định
trong luật vì luật có hiệu lực pháp lí cao hơn,
nghị định chỉ có thể quy định chi tiết việc thi
hành luật mà không thể quy định trái với
luật. Hơn nữa, quy định về việc khôi phục
chế độ tài sản chung của vợ chồng trong nghị
này. Song điều đó rõ ràng không phải là ý
muốn của các nhà lập pháp.
- Thứ ba, việc quy định về khôi phục chế
độ tài sản chung theo chúng tôi là không cần
thiết bởi vì, theo quy định tại khoản 2 Điều
32 Luật HN&GĐ năm 2000 thì "vợ chồng có
quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng
vào khối tài sản chung". Vì pháp luật nớc ta
không quy định vợ chồng có quyền lập hôn
ớc nên khi nhập tài sản riêng vào khối tài
sản chung thì khối tài sản chung đó sẽ tuân
theo chế độ tài sản pháp định, tức là chế độ
sở hữu chung hợp nhất. Việc khôi phục chế
độ tài sản chung thực chất là đem phần tài
sản riêng của mỗi bên vợ, chồng góp vào tài
sản chung và nh vậy chế độ sở hữu chung
của vợ chồng sẽ không còn là sở hữu chung
hợp nhất nữa mà phải là sở hữu chung theo
phần. Điều đó là mâu thuẫn với các quy định
về chế độ sở hữu tài sản của vợ chồng trong
pháp luật nớc ta, làm phức tạp thêm các mối
quan hệ của vợ chồng về tài sản đồng thời
không bảo vệ đợc lợi ích chung của gia
đình một cách có hiệu quả nhất.
Với điều kiện kinh tế hiện nay ở nớc ta,
việc quy định chia tài sản chung trong thời kì
hôn nhân là cần thiết, đáp ứng đợc yêu cầu
của thực tiễn. Song để giải quyết tốt nhất các
tranh chấp có thể xảy ra, bảo đảm hiệu quả
điều chỉnh của pháp luật thì các quy định