QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA VỢ CHỒNG ĐÓI VỚI TÀI SẢN CHUNG HỢP NHẤT TRONG PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH - Pdf 34

A . LỜI MỞ ĐẦU
1 .Lí do chọn đề tài.
Gia đình là tế bào của xã hội, sự ổn định và phát triển lành mạnh của gia
đình sẽ góp phần vào sự phát triển chung của toàn xã hội. Mỗi gia đình được
xây dựng dựa trên những sợi dây liên kết của hôn nhân, huyết thống và nuôi
dưỡng trong đó quan hê hôn nhân có thể xem là quan hệ nền tảng. Bản chất
của quan hệ hôn nhân là quan hệ nhân thân và tài sản gắn liền với các chủ thể
nhất định, không thể tách rời và không có tính đền bù ngang giá do đó đã làm
nảy sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lí giữa họ với nhau mà quyền sở hữu tài
sản của vợ chồng là một vấn đề không thể thiếu trong pháp luật hôn nhân và
gia đình. Với mong muốn góp phần vào việc làm sáng tỏ lí luận và thực tiễn về
quyền bình đẳng của vợ chồng về tài sản chung hợp nhất, em đã chọn đề tài: “
Sự bình đẳng của vợ chồng đối với tài sản chung hợp nhất”.
2. Phương pháp nghiên cứu.
Bài viết đã sử dụng kết hợp các phương pháp như : so sánh, phân tích, tổng
hợp,…
3.Kết cấu :
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, bài viết được
chia làm 3 chương :
Chương 1 : Những vấn đề lí luận về quyền bình đẳng của vợ chồng đối với tài
sản chung hợp nhất.
Chương 2: Quyền bình đẳng của vợ chồng đối với tài sản chung hợp nhất trong
pháp luật hiện hành.
Chương 3: Một số vướng mắc và kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp
luật về quyền bình đẳng của vợ chồng đối với tài sản chung hợp nhất.

1


B. NỘI DUNG.
Chương I : NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA VỢ

vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được trước khi kết hôn, được
thừa kế riêng chỉ là tài sản chng khi vợ chồng có thỏa thuận.
Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu hợp nhất.
2. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật
quy định phải đăng kí quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu
phải ghi tên của cả hai vợ chồng.
3. Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang
tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung”.
3. Khái niệm quyền sở hữu chung của vợ chồng.
Theo luật hôn nhân và gia đình năm 2000, tài sản của vợ chồng có thể được
hiểu là vật, những lợi ích vật chất khác, giấy tờ có giá và các quyền tài sản.
Quyền sở hữu tài sản có thể hiểu theo hai nghĩa. Theo nghĩa rộng: Quyền sở
hữu tài sản là hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành để điều
chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực chiếm hữu, sử dụng định đoạt
các tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng, những tài sản khác theo Điều 163 BLDS.
Hoặc theo nghĩa hẹp: Quyền sở hữu tài sản là mức độ xử sự mà pháp luật cho
phép một chủ thể được thực hiện các quyền năng chiếm hữu sử dụng, định đoạt
trong những điều kiện nhất định [18,tr 178].
Tóm lại: Quyền sở hữu tài sản của vợ chồng là tổng hợp các quy phạm pháp
luật điều chỉnh tài sản của vợ chồng, bao gồm các quy định về căn cứ xác lập tài
sản, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng,
nguyên tắc phân chia tài sản giữa vợ chồng.
Chương II: QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA VỢ CHỒNG ĐÓI VỚI TÀI SẢN CHUNG
HỢP NHẤT TRONG PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH.
1 .Quyền bình đẳng của vợ chồng đối với tài sản chung hợp nhất.
“Vợ chồng có quyền bình đẳng trong việc chiếm hữu, sử dụng định đoạt tài
sản chung”( Luật hôn nhân và gia đình năm 2000).
Trên tinh thần Điều 129 BLDS năm 2005, Luật hôn nhân và gia đình năm
2000 đã cụ thể hóa quyền bình đẳng của vợ chồng đối với tài sản chung hợp
nhất. Vợ chồng không chỉ tạo lập trong quả trình tạo lập tài sản chung mà còn

70/2001/NĐ/CP đã cụ thể hóa khoản 3 Điều 28 Luật hôn nhân và gia đình năm
2000 thông qua quy định: Các giao dịch liên quan đến tài sản chung của vợ
chồng mà có “giá trị lớn” hoặc giao dịch đó có liên quan đến việc định đoạt tài
sản riêng thuộc sở hữu của một bên vợ hoặc chồng nhưng đã đưa vào sử dụng
chung mà hoa lợi , lợi tức phát sinh từ tài sản đó là nguồn sống duy nhất của cả
gia đình đều phải có sự thỏa thuận của vợ chồng theo đúng hình thức mà pháp
luật quy định.
4


Trong trường hợp vợ hoặc chồng xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt các giao
dịch dân sự có liên quan đến tài sản chung của vợ chồng mà không có sự đồng ý
của một bên, thì bên đó có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng đó vô hiệu
theo quy định tại Điều 134 BLDS năm 2005 và hậu quả pháp lí được giả quyết
theo quy định tại Điều 137 BLDS. Theo đó có thể hiểu: đối với những giao dịch
thông thường liên quan đến nhũng tài sản “không có giá trị lớn” nhằm đáp ứng
những nhu cầu thiết yếu hằng ngày của gia đình, thì hành vi xử xự của vợ,
chồng khi định đoạt tài sản chung đó luôn được pháp luật coi là có sự thỏa
thuận đương nhiên của cả hai vợ chồng (mặc dù chỉ có một bên vợ, chồng định
đoạt tài sản).
Bên cạnh đó, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 còn quy định: “Vợ hoặc
chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch dân sự hợp pháp do một
trong hai người thực hiện nhằm đáo ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia
đình”. Giao dịch hợp pháp ở đây được hiểu là hợp đồng vay tài sản (tiền, vàng,
ngoại tệ,..) hoặc giấy vay tiền, không phân biệt viết tay hay đánh máy do người
có đủ năng lực hành vi dân xác lập, thực hiện. Nhu cầu thiết yếu của gia đình có
thể hiểu là : ăn, ở, chăm sóc sức khỏe cho các thành viên trong gia đình, việc học
hành của con trẻ.
Theo luật định thì đối với những giao dịch hợp pháp nhằm đáp ứng nhu cầu
chi tiêu, sinh hoạt tiêu dùng trong gia đình, pháp luật không bắt buộc cả vợ và

+ Chia tài sản chung khi vợ chồng đàu tư kinh doanh riêng : Đây là trường hợp
một bên vợ hoặc chồng muốn tự mình kinh doanh hoặc hợp tác với người thứ
ba nhưng không muốn ảnh hưởng đến khối tài sản chung của vợ chồng khi bị
thua lỗ, hoặc không đủ vốn, hoặc do một bên muốn đầu tư kinh doanh vào một
lĩnh vực nào đó nhưng người còn lại không đồng ý…Do đó, đề thuận tiện cho
việc đầu tư kinh doanh của mình vợ, chồng có thể yêu cầu được chia tài sản
chung trong thời kì hôn nhân.
+Chia tài sản chung của vợ chồng khi một bên thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng:
nghĩa vụ phát sinh từ khoản nợ mà vợ, chồng vay của người khác trước khi kết
hôn hoặc trong thời kì hôn nhân nhưng sử dụng vào mục đích cá nhân, mà
không vì lợi ích chung của gia đình; nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do hành vi
trài pháp luật của vợ, chồng;…
+Chia tài sản chung của vợ chồng khi có lí do chính đáng khác. Pháp luật không
có quy định cụ thể lí do chính đáng khác ở đây là bao gồm những gì ? Xuất phát
từ thực tiễn có thể hiểu: Lí do chính đáng khác trong trường hợp này là những
mâu thuẫn sâu sắc về tình cảm giữa vợ chồng, song do tuổi cao, địa vị xã hội,
nghề nghiệp, danh dự, uy tín trách nhiệm đối với các con…mà họ không muốn li
hôn.

* Về hậu quả pháp lí của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì
hôn nhân :
6


+Hậu quả pháp lí về nhân thân: không làm chấm dứt quan hệ nhân thân trước
pháp luật, các quyền và nghĩa vụ của vợ chồng vẫn phải được đảm bảo.
+ Hậu quả về tài sản : Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thuộc sở
hữu riêng của mỗi người, phần tài sản không chia vẫn được sở hữu chung của
vợ chồng ( Điều 30 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000). Hoa lợi, lợi tức phát
sinh từ tài sản chung thuộc tài sản chung còn lại vẫn thuộc tài sản chung của

bằng hiện vật có giá trị lớn hơn mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên
kia phần giá trị chênh lệch. Việc chia tài sản cũng phải bảo vệ lợi ích chính đáng
của mỗi bên trong sản xuất kinh doanh.
c. Chia tài sản chung của vợ chồng khi một bên vợ chồng chết trước.
Để bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người chồng, vợ còn sống khi vợ, chồng
chết trước, cũng như quyền lợi của các con khoản 3 Điều 31 Luật hôn nhân và
gia đình 2000 còn dự liệu trường hợp hạn chế chia tài sản thừa kế của những
người thừa kế và được cụ thể hóa tại Điều 12 Nghị định 70/2001/NĐ-CP và tại
điểm a mục 4 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP cũng quy định: “ việc chia di
sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của một bên vợ hoặc chồng còn
sống và gia đình là trong trường hợp người chết có để lại di sản, nhưng nếu
đem chia tài sản này cho những người thừa kế được hưởng thì vợ hoặc chồng
còn sống và gia đình gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống như không có chỗ ở,
mất nguồn tư liệu sản xuất duy nhất…”.
Đây là những quy định mới, tiến bộ của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
bảo vệ được quyền lợi đúng đắn quyền sở hữu của vợ chồng đói với tài sản
chung hợp nhất.
Trường hợp vợ chồng chết mà không mà không có yêu cầu của những người
thừa kế di sản ngay thì người chồng hoặc người vợ còn sống quản lí tài sản
chung của vợ, chồng; trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản
lí di sản hoặc có người thừa kế thỏa thuận để người khác quản lí tài sản.
Đối với trường hợp vợ, chồng đã bị tòa án tuyên bố là đã chết, quyết định
của tòa án có hiệu lực pháp luật, sau một thời gian người vợ, chồng đã bị tòa
án tuyên bố chết nay lại trở về. Vậy, những tài sản do người chồng, vợ kia tạo
ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập
hợp pháp khác của người chồng, vợ kia tạo ra trong khoảng thời gian từ khi
phán quyết của tòa án có hiệu lực pháp luật đến khi người chồng, vợ đó trở về
thì những tài sản đó sẽ thuộc tài sản chung của vợ chồng? Vấn đề này cần thiết
phải được Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 dự liệu nhằm tạo căn cứ pháp
lí thống nhất khi sử dụng.

gia đình, thì món nợ đó được đảm bào thanh toán bằng tài sản chung của vợ
chồng, nghĩa là cả hai vợ chồng đều có nghĩa vụ trả nợ khoản nợ đó.
Mặt khác, khoản 5 Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định:
“Trong trường hợp tài sản riêng của vợ hoặc chồng đã được đưa vào sử dụng
chung mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia
đìnhthì việc định đoạt tài sản riêng đó phải có sự thỏa thuận của cả vợ chồng”.
Quy định này đã gắn trách nhiệm của cả gia đình đối với các khoản nợ phát
sinh trong quá trình khai thác hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng của một bên. Do
đó cần xác định chúng là khoản nợ chung của gia đình, xác định như vậy mới
đảm bảo được lợi ích chính đáng của người có tài sản riêng, khuyến khích họ
tạo ra nhiều của cải, vật chất hơn nữa cho gia đình. Đồng thời tăng cường sự
9


gắn bó trong quan hệ gia đình, để gia đình thực sự là chỗ dựa vững chắc cho
các thành viên trong gia đình.
Theo khoản 3 Điều 95 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 : “ Việc thanh
toán nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng do vợ, chồng thỏa thuận ; nếu
không thỏa thuận được thì yêu cầu tòa án giải quyết”.
Từ những phân tích trên có thể rút ra những khoản nợ chung của vợ chồng
phải được thanh toán bằng tài sản chung của vợ chồng gồm: nợ phát sinh
nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình; nợ liên quan đến việc tạo lập, sử
dụng khối tài sản chung; nợ liên quan đến tài sản riêng của vợ, chồng đã được
đưa vào sử dụng chung mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống
của cả gia đình; nợ phát sinh có liên quan đến công việc mà cả hai vợ chồng
cùng thực hiện; nợ theo thỏa thuận của cả hai vợ chồng.
III. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN BÌNH
ĐẲNG CỦA VỢ CHỒNG ĐỐI VỚI TÀI SẢN CHUNG HỢP NHẤT.
Thứ nhất, cần xác định rõ tài sản chung của vợ chồng.
Những tài sản mà có được do được bồi trường thiệt hại về sức khỏe, về uy tín

Thứ 3: Cần xác định tiêu chí về phân biệt nghĩa vụ chung về tài sản của
vợ chồng.
Việc xác định nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng có ý nghĩa rất lớn trong
việc giải quyết các tranh chấp về tài sản giữa vợ và chồng, bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của vợ chồng và người thứ ba có liên quan.
Việc xác định nghĩa vụ chung của vợ chồng căn cứ vào các yếu tố sau:
-Sự thỏa thuận của vợ, chồng;
- Nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yế của gia đình ;
-Liên quan đến việc tạo lập, quản lí, sử dụng, định đoạt tài sản chung của vợ,
chồng;
-Liên quan đến nghề nghiệp của vợ chồng trong thời kì hôn nhân trừ trường
hợp chia tài sản chung khi hôn nhân tồn tại;
-Liên quan đến vợ, chồng chồng thành lập công ti, hoặc góp vốn vào các loại
hình công ti.
Thứ 4: Một số vấn đề về hôn ước.
Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 không thừa nhận chế độ tài sản ước
định nhưng cũng chấp nhận trường hợp trường hợp vợ chồng có thể chia tài
sản chung trong thời kì hôn nhân cùng với những hậu quả pháp lí được quy
định tại điều 30 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và Điều 8 Nghị định số
70/2001/NĐ/CP . Pháp luật hiện hành đã tương đối đầy đủ, những thỏa thuận
11


về tài sản của vợ, chồng, tạo điều kiện thuân lợi để vợ chồng có thể dùng tài sản
chung vào các hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên chế định này vẫn còn có nhiều
khiếm khuyết và lợi ích gia đình vẫn chưa được đảm bảo một cách tốt nhất. Vì
vậy hôn ước có thể là một giải pháp hay cho vấn đề chiếm hữu, sử dụng định
đoạt tài sản của vợ chồng nhất là trong nên kinh tế thị trường hiện nay.

C .KẾT LUẬN.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status