Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời
kì hôn nhân và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về vấn đề này Gia đình là tế bào của xã hội được xây dựng trên cơ sở gắn bó với nhau do hôn
nhân, quan hệ huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong đó nền tảng nhất là quan hệ hôn
nhân. Cuộc sống chung của vợ chồng khi hôn nhân được xác lập luôn luôn đòi hỏi
phải có một khối tài sản để chăm lo cho cuộc sống gia đình. Nhằm bảo đảm lợi ích
cho vợ, chồng, tôn trọng quyền sở hữu tài sản riêng của công dân cũng như tạo cho
họ có những điều kiện tốt để sản xuất kinh doanh thì Luật Hôn nhân và gia đình
năm 2000 đã công nhận quyền có tài sản riêng của vợ chồng. Trong đó thì việc chia
tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân là một căn cứ đặc biệt hình thành
tài sản riêng của vợ chồng. Luật Hôn nhân và gia đình đã có những quy định khá cụ
thể về vấn đề này, tuy nhiên cũng có những vướng mắc khi áp dụng trong thực tế
cũng như xác định hậu quả pháp lí khi chia tài sản chung vợ chồng trong thời kì hôn
nhân. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này sau đây em xin được đi sâu làm rõ đề bài: “Hậu
quả pháp lý của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân và một
số
giải
pháp
hoàn
thiện
pháp
luật
về
vấn
bộ các tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng thành các tài thuộc sở hữu
riêng của vợ hoặc chồng, hay sở hữu chung theo phần của vợ chồng.
Theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình hiện hành, trong trường hợp có
lý do chính đáng, việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân có thể
được thực hiện thông qua thỏa thuận bằng văn bản giữa vợ và chồng, hoặc bản án,
quyết định của Tòa án. Khi chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân, quan hệ nhân
thân giữa vợ và chồng không thay đổi. Đây là điểm khác biệt nhất của chế định này
so với chế định ly thân được quy định trong pháp luật của một số nước phương Tây.
Tuy nhiên quan hệ sở hữu giữa vợ và chồng về tài sản đã có sự thay đổi nhiều. Theo
Điều 30 Luật Hôn nhân và gia đình và Điều 8 Nghị định 70/ 2001/NĐ-CP phần tài
sản mà vợ, chồng được chia, hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng, thu nhập do lao động,
hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng sau
khi chia tài sản chung là tài sản riêng của mỗi bên trừ vợ chồng có thỏa thuận khác.
2.2. Lý do chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân
- Do các điều kiện kinh tế, xã hội ngày càng phát triển, nền kinh tế thị trường do
tính chất của công việc, nghề nghiệp của vợ chồng cần tự chủ trong các trường hợp
đầu tư kinh doanh, nếu sử dụng tài sản chung vợ chồng để đầu tư, kinh doanh sẽ
ảnh hưởng đến quyền và lợi ích chung của gia đình trong trường hợp việc đầu tư
kinh doanh đó gặp rủi ro. Để bảo vệ quyền và lợi ích chung của gia đình cũng như
tôn trọng quyền tự định đoạt của cá nhân quyền tự do kinh doanh được pháp luật
công nhận, viêc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân đc luật Hôn nhân và gia
đình năm 2000 công nhận.
-Do cuộc sống chung vợ chồng khó tránh khỏi những xung đột, mâu thuẫn, nhiều
trường hợp chỉ muốn yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng mà không muốn ly
hôn mà chỉ muốn có tài sản để thực hiện việc đầu tư, kinh doanh…Đáp ứng nhu cầu
này của vợ chồng nhằm mục đích xây dựng gia đình êm ấm, hạnh phúc và ổn định
quan hệ xã hội, pháp luật cho phép vợ chồng có quyền chia tài sản chung ngay khi
hôn nhân còn tồn tại.
tự do kinh doanh của cá nhân, nếu một trong hai vợ chồng muốn đầu tư kinh doanh
riêng thì có thể chia tài sản chung của vợ chồng, tạo điều kiện cho vợ chồng có tài
sản riêng làm vốn đầu tư kinh doanh. Mặt khác, quy định này còn nhằm bảo vệ lợi
ích của gia đình, bảo đảm cuộc sống ổn định của các thành viên trong gia đình tránh
khỏi những ảnh hưởng tiêu cực của hoạt động đầu tư kinh doanh gây ra.
- Trường hợp vợ chồng phải thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng: Nếu vợ (chồng) phải
thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc tài sản riêng không đủ để thực hiện nghĩa vụ
thì vợ chồng có thể chia tài sản chung để giúp người có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ
của mình.
- Trường hợp có lí do chính đáng khác: Việc xác định có lý do chính đáng để chia
tài sản chung của vợ chồng thì khi hôn nhân tồn tại là xuất phát từ lợi ích của gia
đình, lợi ích của vợ chồng hoặc của người thứ ba. Vì vậy, lí do chính đáng khác để
chia tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhân còn tồn tại tùy từng trường hợp có
khác nhau.
Tuy nhiên, bên cạnh đó thì luật Hôn nhân và gia đình đã dự liệu trước trường hợp
vợ chồng có thể lạm dụng quyền của mình trong việc chia tài sản chung gây hậu
quả xấu, xâm phạm đến các lợi ích khác được pháp luật bảo vệ. Vì thế, khoản 2
Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã quy định: “2. Việc chia tài sản
chung của vợ chồng nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản không được pháp
luật công nhận”
2.4. Nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân.
- Trường hợp chia theo thỏa thuận của vợ chồng bằng văn bản
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài
sản chung”. Nếu vợ chồng thỏa thuận được trong việc chia tài sản thì sư thỏa thuận
đó được lập thành văn bản và được Nhà nước công nhận. Theo điều 6 Nghị định
70/2001/NĐ-CP quy định văn bản thỏa thuận của vợ chồng về chia tài sản chung
phải đáp ứng được những yêu cầu sau đây: Lý do chia tài sản; Phần tài sản chia
(bao gồm bất động sản, động sản, các quyền tài sản); trong đó cần mô tả rõ những
công dân: quyền đối với họ tên, quyền xác định lại dân tộc, quyền tự do tín ngưỡng
tôn giáo. Các quyền và nghĩa vụ phát sinh nhân thân giữa vợ chồng phát sinh từ khi
kết hôn vẫn được duy trì không thay đổi so với trước khi chia tài sản chung vợ
chồng. Theo quy định tại điều 18 Luật hôn nhân và gia đình: “Vợ chồng chung thủy,
thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình no
ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững”. Mặc dù chia tài sản chung nhưng
quan hệ hôn nhân vẫn chưa chấm dứt nên vợ chồng vẫn có quyền hạn và nghĩa vụ
ngang nhau về mọi mặt trong gia đình: vợ chồng có nghĩa vụ tôn trọng và giữu gìn
danh dự, nhân phẩm và uy tín cho nhau (Điều 21); vợ chồng tôn trọng quyền tự do
tín ngưỡng, tôn giáo của nhau, không được cưỡng ép, cản trở nhau theo hoặc không
theo một tôn giáo nào (Điều 22); Vợ chồng có thể ủy quyền cho nhau xác lập, thực
hiện và chấm dứt các giao dịch mà theo quy định của pháp luật phải có sự đồng ý
của cả vợ chồng; việc ủy quyền phải được lập thành văn bản.Vợ, chồng đại diện
cho nhau khi một bên mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có đủ điều kiện làm
người giám hộ hoặc khi một bên bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà bên kia
được Tòa án chỉ định làm người đại diện theo pháp luật cho người đó ( Điều 24);
Vợ, chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau theo quy định của pháp luật về thừa
kế. Khi vợ hoặc chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì bên còn sống
quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người
khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di
sản.(Điều 3).
Tuy nhiên việc quy định vợ chồng có quyền chia tài sản chung trong thời kì hôn
nhân không phải gián tiếp quy định chế độ ly thân. Luật Hôn nhân và gia đình Việt
Nam không quy định chế định ly thân. Ly thân được hiểu là một chế định pháp luật
và là một thuật ngữ pháp lý để chỉ trường hợp vợ chồng phải sống riêng rẽ và tách
bạch về tài sản mà pháp luật nhiều nước tư sản và hệ thống pháp luật hôn nhân gia
đình dưới chế độ cũ ở nước ta quy định. Có thể thấy rằng, mặc dù có nhiều điểm
tương đồng với chế định ly thân dưới chế độ phong kiến, thực dân nhưng việc chia
Điều 30 thì quan hệ tài sản của vợ chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kì
hôn nhân đã có sự thay đổi. Chế độ cộng đồng tài sản dưới hình thức sở hữu chung
chấm dứt, thay vào đó hình thành hai chủ sở hữu với hai khối tài sản riêng biệt. Vợ
chồng có thể thỏa thuận hoặc yêu cầu tòa án chia toàn bộ hoặc một phần tài sản
chung. Nếu chia toàn bộ tài sản chung thì phần của mỗi người sau khi chia và hoa
lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thuộc sở hữu chung của mỗi người. Nếu
chia một phần tài sản trong khối tài sản chung thì chỉ có một phần tài sản đã được
chia và hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia mới là tài sản riêng của mỗi
người. Phần tài sản chung còn lại không chia vẫn thuộc khối tài sản thuộc sở hữu
chung hợp nhất của vợ chồng. Theo quy định của luật Hôn nhân và gia đình thì hoa
lợi, lợi tức phát sinh từ khối tài sản chung đương nhiên thuộc khối tài sản chung của
vợ chồng. Sau khi chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân thì những
thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi bên vợ, chồng là tài
sản riêng của vợ chồng. Cụ thể, tại điều 8 Nghị định 70/2001/NĐ- CP quy định về
hậu quả chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kì hôn nhân:“1. Hoa lợi, lợi tức
phát sinh từ tài sản đã được chia thì thuộc sở hữu riêng của mỗi người, trừ trường
hợp vợ chồng có thoả thuận khác.
Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ phần tài sản chung còn lại vẫn thuộc sở hữu chung
của vợ, chồng”.
Quy định này giúp cho việc phân định tài sản riêng của vợ chồng trở nên rõ ràng,
minh bạch, tránh xảy ra tranh chấp về tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng, sau
khi chia tài sản riêng của vợ chồng quan hệ hôn nhân vẫn tồn tại. Đây là điểm khác
biệt so với việc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn.
Hơn nữa, việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân không làm
chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa vợ và chồng, do vậy theo quy định tại điều 27 luật
Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì tài sản mà vợ chồng được tặng cho chung hay
thừa kế chung trong thời gian này vẫn đc coi là tài sản chung của vợ chồng: “1. Tài
sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt
“1. Trong trường hợp vợ chồng đã chia tài sản chung và sau đó muốn khôi phục chế
độ tài sản chung, thì vợ chồng phải thoả thuận bằng văn bản có ghi rõ các nội dung
sau đây:
a) Lý do khôi phục chế độ tài sản chung;
b) Phần tài sản thuộc sở hữu riêng của mỗi bên;
c) Phần tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng, nếu có;
d) Thời điểm có hiệu lực của việc khôi phục chế độ tài sản chung;
đ) Các nội dung khác, nếu có.
2. Văn bản thoả thuận phải ghi rõ ngày, tháng, năm lập văn bản và phải có chữ ký
của cả vợ và chồng; văn bản thoả thuận có thể có người làm chứng hoặc được công
chứng, chứng thực theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.
Theo đó, trường hợp vợ chồng đã chia tài sản chung và sau đó muốn khôi phục chế
độ tài sản chung thì vợ chồng phải thỏa thuận bằng văn bản và ghi rõ các nội dung
như: lý do khôi phục chế độ tài sản chung, phần tài sản thuộc sở hữu riêng của mỗi
bên, phần tài sản thuộc sở hữu riêng của vợ chồng, thời điểm có hiệu lực của việc
khôi phục chế độ tài sản chung…
Khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng sau khi đã chia tài sản không chỉ là
thỏa thuận của vợ chồng xem xét những tài sản nào là tài sản chung của vợ chồng
mà ở đây cần phải hiểu khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng là: “khôi phục
căn cứ pháp lý để xác lập tài sản chung của vợ chồng”. Bởi vì, theo nguyên tắc
chung những tài sản mà vợ chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất
kinh doanh…trong thời kì hôn nhân (trừ nguồn gốc tài sản riêng) thuộc khối tài sản
chung của vợ chồng. Căn cứ này đã tạm chấm dứt khi vợ chồng thỏa thuận chia tài
sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân (Điều 30 Luật HN- GĐ năm 2000;
Điều 8 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP). Sau khi đã chia tài sản chung của vợ chồng
trong thời kì hôn nhân thì những tài sản mà vợ chồng được chia từ khối tài sản
chung; các hoa lợi, lợi tức từ tài sản được chia; thu nhập do hoạt động sản xuất kinh
doanh và các thu nhập hợp pháp khác của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài
đình, từ đó phát sinh tranh chấp về việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa
thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự, không có khả
năng lao động, không có thu nhập, không có tài sản để tự nuôi mình. Vì vậy, để bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các con, pháp luật cần quy định rõ: Trong trường
hợp sau khi chia tài sản chung vợ chồng có những tranh chấp về việc chăm sóc,
nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực
hành vi dân sự, không có khả năng lao động, không có thu nhập, không có tài sản để
tự nuôi mình thì Tòa án quyết định theo yêu cầu của vợ, chồng, của các cá nhân, cơ
quan, tổ chức có thẩm quyền. Việc giải quyết tranh chấp liên quan đến con áp dụng
tương tự quy định quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con khi ly hôn.
Thứ ba, trước đây căn cứ để giải quyết các tranh chấp phát sinh về tài sản giữa vợ
chồng thì Điều 18 Luật Hôn nhân và gia đình 1986 quy định: “Khi hôn nhân còn
tồn tại, nếu một bên có yêu cầu hoặc lý do chính đáng thì có thể chia tài sản chung
của vợ chồng theo quy định ở Điều 42 của luật này”. Tuy nhiên, theo luật Hôn nhân
và gia đình hiện nay chưa có quy định cụ thể về vấn đề này khiến cho Tòa án nhiều
khi cũng gặp phải khó khăn khi vận dụng các căn cứ pháp lí để giải quyết các tranh
chấp phát sinh. Chính vì thế pháp luật cần quy định cụ thể như sau: Khi chia tài sản
chung, Tòa án căn cứ vào lý do, mục đích chia tài sản chung để quyết định phạm vi
tài sản chung được chia. Việc chia tài sản chung căn cứ vào các nguyên tắc chia tài
sản khi ly hôn quy định tại Điều 95 Luật HN- GĐ; nếu tài sản là nhà ở và quyền sử
dụng đất thì áp dụng các quy định tại Điều 97, Điều 98, Điều 99 Luật Hôn nhân và
gia đình năm 2000.
Thứ tư, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và Nghị định 70/ 2001/NĐ-CP quy
định các trường hợp chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân mà không có lý do
chính đáng thì bị tuyên bố là vô hiệu. Tuy nhiên luật Hôn nhân và gia đình lại
không quy định ai là người có quyền yêu cầu Tòa án hủy bỏ thỏa thuận chia tài sản
chung trong thời kì hôn nhân trong trường hợp thỏa thuận này vi phạm các điều
kiện được quy định tại Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình hoặc gây ảnh hưởng
định tại điều 27 phải được xác định là tài sản chung của hai vợ chồng. Pháp luật chỉ
nên trao cho vợ, chồng quyền thỏa thuận về tài sản chung đối với những tài sản
riêng được quy định tại Điều 32 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.
Ngoài ra, không ngừng nâng cao trình độ năng lực đội ngũ cán bộ áp dụng pháp luật
về chia tài sản chung; tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật nâng cao ý thức
pháp luật trong nhân dân.
KẾT LUẬN.
Tóm lại, quan hệ tài sản giữa vợ chồng là vấn đề hết sức quan trọng, là một trong
những tiền đề giúp cho vợ chồng xây dựng một cuộc sống hạnh phúc, đáp ứng
những nhu cầu vật chất và tinh thần cho gia đình. Khi xã hội ngày càng phát triển
kéo theo hàng loạt các vấn đề khác nảy sinh nhất là trong quan hệ tài sản vợ chồng.
Việc pháp luật quy định vợ chồng được phép chia tài sản chung trong thời kì hôn
nhân là một giải pháp hay trong nền kinh tế hiện nay. Tuy nhiên bên cạnh những ưu
điểm đã đạt được thì quy định này vẫn còn một số điểm thiếu sót mà cần phải bổ
sung hơn nữa trong thời gian tới. Chính vì vậy, đòi hỏi các nhà làm luật phải tiếp tục
nghiên cứu, học hỏi để nhanh chóng hoàn thiện những lỗ hổng của pháp luật nhằm
tạo ra một khung pháp lý vững chắc cho việc giải quyết các tranh chấp đang diễn ra
ngày càng gay gắt trong cuộc sống mỗi gia đình hiện nay.