nghiên cứu - trao đổi
20 tạp chí luật học số 10/2011
TS. Nguyễn Ph-ơng Lan *
1. Nhng khớa cnh lớ lun v h qu
phỏp lớ ca vic nuụi con nuụi
Vic nhn nuụi con nuụi c c quan
nh nc cú thm quyn cụng nhn theo th
tc lut nh s lm phỏt sinh quan h phỏp
lut cha m v con gia ngi nhn nuụi con
nuụi v ngi c nhn lm con nuụi. Khon
1 iu 3 Lut nuụi con nuụi quy nh: Nuụi
con nuụi l vic xỏc lp quan h cha, m v
con gia ngi nhn con nuụi v ngi
c nhn lm con nuụi.
Quan h cha m v con gia ngi nhn
con nuụi v ngi c nhn lm con nuụi
l quan h cha m v con c bit, vỡ quan
h ny khụng phỏt sinh trờn c s s sinh
t nhiờn v gn vi huyt thng gia hai bờn.
Nu quan h gia cha m v con, v bn
cht l quan h t nhiờn gn vi huyt thng,
phỏt sinh t vic th thai, mang thai, sinh con
thỡ quan h gia cha m nuụi v con nuụi l
quan h cha m v con da trờn ý chớ, tỡnh
cm khụng liờn quan n s sinh v quan
thc nuụi con nuụi y hay nuụi con
nuụi n gin.
Nuụi con nuụi n gin l hỡnh thc xỏc
lp quan h cha m v con gia ngi nhn
nuụi v con nuụi nhng khụng lm chm dt
hon ton cỏc quyn v ngha v phỏp lớ gia
ngi c nhn nuụi vi cha m v gia
ỡnh huyt thng. Hỡnh thc nuụi con nuụi
n gin tn ti ng thi hai quan h cha
* Trng i hc Lut H Ni nghiªn cøu - trao ®æi
t¹p chÝ luËt häc sè 10/2011 21
mẹ và con: quan hệ giữa cha mẹ đẻ - con,
quan hệ giữa cha mẹ nuôi - con nuôi. Do đó
việc quy định các quyền và nghĩa vụ giữa
cha mẹ và con trong hai mối quan hệ này cần
rành mạch, rõ ràng, đầy đủ để có cơ sở pháp
lí điều chỉnh quan hệ giữa các bên.
Nuôi con nuôi đầy đủ (còn gọi là nuôi
con nuôi trọn vẹn) là hình thức nuôi con nuôi
dẫn đến chấm dứt hoàn toàn các mối liên hệ
pháp lí giữa người được nhận nuôi với gia
đình cha mẹ đẻ đồng thời làm phát sinh đầy
đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lí của cha mẹ
và con giữa người nhận nuôi và người được
nhận làm con nuôi, người được nhận làm
con nuôi có mọi quyền và nghĩa vụ như con
đẻ trong gia đình cha mẹ nuôi. Trong hình
nuôi (cha, mẹ nuôi). Vì vậy để đảm bảo
quyền lợi cho đứa trẻ, đảm bảo quyền được
sống trong gia đình của trẻ em, pháp luật các
nước quy định những điều kiện nhận nuôi
con nuôi đầy đủ gắn liền với những hệ quả
pháp lí của hình thức nuôi con nuôi này.
Theo quy định của pháp luật các nước,
hình thức nuôi con nuôi đầy đủ chỉ được
xác lập với những điều kiện chặt chẽ. Theo
pháp luật Cộng hoà Pháp việc nuôi con nuôi
đầy đủ chỉ được xác lập với những trẻ em
mà cả cha và mẹ hoặc hội đồng gia tộc chấp
thuận cho làm con nuôi hoặc những trẻ em
mồ côi được nhà nước đỡ đầu hoặc trẻ em
bị tuyên bố bỏ rơi.
(1)
Trong trường hợp vợ
hoặc chồng nhận con riêng của người kia
làm con nuôi theo hình thức đầy đủ thì
người nhận nuôi con nuôi phải đã kết hôn
với người cha hoặc mẹ đẻ của trẻ, người
cha hoặc người mẹ kia của trẻ bị tước
quyền cha mẹ hoàn toàn hoặc người cha
hoặc người mẹ kia của trẻ chết và không
còn người thân thuộc ở hàng thứ nhất (cha
mẹ) hoặc khi những người này hiển nhiên
không quan tâm đến trẻ.
(2)
Về hệ quả pháp lí, “trong gia đình người
với các thành viên khác trong gia đình cha
mẹ nuôi đồng thời chấm dứt mọi quan hệ
pháp lí với cha mẹ đẻ và với các thành viên
trong gia đình huyết thống.
Do đó, từ góc độ lí luận, hệ quả pháp lí
của việc nuôi con nuôi tuỳ thuộc vào việc
nuôi con nuôi được xác lập theo hình thức
nào. Pháp luật các nước có thể quy định cả
hai hình thức nuôi con nuôi song song nhưng
luôn quy định rõ hậu quả pháp lí gắn với mỗi
hình thức nuôi con nuôi cụ thể. Vì vậy, về
mặt lí luận, hệ quả pháp lí của việc nuôi con
nuôi phải được quy định đầy đủ mối quan hệ
giữa ba bên: cha mẹ đẻ (gia đình gốc), cha
mẹ nuôi (và các thành viên trong gia đình
cha mẹ nuôi) và con nuôi gắn với mỗi hình
thức nuôi con nuôi cụ thể.
2. Những điểm mới về hệ quả pháp lí
của việc nuôi con nuôi theo quy định của
Luật nuôi con nuôi
Hệ quả pháp lí của việc nuôi con nuôi
được quy định tại Điều 24 Luật nuôi con
nuôi. Trong Luật nuôi con nuôi, hệ quả pháp
lí của việc nuôi con nuôi có sự kế thừa các
quy định trong Luật hôn nhân và gia đình
(Luật HN&GĐ) năm 2000 nhưng cũng có
những điểm mới quan trọng. Có thể so sánh
để thấy những điểm giống nhau và khác
nhau cơ bản giữa Luật HN&GĐ năm 2000
với Luật nuôi con nuôi quy định về hệ quả
một bên chết trước…
- Theo yêu cầu của cha mẹ nuôi, cơ quan
nhà nước có thẩm quyền quyết định việc
thay đổi họ tên của con nuôi. Việc thay đổi
họ, tên của con nuôi từ đủ 9 tuổi trở lên phải
được sự đồng ý của người đó.
- Việc xác định dân tộc của con nuôi
được xác định theo quy định của Bộ luật dân
sự. Đối với trẻ em bị bỏ rơi được nhận làm
con nuôi mà không xác định được cha mẹ thì
dân tộc của con nuôi được xác định theo dân
tộc của cha nuôi, mẹ nuôi.
2.2. Điểm mới của Luật nuôi con nuôi so
với Luật HN&GĐ năm 2000
- Thứ nhất, Luật nuôi con nuôi không
những quy định mối quan hệ giữa con nuôi
với cha mẹ nuôi mà còn quy định mối quan
hệ giữa con nuôi với gia đình cha mẹ nuôi.
Khoản 1 Điều 24 Luật nuôi con nuôi quy
định: “Kể từ ngày giao nhận con nuôi, giữa
cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các
quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con; giữa
con nuôi và các thành viên khác của gia
đình cha mẹ nuôi cũng có các quyền, nghĩa
vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật
về hôn nhân và gia đình, pháp luật dân sự và
các quy định khác của pháp luật có liên
quan”. Qua quy định này có thể hiểu là giữa
con nuôi với các thành viên khác trong gia
đình cha mẹ nuôi cũng có các quyền và
thời cũng là vấn đề dễ xảy ra tranh chấp, do
đó cần có quy định rõ ràng để có cơ sở pháp
lí giải quyết khi có tranh chấp.
Luật nuôi con nuôi mới có hiệu lực chưa
lâu, nên tác động điều chỉnh của nó chưa thể
hiện rõ trong thực tế. Tuy nhiên, với cách
quy định không rõ ràng như trên, từ góc độ lí
luận có thể có hai quan điểm cơ bản khác
nhau về hệ quả pháp lí của việc nuôi con
nuôi. Sự phân tích các quan điểm khác nhau
về vấn đề này là cần thiết để có thể xây dựng
những quy định phù hợp, nhất quán, rõ ràng nghiªn cøu - trao ®æi
24 t¹p chÝ luËt häc sè 10/2011
trong việc điều chỉnh pháp luật về hệ quả
pháp lí của việc nuôi con nuôi.
Quan điểm thứ nhất cho rằng giữa con
nuôi với các thành viên khác trong gia đình
cha mẹ nuôi chỉ tồn tại mối quan hệ giữa các
thành viên trong gia đình với nhau, được
điều chỉnh bởi quy định tại Điều 49 Luật
HN&GĐ năm 2000. Với quy định tại Điều
này thì con nuôi chỉ có quan hệ với các
thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi
khi con nuôi sống chung với những thành
viên này, do đó giữa con nuôi và những
thành viên khác trong gia đình của cha mẹ
nuôi chỉ có nghĩa vụ “quan tâm, giúp đỡ
Về quan hệ thừa kế giữa con nuôi với
các thành viên khác của gia đình cha mẹ
nuôi: Với cách hiểu như trên thì giữa con
nuôi với các thành viên khác của gia đình
cha mẹ nuôi, như với cha đẻ, mẹ đẻ; các con
đẻ; anh, chị, em ruột của cha nuôi, mẹ nuôi
sẽ không có quyền thừa kế theo luật của
nhau theo quy định tại Điều 676 Bộ luật dân
sự năm 2005. Tương tự, con nuôi cũng
không được hưởng thừa kế thế vị theo quy
định tại Điều 677 Bộ luật dân sự năm 2005
đối với tài sản của cha đẻ, mẹ đẻ của người
nhận nuôi con nuôi nếu người nhận nuôi chết
trước con nuôi. Quan điểm này đã được thể
hiện tương đối rõ ràng và khá thống nhất
trong các giáo trình luật dân sự của các cơ sở
đào tạo luật trước khi Luật nuôi con nuôi ra
đời.
(5)
Sở dĩ quan điểm về vấn đề này được
nhận thức khá thống nhất là do vấn đề này
đã được quy định trong Nghị quyết số
02/1990/NQ-HĐTP ngày 19/10/1990 của
Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng
một số quy định của Pháp lệnh thừa kế. Nghị
quyết số 02/1990/NQ-HĐTP nêu rõ: “con
nuôi không đương nhiên trở thành cháu của
cha, mẹ của người nuôi dưỡng và cũng
không đương nhiên trở thành anh, chị, em
của con đẻ của người nuôi. Do đó, con nuôi
nuôi con nuôi như trên thì có thể hiểu giữa
con nuôi và các thành viên khác của gia
đình cha mẹ nuôi không có quyền thừa kế
tài sản của nhau “theo quy định của pháp
luật về thừa kế”.
Với cách hiểu như đã phân tích, có thể
nói quan hệ nuôi con nuôi chỉ làm phát sinh
quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi
với người được nhận làm con nuôi, còn giữa
người con nuôi với những thành viên khác
của gia đình cha, mẹ nuôi về cơ bản không
có quyền và nghĩa vụ đối với nhau.
Quan điểm thứ hai cho rằng theo quy
định: “giữa con nuôi với các thành viên
khác của gia đình cha mẹ nuôi cũng có các
quyền, nghĩa vụ đối với nhau theo quy định
của pháp luật về hôn nhân và gia đình,
pháp luật dân sự và các quy định khác của
pháp luật có liên quan” (khoản 1 Điều 24
Luật nuôi con nuôi) thì giữa con nuôi với
các thành viên khác của gia đình cha mẹ
nuôi cũng có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ
giống như con đẻ. Điều này là hợp lí khi
việc nuôi con nuôi được xác lập theo hình
thức nuôi con nuôi đầy đủ. Tuy nhiên, pháp
luật Việt Nam từ trước đến nay chưa có quy
định về việc nhận nuôi con nuôi đầy đủ.
Đặc biệt là việc nuôi con nuôi đầy đủ sẽ dẫn
đến việc chấm dứt mọi quan hệ pháp lí giữa
người được nhận làm con nuôi với cha mẹ
của gia đình cha mẹ nuôi, nên Luật nuôi
con nuôi đã quy định về điều này tại khoản
1 Điều 24. Với cách hiểu này, giữa con nuôi
với các thành viên khác của gia đình cha mẹ
nuôi, mà trước hết là với cha đẻ, mẹ đẻ của
người nhận nuôi, giữa con nuôi với các con
đẻ của người nhận nuôi cũng có các quyền
và nghĩa vụ theo quy định tại Chương V
Luật HN&GĐ năm 2000.
(8)
Điều đó có nghĩa
là giữa họ không chỉ có quyền và nghĩa vụ
được quy định tại Điều 49 Luật HN&GĐ
năm 2000, mà còn có các quyền và nghĩa vụ
đối với nhau theo quy định tại Điều 47, Điều
48 Luật HN&GĐ năm 2000. Khi đã có các
quyền và nghĩa vụ tại các điều này thì giữa
họ cũng có quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng
cho nhau theo quy định tại Điều 58, Điều 59
Luật HN&GĐ năm 2000. Tuy nhiên, như đã
phân tích, quy định này là chưa rõ ràng nên
chưa có cách hiểu thống nhất. Đặc biệt khi
việc nhận con nuôi đầy đủ chưa trở thành
thói quen, nếp nghĩ, cách ứng xử của người
dân Việt Nam thì càng cần phải có quy định
rõ ràng về hệ quả pháp lí của việc nuôi con
nuôi trong mối quan hệ này. Mặt khác, các
quy định có liên quan của pháp luật dân sự
(Nghị quyết số 02/1990/NQ-HĐTP) lại có
quy định rất rõ về các mối quan hệ này và
làm con nuôi. Quy định này là cần thiết để
tránh sự tranh chấp về quyền, nghĩa vụ làm
cha mẹ giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi đối
với con nuôi, khắc phục được điểm hạn chế
của các quy định về hệ quả pháp lí của việc
nuôi con nuôi trong các văn bản trước đây.
Tuy nhiên, với quy định này thì không phải
mọi quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ đẻ và
con đều đương nhiên chấm dứt mà chỉ
những quyền và nghĩa vụ nào được quy
định rõ tại khoản 2 Điều 24 Luật nuôi con
nuôi là chấm dứt thì mới chấm dứt. Điều đó
cũng có nghĩa là về nguyên tắc, quan hệ
pháp lí giữa cha mẹ đẻ và con đẻ đã cho nghiªn cøu - trao ®æi
t¹p chÝ luËt häc sè 10/2011 27
làm con nuôi chấm dứt trước pháp luật khi
việc nhận nuôi con nuôi có hiệu lực nhưng
quan hệ thừa kế giữa người con đó với cha
mẹ đẻ và gia đình huyết thống lại không
đương nhiên chấm dứt, mà vẫn tồn tại, vì
quan hệ thừa kế này không được liệt kê
trong quy định trên là sẽ chấm dứt. Như
vậy, người con đã cho làm con nuôi vẫn có
quyền thừa kế theo luật đối với cha đẻ, mẹ
đẻ và những người họ hàng huyết thống
khác trong gia đình gốc như trước khi đi
làm con nuôi và ngược lại, cha đẻ, mẹ đẻ và
tại. Vì vậy, quy định về việc quan hệ thừa
kế giữa con đã cho làm con nuôi với cha mẹ
đẻ và gia đình huyết thống không đương
nhiên chấm dứt như các quyền và nghĩa vụ
khác là không phù hợp với quy định của
pháp luật quốc tế về hệ quả pháp lí của việc
nuôi con nuôi và cũng không có tính khả thi.
Mặt khác, trong trường hợp giữa cha mẹ
đẻ và cha mẹ nuôi có thoả thuận thì việc
chấm dứt hay tồn tại quyền và nghĩa vụ gì
(kể cả quyền thừa kế) giữa cha mẹ đẻ và con
đã cho làm con nuôi tuỳ thuộc vào sự thoả
thuận giữa hai bên. Về nguyên tắc, cha mẹ
đẻ và cha mẹ nuôi có toàn quyền thoả thuận
với nhau về các quyền và nghĩa vụ làm cha
mẹ đối với người con, trên cơ sở đảm bảo
mục đích của việc nuôi con nuôi là vì lợi ích
tốt nhất của người được nhận nuôi. Việc thoả
thuận giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi bao
gồm các quyền và nghĩa vụ mà cha mẹ đẻ sẽ
được giữ lại đối với con và cách thức thực
hiện những quyền này sau khi đã cho con
làm con nuôi. Việc thoả thuận này được thực
hiện trước khi đăng kí việc nuôi con nuôi tại
cơ quan nhà nước có thẩm quyền và phải
được lập thành văn bản.
(9)
Văn bản ghi nhận
sự thoả thuận giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi
là cơ sở pháp lí để uỷ ban nhân dân xấp xã
của người có công với cách mạng được
người khác nhận làm con nuôi vẫn tiếp tục
được hưởng mọi quyền lợi của con liệt sĩ,
con thương binh, con của người có công với
cách mạng như tại Điều 74 Luật HN&GĐ
năm 2000. Vậy vấn đề này được hiểu như
thế nào theo Luật nuôi con nuôi? Có ý kiến
cho rằng vấn đề này đã được điều chỉnh
trong Pháp lệnh ưu đãi người có công với
cách mạng, do đó “đối với các trường hợp
con nuôi trước đây là con liệt sĩ, con thương
binh, con của người có công với cách mạng,
thì hệ quả pháp lí của việc nuôi con nuôi sẽ
được thực hiện theo quy định của Luật nuôi
con nuôi, còn việc hưởng các quyền lợi của
cha mẹ đẻ sẽ được thực hiện theo quy định
của Pháp lệnh ưu đãi người có công với
cách mạng”.
(10)
Tuy nhiên, việc nhận nuôi
con nuôi thiết lập quan hệ cha mẹ và con
mới, không gắn với huyết thống, nên các
quyền lợi của người con đã cho làm con nuôi
phát sinh trong quan hệ với cha mẹ đẻ không
đương nhiên còn tồn tại mà tuỳ thuộc vào
quy định của pháp luật. Do đó, để các bên
chủ thể hiểu rõ các quyền, nghĩa vụ trong
quan hệ nuôi con nuôi, cũng như áp dụng
pháp luật thống nhất để giải quyết tranh chấp
khi phát sinh thì cần có quy định rõ và thống
các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con
giữa cha mẹ nuôi với con nuôi giữa con nuôi
với các thành viên khác trong gia đình cha
mẹ nuôi như con đẻ của người nhận nuôi, kể
cả quyền thừa kế. Điều đó cũng có nghĩa là
cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi có thể và cần lựa
chọn quyết định xác lập quan hệ nuôi con
nuôi theo hình thức nào, và quyết định đó
của họ chi phối đến hệ quả pháp lí phát sinh
sau khi việc nhận nuôi con nuôi được hoàn
tất về thủ tục.
Do đó, ý chí của cha mẹ đẻ và cha mẹ
nuôi là yếu tố quyết định hệ quả pháp lí của
việc nuôi con nuôi song điều đó phải được
pháp luật ghi nhận. Với logic như vậy thì hệ
quả pháp lí của việc nuôi con nuôi có thể
được quy định theo hai trường hợp:
Thứ nhất, có sự thoả thuận tự nguyện
giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi về các quyền
và nghĩa vụ pháp lí giữa cha mẹ đẻ, cha mẹ
nuôi, con nuôi cũng như giữa con nuôi với
gia đình cha mẹ đẻ hoặc giữa con nuôi với
các thành viên khác trong gia đình của cha
mẹ nuôi. Sự thoả thuận này bao gồm cả hai
hướng: Chấm dứt hoặc giữ lại toàn bộ hay
một phần các quyền và nghĩa vụ pháp lí giữa
các bên chủ thể có liên quan. Sự thoả thuận
này được lập thành văn bản có sự chứng kiến
của cơ quan nhà nước có thẩm quyền công
nhận việc nuôi con nuôi.
Hà Nội, Giáo trình Luật dân sự (tập II), Nxb. Công
an nhân dân, tr. 285 - 286.
(6).Xem: Mục 5, mục 6 Nghị quyết số 02/1990/NQ-
HĐTP.
(7).Xem: Bản thuyết minh về Dự án Luật nuôi con
nuôi của Bộ tư pháp, ngày 30/9/2009.
(8).Xem: Triệu Thị Thu Thuỷ, “Hệ quả pháp lí của
nuôi con nuôi”, Tạp chí dân chủ và pháp luật, số
chuyên đề Pháp luật về nuôi con nuôi, Hà Nội,
2011, tr. 45.
(9).Xem: Điều 20, Điều 21 Luật nuôi con nuôi, khoản 3
Điều 8 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21/3/2011
quy định chi tiết một số điều của Luật nuôi con nuôi.
(10).Xem: Triệu Thị Thu Thuỷ, tlđd, tr. 47.