Từ chia tài sản chung đến thỏa thuận về tài sản của vợ
chồng trong thời kì hôn nhân theo pháp luật Việt
Nam (đê tài NCKH năm thứ 2)
January 23, 2010
Lời mở đầu
Hai người nam nữ khi chưa bước vào hôn nhân, họ là những người có tài sản riêng, hoàn
toàn tự do trong việc định đoạt tài sản của mình. Khi bước vào hôn nhân, điều đó đã khác.
Trong thời kì hôn nhân, hai người phải ràng buộc với nhau bởi rất nhiều bổn phận, nghĩa
vụ và quyền lợi. Lợi ích của họ vì thế đã hòa làm một để trở thành một thứ có tên là lợi ích
gia đình. Thời trước, khi xác lập, thay đổi, chấm dứt một giao dịch, họ chỉ nhân danh lợi
ích gia đình. Tài sản chung là thứ cần có để tạo điều kiện cho việc nhân danh lợi ích gia
đình khi tham gia các giao dịch. Suy cho cùng, tài sản chung hay là tài sản riêng của vợ,
chồng cũng phải được khai thác để nhằm bảo đảm cho sự tồn tại, duy trì và phát triển của
gia đình. Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, diện mạo
của gia đình đã thay đổi đáng kể, chức năng kinh tế của gia đình đã chuyển từ sản xuất
sang tiêu dùng. Cùng với điều đó việc mỗi người có đủ tài sản riêng để đặt cơ sở vật chất
cho các hoạt động nghề nghiệp và các giao dịch do mình thực hiện không phụ thuộc nhiều
vào người còn lại là rất cần thiết. Qui định về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì
hôn nhân là một giải pháp cho vấn đề đó trong bối cảnh chế độ tài sản của vợ chồng trong
Luật Hôn nhân và Gia đình hiện nay là chế độ cộng đồng tạo sản.
Trong thời gian gần đây, số lượng án phải giải quyết về chia tài sản chung của vợ chồng
trong thời kì hôn nhân trong cả nước đang có chiều hướng gia tăng: năm 2004 là 159 vụ,
năm 2005 là 398 vụ, năm 2006 là 404 vụ, năm 2007 là 452 vụ[1]. Qui định về chia tài sản
chung trong thời kì hôn nhân tại Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đã cụ thể hơn so với
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 song vẫn tồn tại nhiều vấn đề cần có quan điểm
thống nhất về lí luận cũng như thực tiễn xét xử. Hơn nữa còn có một vấn đề là việc chia tài
sản chung trong thời kì hôn nhân thường được coi là đi kèm với những mâu thuẫn về tình
cảm của vợ chồng, vì thế mọi người nghĩ chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân là một
việc không tốt. Điều đó cho thấy cần thiết phải có sự nghiên cứu sâu về vấn đề chia tài sản
chung trong thời kì hôn nhân của vợ chồng cũng như có giải pháp cho việc chia tài sản
chung mà vẫn có thể giữ được hạnh phúc gia đình. Chính vì lí do đó mà người viết chọn đề
chồng được xác lập trong khoảng thời gian từ ngày 3/1/1987 đến ngày 1/1/2001 mà đăng
kí kết hôn trong khoảng từ ngày 1/1/2001 đến ngày 1/1/2003 (thời kì hôn nhân được tính từ
ngày quan hệ vợ chồng thực tế được xác lập đến ngày chấm dứt hôn nhân)[3]
Tài sản chung
Tài sản chung là tài sản thuộc sở hữu của nhiều chủ sở hữu. Tuy nhiên khái niệm tài sản
chung được đề cập ở đây chỉ là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng, tức là
tài sản thuộc sở hữu của cả vợ và chồng mà với tài sản đó phần quyền sở hữu của mỗi
người không được xác định.
Chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân
Việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân không được định nghĩa trong các văn bản
pháp luật, có lẽ nhà làm luật cho rằng cụm từ chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân đã
đủ để phản ánh khái niệm đó. Theo người viết có thể tạm định nghĩa: chia tài sản chung
trong thời kì hôn nhân là việc chuyển một phần hoặc toàn bộ các tài sản thuộc sở hữu
chung hợp nhất của vợ chồng thành các tài sản thuộc sở hữu riêng của vợ hoặc chồng, hay
sở hữu chung theo phần của vợ chồng.
1.1.2. Đặc điểm của việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân
Chế định chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân chỉ có thể tồn tại khi pháp luật ghi nhận
quyền bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng vì nếu không ghi nhận quyền bình
đẳng về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng thì vợ chồng sẽ không được bình đẳng trong
chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản, mà mục đích của vợ chồng khi chia tài sản chung là
để cho vợ hoặc chồng hoặc cả hai có thể tự do định đoạt với những tài sản được chia.
Việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân chỉ có thể thực hiện được trong thời kì hôn
nhân, việc chia tài sản thuộc sở hữu chung của hai người chưa kết hôn hay chia tài sản của
hai người đã li hôn đều không thể coi là chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn
nhân.
Việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân chỉ có thể thực hiện khi tồn tại khối tài sản
chung vì nếu khối tài sản chung không thể tồn tại thì không có đối tượng để chia. Tuy
nhiên một số trường hợp cũng có thể chia với khối tài sản chung chưa thuộc sở hữu của vợ
chồng trong hiện tại nhưng sẽ phát sinh trong tương lai[4].
Việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân không làm chấm dứt hoàn toàn sở hữu
đoàn kết để tồn tại, chính vì thế mà người ta thường lạ lẫm với việc rạch ròi về tài sản, nhất
lại là tài sản của vợ chồng, nếu như cặp vợ chồng nào có sự độc lập về tài chính với nhau
hay sự phân định “của anh, của tôi” thì thường bị người ta chê cười. Sang thời đại của
công nghệ thông tin, của internet, của thẻ tín dụng, của toàn cầu hóa sự độc lập của mỗi cá
nhân không thể bị bó buộc trong lối tư duy cũ đó nữa. Và con người thực sự cần sự độc lập
hơn về tài chính để có thể tồn tại trong xã hội hiện đại. Việc chia tài sản trong chung trong
thời kì hôn nhân như một giải pháp để dung hòa giữa truyền thống xưa và tư duy của ngày
nay.
1.2. KHÁI QUÁT VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG TRONG THỜI KÌ HÔN NHÂN
THEO QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM QUA CÁC THỜI
Như đã nói ở trên người Việt Nam tự ngàn xưa đã luôn coi trọng sự ổn định, với tư duy
“an cư thì mới lạc nghiệp”, gia đình với người Việt Nam luôn được đặt lên hàng đầu, và sự
phân chia tài sản trong thời kì hôn nhân trong cố luật là không thể có.
Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân trong pháp luật Việt Nam
trước khi Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 có hiệu lực là không hề có. Tuy một số
luật dưới thời Ngụy quyền, thời Pháp thuộc do ảnh hưởng của pháp luật phương Tây cũng
qui định cho vợ chồng được thỏa thuận về tài sản trong hôn ước (lập trước khi kết hôn),
nhưng hôn ước này thì lại bất di bất dịch nên việc chia tài sản chung không thể được thực
hiện trong thời kì hôn nhân.
Qui định về chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân lần đầu tiên xuất hiện trong pháp luật
Việt Nam tại Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986.
1.2.1. Chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân trong Luật Hôn nhân và Gia đình
năm 1986
Theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 chế độ tài sản vợ chồng là chế độ tài sản pháp
định, tài sản chung của vợ chồng “gồm tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra, thu nhập về nghề
nghiệp và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản mà
vợ chồng được thừa kế chung hoặc được cho chung”[6]. Luật không qui định rằng những
tài sản mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung thì cũng thuộc khối tài sản chung nhưng lại
qui định “đối với tài sản mà vợ chồng có trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng hoặc
được cho riêng trong thời kì hôn nhân thì người có tài sản đó có quyền nhập hoặc không
thuận chia tài sản chung bằng văn bản bên cạnh việc chia tài sản chung bằng quyết định
của tòa án
Luật đã dự liệu về hậu quả pháp lí của việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân, và
theo qui định về tài sản chung thì vợ chồng cũng có thể nhập lại tài sản đã được chia vào
khối tài sản chung theo căn cứ xác lập tài sản chung là thỏa thuận của vợ chồng.
Vấn đề qui định của pháp luật về chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân sẽ được làm rõ
hơn ở chương 2.
1.3. MỘT SỐ CHẾ ĐỊNH TƯƠNG TỰ TRONG PHÁP LUẬT CỦA MỘT SỐ
NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
Do sự khác nhau về nền văn hóa và các điều kiện kinh tế, chính trị những hình thức có thể
coi là chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân ở một số nước có sự khác nhau nhất định
với Việt Nam. Sau đây xin được điểm qua một số hình thức tương tự chia tài sản chung
trong thời kì hôn nhân.
1.3.1. Chế định chia tài sản vợ chồng trong thời kì hôn nhân theo Bộ luật Dân sự và
Thương mại Thái Lan[13]
Quyền sở hữu của vợ chồng ở Thái Lan được điều chỉnh bằng hai phương thức: theo hôn
ước mà vợ chồng lập ra trước khi cưới và theo qui định của pháp luật khi vợ chồng không
có hôn ước hoặc hôn ước đó không được công nhận.
Theo qui định của pháp luật Thái Lan kể từ thời điểm kết hôn vợ chồng sẽ phát sinh quan
hệ tài sản chung với những tài sản có nguồn gốc sau:
Tài sản vợ chồng làm ra trong thời kì hôn nhân.
Tài sản mà vợ chồng có được trong thời kì hôn nhân thông qua một di chúc hoặc tặng cho
được làm bằng văn bản nếu trong các văn bản này tuyên bố rõ tài sản đó là tài sản chung.
Hoa lợi phát sinh từ tài sản riêng
Ngoài ra trong trường hợp tài sản có nguồn gốc hợp pháp khác nhưng không chứng minh
được nó là của riêng một bên vợ, chồng thì tài sản đó dược coi là tài sản chung[14].
Tài sản chung của vợ chồng chỉ có thể chia trong thời kì hôn nhân trong các trường hợp cụ
thể sau:
Một bên vợ hoặc chồng có nghĩa vụ tài sản riêng nhưng không có hoặc không đủ tài sản
riêng để thực hiện, phải thực hiện bằng phần tài sản của mình trong khối tài sản chung[15]
của tòa án bằng việc qui định rõ về việc chia tài sản, về quyền nuôi con, về việc cấp dưỡng.
Hậu hôn ước loại này được bao gồm với bản án li hôn của tòa án.
Hậu hôn ước qui định về quyền lợi về tài sản trong thời kì hôn nhân bao gồm: qui định về
việc giới hạn hay từ bỏ việc cấp dưỡng; đặt khối tài sản có được trong suốt thời kì hôn
nhân trong tình trạng riêng biệt.
Như vậy có thể nói kiểu hậu hôn ước thứ ba cũng là một hình thức chia tài sản chung trong
thời kì hôn nhân, hậu hôn ước này phải được lập thành văn bản có chữ kí của cả hai vợ
chồng, giá trị của hậu hôn ước chỉ được công nhận khi tài sản riêng của nhau được các bên
biết rõ, không có sự hăm dọa, gian dối hay cưỡng bức trong việc lập hôn ước. Sau khi lập
hậu hôn ước, chế độ tài sản của vợ chồng là chế độ biệt sản.
1.3.3. Qui ước về tài sản trong luật Hôn nhân của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (sửa
đổi năm 2001)[21]
Quyền sở hữu của vợ chồng ở Trung Quốc được điều chỉnh theo phương thức qui ước của
vợ chồng song song với những qui định của pháp luật:
Theo qui định của điều 17 Luật Hôn nhân của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (sửa đổi năm
2001) thì:
“Trong thời gian còn duy trì quan hệ hôn nhân những tài sản dưới đây thuộc về sở hữu
chung của hai vợ chồng
Lương, tiền thưởng
Lợi nhuận từ sản xuất và kinh doanh
Lợi nhuận từ quyền sở hữu tài sản trí thức
Tài sản có được nhờ thừa kế, hiến tặng nhưng ngoài quy định tại điều 18 chương 3 của luật
này
Những tài sản khác mà cần thuộc về sở hữu chung.
Đối với những tài sản thuộc sở hữu chung, hai vợ chồng bình đẳng về quyền xử lí”.
Tuy nhiên Luật Hôn nhân (sửa đổi năm 2001) có qui định cho vợ chồng qui ước để những
tài sản trên không còn là tài sản chung nữa. Theo điều 19:
“Hai vợ chồng có thể qui ước những tài sản có được trong thời gian quan hệ hôn nhân còn
duy trì và những tài sản trước hôn nhân thuộc về sở hữu cá nhân, sở hữu chung hoặc sở
hữu cá nhân bộ phận, sở hữu chung bộ phận.
trong thời kì hôn nhân; các tài sản có được do thu nhập hợp pháp trong thời kì hôn nhân;
các tài sản do được thừa kế chung, tặng cho chung; các tài sản mà vợ chồng thỏa thuận là
tài sản chung.
Thu nhập hợp pháp của vợ, chồng trong thời kì hôn nhân
Các thu nhập có tính ổn định
Thu nhập hợp pháp của vợ chồng trong thời kì hôn nhân trước hết phải kể đến các khoản
thu nhập có tính chất ổn định của vợ, chồng như lương, lợi nhuận do hoạt động kinh doanh
mang lại, hoa lợi lợi tức có tính chất ổn định như tiền do bán cây ăn quả lâu năm, tiền cho
thuê nhà…Những thu nhập này thường là nguồn thu nhập chính, ổn định để đảm bảo cho
cuộc sống chung của gia đình. Theo điều 233 Bộ luật Dân sự thì người lao động, người
tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh có quyền sở hữu đối với tài sản tạo ra đó[24],
nhưng theo Luật Hôn nhân và Gia đình thì tài sản đó được qui định là thuộc sở hữu chung
của vợ chồng. Theo điều 235 Bộ luật Dân sự thì “chủ sở hữu, người sử dụng tài sản có
quyền sở hữu đối với hoa lợi, lợi tức theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật, kể
từ thời điểm thu được hoa lợi, lợi tức đó” như vậy có thể thấy nếu tài sản gốc là tài sản
chung thì hoa lợi lợi tức tất nhiên sẽ thuộc tài sản chung của vợ chồng, nhưng nếu tài sản
gốc là tài sản riêng của một người thì hoa lợi lợi tức phát sinh trong trường hợp này cũng
thuộc khối tài sản chung theo qui định của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Các thu nhập có tính chất bất thường
Một số thu nhập có tính chất bất thường, sự phát sinh ra nó là bất thường hoặc có thể là bất
ngờ với chủ sở hữu. Các thu nhập này có thể là do trúng xổ số, trúng thưởng, được hưởng
các loại khuyến mại bất ngờ, hoặc cũng có thể là lợi tức bất thường: cổ phiếu đột ngột lên
giá… Trong các trường hợp này chỉ cần quyền sở hữu đối với chủ sở hữu (vợ hoặc chồng
hoặc cả hai) được xác lập thì tài sản đó được coi là tài sản chung. Ví dụ một người mua xổ
số trước ngày kết hôn, sau khi kết hôn thì có kết quả và trúng số độc đắc, số tiền thưởng sẽ
là tài sản chung của vợ chồng.
Tài sản được tạo ra trong thời kì hôn nhân
Tài sản tạo ra trong thời kì hôn nhân có thể thuộc một trong các trường hợp sau[25]:
Tài sản tạo ra do trộn lẫn, sáp nhập, chế biến (các điều 236, 237, 238 Bộ luật Dân sự)
Trong trường hợp này nếu tất cả các tài sản được đem sáp nhập trộn lẫn chế biến là tài sản
Với các trường hợp này, dù tiền dùng để mua, tài sản dùng để trao đổi, tài sản dùng để thế
chấp cầm cố… là tài sản riêng hay chung thì những tài sản mua được, đổi được, vay
được….có được thông qua sự thỏa thuận này cũng thuộc khối tài sản chung. Theo qui định
pháp luật thì việc định đoạt tài sản chung của vợ chồng theo nguyên tắc thỏa thuận, dễ
nhận thấy một điều như sau: một căn nhà thuộc sở hữu riêng của anh chồng, trong trường
hợp nó không phải là có giá trị lớn so với tổng số tài sản của hai vợ chồng, anh chồng có
thể tự do định đoạt, có thể cho, tặng bất cứ ai tùy ý, vì đó là tài sản riêng của anh ta, nhưng
khi bán đi thì lại không thể tự do cho ai đó chính số tiền bán nhà vì số tiền đó lúc này đã là
tài sản chung của vợ chồng. Thậm chí do luật chỉ qui định là tài sản tạo ra trong thời kì hôn
nhân nên “trong trường hợp vợ hoặc chồng giao kết hợp đồng mua tài sản và đã trả tiền
trước khi kết hôn, nhưng quyền sở hữu đối với tài sản chỉ được chuyển cho người mua sau
khi kết hôn thì tài sản mua được cũng là tài sản chung”[28]. Ví dụ một người mua một căn
nhà trước khi cưới, đã trả tiền đầy đủ, chỉ chưa làm giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà,
sau khi kết hôn căn nhà mới chính thức thuộc quyền sở hữu của người đó, khi đó căn nhà
là tài sản chung của vợ chồng.
* Như vậy ta nhận thấy bất cứ tài sản nào hợp pháp tạo ra trong thời kì hôn nhân cũng
thuộc khối tài sản chung, bất kể nguồn gốc, cách thức để tạo ra nó.
Các tài sản do được thừa kế chung, tặng cho chung
Thừa kế chung
Theo căn cứ xác lập quyền sở hữu do được thừa kế và các qui định về thừa kế thì nếu
người có di sản thừa kế chỉ rõ trong di chúc là để lại tài sản thừa kế cho cả hai vợ chồng
thừa kế chung thì đó mới được coi là tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng. Nếu là thừa
kế theo di chúc mà người thừa kế theo di chúc chỉ là một người hoặc thừa kế theo pháp luật
mà chỉ có một người được hưởng thừa kế thì đương nhiên tài sản thừa kế là tài sản riêng
của vợ hoặc chồng. Nếu di chúc chỉ rõ là cho cả hai vợ chồng được thừa kế tài sản nhưng
lại chỉ rõ phần quyền của mỗi người thì tài sản đó thuộc sở hữu chung theo phần của hai
người theo qui định của Bộ luật Dân sự (không phải là sở hữu chung hợp nhất của vợ
chồng). Nếu hai người được thừa kế theo pháp luật (trường hợp cha mẹ được thừa kế tài
sản của con, hoặc trường hợp con đẻ kết hôn với con nuôi, con nuôi kết hôn với con nuôi
được thừa kế tài sản của cha mẹ…) thì tùy từng trường hợp có thể coi đây tài sản riêng của
giao đất hoặc cho thuê đất[30]. Việc qui định riêng về quyền sử dụng đất có lẽ chỉ để làm
rõ về chế độ pháp lí của loại tài sản này trong quan hệ vợ chồng.
Tài sản có được do được bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Các trường hợp tài sản có được là tài sản do được bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
trong các trường hợp tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi
ích hợp pháp khác của vợ hoặc chồng hoặc cả hai bị xâm phạm có phải là tài sản chung