nghiên cứu - trao đổi
26 Tạp chí luật học số 5/2003
h ti sn chung ca v chng
c quy nh ti cỏc iu 27, 28
Lut hụn nhõn v gia ỡnh (HN&G) nm
2000 l ch ti sn phỏp nh vi hỡnh
thc ch cng ng to sn (ti sn m
v, chng cú c trong thi kỡ hụn nhõn
c xỏc nh l ti sn chung, tr nhng
ti sn theo quy nh ca phỏp lut thuc
s hu riờng ca v, chng). V nguyờn
tc, khi hụn nhõn cũn tn ti thỡ ti sn
chung cng vn cũn tn ti, ch ti sn
ny ch chm dt khi hụn nhõn chm dt
v mt phỏp lớ (li hụn; mt bờn v, chng
cht hoc b to ỏn tuyờn b l ó cht).
Tuy nhiờn, trờn thc t nhiu cp v
chng mun c chia ti sn chung trong
thi kỡ hụn nhõn (cú th xut phỏt t mõu
thun gia v chng trong qun lớ s dng,
nh ot ti sn chung, t mõu thun v
tỡnh cm song h khụng mun li hụn
nhng mun c c lp v ti sn
iu 8 Ngh nh s 70, phn ti sn m
v, chng c chia, hoa li, li tc t ti
sn riờng, thu nhp do lao ng, hot ng
sn xut kinh doanh v nhng thu nhp
C
* Ging viờn Khoa luật dân sự
Trng i hc lut H Ni
T
h
S. Nguyễn Hồng Hải
* nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học số 5/2003 27
hp phỏp khỏc ca v, chng sau khi chia
ti sn chung l ti sn riờng ca mi bờn
tr khi v chng cú tho thun khỏc.
Trong bi vit ny, chỳng tụi khụng i
sõu phõn tớch cỏc iu kin v hu qu
phỏp lớ ca chia ti sn chung trong thi kỡ
hụn nhõn theo tinh thn ca phỏp lut thc
nh m chỳng tụi mun a ra mt s
vng mc cn cú s quy nh hoc hng
dn c th hn.
(2)
chng c cho rng v chng khụng cú
tho thun hoc khụng yờu cu tũa ỏn chia
ti sn chung trong thi kỡ hụn nhõn nhm
mc ớch trn trỏnh thc hin ngha v v
ti sn thỡ ngi cú quyn cú th yờu cu
to ỏn chia ti sn chung ca v chng
trong thi kỡ hụn nhõn ly phn ti sn
ca ngi v hoc ngi chng cú ngha
v thc hin thanh toỏn cỏc khon n. Yờu
cu ca ngi cú quyn s khụng c to
ỏn cụng nhn nu vic chia ti sn chung
nh hng nghiờm trng n li ớch gia
ỡnh ca ngi cú ngha v hoc bn thõn
v, chng cú ngha v cú ti sn riờng
thanh toỏn cỏc khon n.
2. Khon 1 iu 29 Lut HN&G nm
2000 quy nh v chng cú th yờu cu to
ỏn gii quyt vic chia ti sn chung trong
thi kỡ hụn nhõn nu khụng cú hoc khụng
tho thun c. Tuy nhiờn, Lut HN&G
nm 2000 v cỏc vn bn hng dn cú
liờn quan cha quy nh c th nguyờn tc
chia ti sn chung ca v chng trong thi
kỡ hụn nhõn khi vic chia ti sn chung ú
thuc thm quyn ca to ỏn. Do ú, trong
thc tin ỏp dng, to ỏn s gp khú khn
khi vn dng cn c phỏp lớ gii quyt
cỏc tranh chp phỏt sinh. Trc õy, iu
18 Lut HN&G nm 1986 ó quy nh:
Khi hụn nhõn cũn tn ti, nu mt bờn
thuộc về người đó thì khi đó lợi ích gia
đình được đặt ở vị trí nào? Nếu thoả thuận
này được thực hiện thì quan hệ hôn nhân
chỉ còn tồn tại về mặt nhân thân còn quan
hệ tài sản giữa vợ chồng đã được dân sự
hóa, bản chất của hôn nhân XHCN vì thế
không được thực hiện.
Theo chúng tôi, để phát huy được mục
đích, ý nghĩa của chia tài sản chung trong
thời kì hôn nhân cần bổ sung vào khoản 1
Điều 6 Nghị định số 70 một nội dung bắt
buộc trong văn bản thỏa thuận chia tài sản
chung của vợ chồng là tài sản bảo đảm cho
các nhu cầu chung của gia đình.
Ngoài ra, cũng cần quy định cụ thể:
Trong trường hợp vợ chồng không thoả
thuận được việc bảo đảm các nhu cầu
chung của gia đình thì có thể yêu cầu tòa
án giải quyết. Toà án quyết định mức đóng
góp của các bên trên cơ sở nhu cầu thực tế
của gia đình và khả năng kinh tế của các
bên hoặc quyết định không chia toàn bộ tài
sản chung, phần tài sản chung không chia
được sử dụng cho nhu cầu của gia đình.
4. Khoản 2 Điều 29 Luật HN&GĐ năm
2000 và Điều 11 Nghị định số 70 quy định
theo yêu cầu của những có quyền, lợi ích
liên quan việc chia tài sản chung trong thời
kì hôn nhân có thể bị toà án tuyên bố là vô
hiệu nếu việc chia tài sản chung đó vi
thuộc sở hữu chung căn cứ vào sự thoả
thuận của vợ chồng. Theo chúng tôi, quy
định này đã trao cho vợ chồng quyền hạn
quá rộng. Việc vợ chồng có quyền chia tài
sản chung trong thời kì hôn nhân đồng thời
có quyền khôi phục chế độ tài sản chung
mà không cần có sự xem xét của toà án đã
đưa Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000 trở
thành hình thức, chế độ tài sản pháp định
không đảm bảo đúng bản chất pháp lí của
nhà làm luật đề ra. Theo quan điểm của
chúng tôi, việc khôi phục chế độ tài sản
chung có nghĩa là khôi phục chế độ tài sản
pháp lí được quy định tại Điều 27 Luật
HN&GĐ năm 2000, do đó khi thoả thuận
khôi phục chế độ tài sản chung của vợ
chồng có hiệu lực, những tài sản có nguồn
gốc được quy định tại Điều 27 phải được
xác định là tài sản chung của vợ chồng.
Pháp luật chỉ nên trao cho vợ, chồng quyền
thoả thuận về tài sản chung đối với những
tài sản riêng được quy định tại Điều 32
Luật HN&GĐ năm 2000.
6. Việc chia tài sản chung của vợ
chồng trong thời kì hôn nhân theo quy định
của pháp luật không làm thay đổi quan hệ
nhân thân giữa vợ và chồng và quan hệ
giữa cha mẹ và con. Thực tế, việc vợ
chồng chia tài sản chung trong trường hợp
này đã phản ánh những mâu thuẫn tồn tại
Điều 18 Luật HN&GĐ năm 1986”, Tạp chí luật
học, số 1/1995, tr. 24;
- Nguyễn Phương Lan, “Hậu quả pháp lí
của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời
kì hôn nhân”, Tạp chí luật học số 6/2002, tr. 22.