MỤC LỤC
A. Mở Đầu 2
B. Nội Dung 2
1. Khái niệm 2
2. Mục đích phát triển kinh tế của nhà nước 3
3.Các thành phần kinh tế của nước ta trong thời kì quá độ đi 3
lên chủ nghĩa xã hội
3.1 :Thành phần kinh tế nhà nước 3
3.2: Thành phần kinh tế tập thể 4
3.3: Thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân 5
3.4: Thành phần kinh tế tư bản nhà nước 6
3.5: Thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 7
4. so sánh chính sách của nhà nước theo hiến pháp 1992 và hiến 9
pháp trước đó
C. Kết Luận 9
1
A. MỞ ĐẦU
Phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa là một
trong những vấn đề căn bản của triết lý phát triển ở Việt Nam. Những cuộc
khủng hoảng kinh tế gây ảnh hưởng lan toả hầu hết thế giới cùng những giải
pháp cơ bản mà các nước đang sử dụng với hi vọng ngăn ngừa kết cục bi thảm
về kinh tế- xã hội do khủng hoảng gây ra khiến chúng ta thấy tính phi lý của
"thị trường tự do". Từ rất sớm, chúng ta đã khẳng định nền kinh tế mà ta đang
xây dựng phải có" sự quản lí của nhà nước". Những thành tựu và tồn tại của
nền kinh tế của nước ta trong thời gian qua chủ yếu phụ thuộc vào chính sách
của nhà nước, cơ chế quản lí của nhà nước. Hiến pháp 1992 đã nêu rõ sự cần
thiết của việc" thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế thị trường
xã hội chủ nghĩa", bảo đảm vai trò quản lí, điều tiết nền kinh tế của nhà nước.
Nghiên cứu về đề tài" Chính sách của nhà nước đối với các thành phần kinh tế
theo pháp luật hiện hành", em xin đưa ra một số ý kiến và sự tìm hiểu nông cạn
phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật và thông lệ quốc tế, bảo đảm quyền
sở hữu hợp pháp đối với vốn, tài sản và các quyền lợi khác của các cá nhân, tổ
chức nước ngoài. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không bị quốc hữu
hoá. Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để người Việt Nam định
cư ở nước ngoài đầu tư về nước". Nhà nước nhận định kinh tế tư bản là hình
thức quá độ lên chủ nghĩa xã hội.12/11/1996, Quốc hội khoá IX đã sửa đổi luật
đầu tư đồng thời thông qua Luật khuyến khích đầu tư trong nước. Điều 1 Luật
khuyến khích đầu tư trong nước quy định" nhà nước bảo hộ và khuyến khích tổ
chức, công dân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước
ngoài cư trú lâu dài ở Việt Nam đầu tư vào các lĩnh vực kinh tế- xã hội trên
lãnh thổ Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam". Điều đó tạo điều
kiện cho thành phần kinh tế này ngày càng phát triển.
Thực tế, ở nước ta, trong quá trình chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh
tế cho thấy kinh tế tư bản nhà nước ngày càng phát triển, tăng cả về quy mô, tỷ
trọng GDP. Năm 1996, kinh tế tư bản nhà nước chiếm 11% GDP nhưng đến
năm 2005% chiếm 20% GDP cả nước. Nước ta hình thành các khu công
nghiệp: khu kinh tế mở( Chu Lai, Dung Quất, Nhơn Hội…), đặc khu kinh
tế( Côn Đảo, Hải Hà- Quảng Nam), khu kinh tế cửa khẩu… để nhằm thu hút
liên doanh, nhà đầu tư, nhất là từ bên ngoài. Nhờ sự quản lí và những chính
sách khuyến khích của nhà nước mà thành phần kinh tế này ngày càng phát
triển.
3.5: Thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
3
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX và Quốc hội khoá X tại kì họp thứ 10
đã xác định một thành phần kinh tế mới- kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Thành phần kinh tế này được quy định tại điều 25 hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ
sung. " Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vốn,
công nghệ vào Việt Nam, phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật và thông
lệ quốc tế, bảo đảm quyền sở hữu hợp pháp đối vớ-i vốn, tài sản và các quyền
lợi khác của các tổ chức, cá nhân nước ngoài. Doanh nghiệp có vốn đầu tư
lập, tự chủ trên cơ sở phát huy nội lực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế,
thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nhà nước thực hiện nhất
quán chính sách phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa."( điều 15 hiến pháp 1992)
4. So sánh chính sách của nhà nước trong hiến pháp 1992 và hiến pháp
trước đó
Trong tất cả các bản hiến pháp, nhà nước xác định nền" kinh tế quốc
doanh luôn giữ vai trò chủ đạo", và có sự quản lí chặt chẽ của nhà nước.
Hiến pháp 1959 quy định" kinh tế quốc doanh thuộc hình thức sở hữu toàn
dân, giữ vai trò lãnh đạo trong nền kinh tế quốc dân", kinh tế hợp tác xã xuất
hiện" thuộc hình thức sở hữu tập thể của nhân dân lao động". Kinh tế nhà
nước và kinh tế tập thể là hai thành phần kinh tế chủ yếu của giai đoạn này.
Hiến pháp 1980 có sửa đổi, bổ sung, " nhà nước giữ độc quyền về ngoại
thương và mọi quan hệ kinh tế khác đối với nước ngoài"( điều 21). Điều này
khác hẳn với hiến pháp 1992. Hiến pháp 1992 sửa đổi một số điều của hiến
pháp 1980 và ban hành một số điều mới. Nhà nước mở rộng, có thêm một số
luật mới tạo điều kiện cho kinh tế phát triển. Thành phần kinh tế có vốn đâù
tư nước ngoài được xác định là thành phần kinh tế mới và được ưu tiên phát
triển. Nhà nước giữ vai trò quản lí, điều tiết các thành phần kinh tế. Bên
cạnh đó, nhà nước khuyến khích, tạo mọi điều kiện cho các thành phần kinh
tế phát triển bằng cách giao quyền sử dụng tư liệu sản xuất cho các cá nhân,
công dân. Các thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật, được pháp
luật bảo đảm. Mọi sự thay đổi của hiến pháp 1992 so với các hiến pháp
trước do yêu cầu của tình hình phát triển trên thế giới với xu thế hội nhập,
yêu cầu của công cuộc công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước.
C. KẾT LUẬN
Phát huy vai trò quản lý, điều tiết của nhà nước thông qua các chính
sách, chu trương trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
nước ta hiện nay chính là cách thiết thực góp phần bảo đảm công bằng xã
hội, vì sự phát triển dân chủ, văn minh của đất nước, song vẫn giữ được bản