chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân - Pdf 38

I. Mở đầu
Về nguyên tắc, chế độ tài sản chung gắn liền với thời kỳ hôn nhân, khi hôn
nhân còn tồn tại trước pháp luật thì còn tồn tại tài sản chung của vợ chồng. Do
đó, thông thường tài sản chung chỉ được chia khi ly hôn chấm dứt về mặt
pháp lý (ly hôn hoặc một bên vợ, chồng chết). Tuy nhiên trên thực tế nhiều
cặp vợ chồng vì nhiều lý do khác nhau muốn được chia tài sản chung khi hôn
nhân còn đang tồn tại. Nguyện vọng này có thể xuất phát từ mâu thuẫn giữa
vợ chồng trong quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản chung. Yêu cầu chia tài sản
chung trong thời kỳ hôn nhân cũng có thể xuất phát từ mâu thuẫn về tình cảm
giữa vợ chồng song do tuổi cao, địa vị xã hội, nghề nghiệp danh dự uy tín,
trách nhiệm đối với các con… mà họ không muốn ly hôn nhưng muốn độc lập
về tài sản để tránh phát triển mâu thuẫn và được độc lập trong cuộc sống. Vì
vậy, có thể nói việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là
một giải pháp tối ưu trong nền kinh tế hiện nay.
Xuất phát từ thực tế trên, điều 18 luật hôn nhân và gia đình năm 1986 đã
qui định: “khi hôn nhân còn tồn tại, nếu một bên yêu cầu và có lý do chính
đáng thì có thể chia tài sản chung của vợ chồng theo qui định ở điều 42
(nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn) của Luật này”. Kế thừa và phát triển Điều
18 luật hôn nhân và gia đình năm 1986, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
qui định chế định chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân tại điều 29 và
điều 30 và được hướng dẫn cụ thể từ điều 6 đến điều 11 Nghị định số
70/2001/NĐ-CP.
II. Khái quát về vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng
trong thời kì hôn nhân
1. Khái niệm
Có thể tạm định nghĩa việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân như
là việc chuyển một hoặc nhiều tài sản vốn thuộc khối tài sản chung vào khối
tài sản riêng của vợ hoặc của chồng. Đây không phải là phân chia hiểu theo
nghĩa thông thường, tức là việc chấm dứt tình trạng sở hữu chung theo phần
bằng cách phân hẳn cho người này hay người nọ một hoặc nhiều tài sản vốn
thuộc sở hữu chung, như thế nào để tổng giá trị các tài sản chia cho một người

29 đã qui định rõ về vấn đề này. Trong trường hợp Tòa án áp dụng Điều 29 đã
chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân tồn tại, nếu phát hiện
vợ chồng yêu cầu chia tài sản chung nhằm trốn tránh nghĩa vụ về tài sản thì
phán quyết của Tòa án phải bị hủy bỏ.
3. Tài sản chung của vợ chồng
Khi xảy ra sự kiện chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, quan hệ nhân
thân của chồng và vợ không có sự thay đổi, đây chính là điểm khác biệt cơ
bản nhất của chế định này với chế định ly thân được quy định trong pháp luật
của các nước phương Tây. Tuy nhiên, chế độ tài sản chung với căn cứ xác
định quy định tại điều 27 luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã có sự thay
đổi rất nhiều. Theo điều 30 luật hôn nhân và gia đình và theo điều 8 nghị định
số 70/2001/NĐ-CP phần tài sản chung mà vợ chồng được chia, hoa lơi, lợi
tức từ tài sản riêng, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và
những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng sau khi chia tài sản chung là tài
sản riêng của mỗi bên trừ khi vợ chồng có thỏa thuận khác. Như vậy, sự kiện
chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân dẫn đền tài sản chung của vợ chồng
được xác định lại, theo những căn cứ sau :
 Về thời điểm phát sinh:
Tài sản chung được xác định căn cứ vào thời điểm có hiệu lực của việc
chia tài sản chung và thời điểm khôi phục chế độ tài sản chung. Theo qui định
tại điều 7 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP, thời điểm có hiệu lực của việc chia
tài sản chung được xác định theo thời điểm được qui định trong văn bản thỏa
thuận, nếu không có thỏa thuận thì căn cứ vào ngày tháng năm lập văn bản.
Trong trường hợp văn bản thỏa thuận có công chứng hoặc chứng thực theo
yêu cầu của vợ chồng thì thời điểm là ngày tháng năm thỏa thuận trong văn
bản, nếu không có thỏa thuận thì hiệu lực được tính từ ngày công chứng,
chứng thực. Trường hợp phải công chứng, chứng thực theo qui định của pháp
luật thì ngày được công chứng, chứng thực là ngày có hiệu lực của văn bản.
Trong trường hợp việc chia tài sản chung do toà quyết định thì thời điểm
có hiệu lực của việc chia tài sản chung là ngày bản án, quyết định của Tòa án

Tuy nhiên căn cứ xác định tài sản chung nói trên có thể thay đổi nếu có sự
kiện vợ chồng lập văn bản thỏa thuận khôi phục chế độ tài sản chung. Theo
điều 9 và điều 10 Nghị định 70/2001/NĐ-CP, kể từ ngày văn bản thỏa thuận
khôi phục chế độ tài sản chung có hiệu lực , việc xác định tài sản chung thuộc
sở hữu riêng của mỗi bên , phần tài sản thuộc sở hữu chung căn cứ vào việc
thỏa thuận của vợ chồng . Theo chúng tôi , qui định này trao cho vợ chồng
một quyền hạn quá rộng . Việc vợ chồng có quyền chia tài sản chung trong
thời kì hôn nhân , đồng thời có quyền khôi phục chế độ tài sản chung mà
không cần có sự xem xét của Tòa án đã đưa điều 27 luật hôn nhân và gia đình
năm 2000 trở thành hình thức, chế độ tài sản pháp định không đảm bảo đúng
bản chất pháp lý của nhà làm luật để ra.
4. Các trường hợp chia tài sản chung
• Đầu tư kinh doanh riêng
Tạo điều kiện thuận lợi cho giao dịch. Khái niệm đầu tư kinh doanh, đó có
thể là việc thành lập một doanh nghiệp tư nhân, việc tham gia thành lập một
công ty với tư cách là một thành viên sáng lập hoặc việc tham gia vào một kế
hoạch hợp tác kinh doanh. Dự án đầu tư kinh doanh riêng có thể đang được
thực hiện, nhưng cũng có thể chỉ mới được chuẩn bị thực hiện, thậm chí đang
trong giai đoạn thai nghén, hình thành. Thực ra, tài sản chung vẫn có thể được
đầu tư kinh doanh riêng đồng thời vẫn giữ nguyên quy chế tài sản chung:
người đầu tư kinh doanh riêng sẽ có độc quyền khai thác công dụng của tài
sản, do áp dụng nguyên tắc theo đó, vợ chồng có quyền ngang nhau trong việc
quản lý tài sản chung, đặc biệt là nguyên tắc quản lý riêng đối với tài sản
chung dùng cho hoạt động nghề nghiệp. Tuy nhiên, việc chia tài sản chung để
tài sản được đầu tư kinh doanh riêng hưởng quy chế tài sản riêng tỏ ra có ích
trong trường hợp người đầu tư kinh doanh muốn định đoạt tài sản hoặc xác
lập các giao dịch quan trọng có liên quan đến tài sản (như cầm cố, thế chấp)
theo những thủ tục đơn giản và không mất thì giờ.
• Thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng
Các nghĩa vụ được xác lập trước khi kết hôn cũng như các nghĩa vụ gắn

đứng vay với sự bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ bằng khối tài sản riêng,
mà không cần đến vai trò của chồng. Cũng có khi người chồng trong giả thiết
chủ động yêu cầu chia tài sản chung để bảo đảm an toàn cho một phần khối
tài sản của gia đình. Điều chắc chắn: người sẽ trở thành chủ nợ của người vợ
trong giả thiết không có quyền thay mặt người sắp vay tiền để yêu cầu chia tài
sản chung, bởi chừng nào hợp đồng vay chưa được xác lập, quyền đó không
tồn tại.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status