Phân tích quyền bình đẳng vợ chồng đối với tài sản chung hợp nhất đạt 9 điểm - Pdf 94

Phân tích quyền bình đẳng vợ chồng đối với tài sản chung hợp nhất
[Year]
MỞ BÀI
Hôn nhân là sự kết hợp của các cá nhân về mặt tình cảm xã hội một cách hợp
pháp, thường là kết quả của tình yêu và là mối quan hệ cơ bản trong gia đình ở
hầu hết các xã hội. Vai trò và nghĩa vụ của vợ chồng trong một gia đình là như
nhau. Không phân biệt ai hơn ai kém, có như vậy mới đúng theo quan điểm gia
đình trong chủ nghĩa xã hội.
Trên nguyên tắc vợ chồng bình đẳng với nhau về mọi mặt ( Điều 19 Luật hôn
nhân và gia đình Việt Nam ) và trên nguyên tắc “ công dân nữ và nam có quyền
bình đẳng ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế,văn hóa ,xã hội và gia đình
( Điều 63 Hiến pháp năm 1992 ) việc vợ chồng có quyền bình đẳng đối với tài sản
chung hợp nhất là hoàn toàn chính xác. Do vậy đối với tài sản chung hơp nhất, cả
hai vợ chồng đều có quyền định đoạt như nhau.
Tuy nhiên, trong thời đại này, với sự biến đổi về mặt kinh tế, xã hội thì đã có
ảnh hưởng rất lớn lối sống của mỗi gia đình. Tài sản chung vợ chồng giờ đây
không chỉ đảm bảo đến mức sống của gia đình mà còn sử dụng vào mục đích kinh
doanh kiếm lời. Vợ chồng phát sinh những nhu cầu riêng biệt… Quyền về tài sản
chung của vợ chồng sẽ có nhiều vấn đề phát sinh.
Vậy, quyền bình đẳng vợ chồng đối với tài sản chung hợp nhất là như thế
nào, hiểu rõ phân tích nó ra sao em xin được làm rõ vấn đề đã nêu trên
1
Phân tích quyền bình đẳng vợ chồng đối với tài sản chung hợp nhất
[Year]
NỘI DUNG CHÍNH
I.Chế độ tài sản chung của vợ chồng ở thời kì trước
Trong suốt quá trình phát triển của lịch sử xã hội, mỗi chế độ xã hội đều
quy định một chế độ tài sản chung hợp nhất giữa vợ chồng cho phù hợp với phong
tục tập quán và hoàn cảnh kinh tế xã hội. Chẳng hạn, Tập Dân luật giản yếu 1883
(một hệ thống án lệ) không thừa nhận người vợ có tài sản riêng, do đó không thể
có cộng đồng tài sản giữa vợ và chồng mà toàn bộ tài sản trong gia đình đều thuộc

1. Tài sản chung của vợ chồng theo quy định của pháp luật
Căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng được quy định tại Điều 27 –
Luật hôn nhân và gia đình năm 2000: “1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản
do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và
những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ
chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ
chồng thoả thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của
vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được
thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thoả thuận.
Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất.
2. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật
quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải
ghi tên của cả vợ chồng.
3
Phân tích quyền bình đẳng vợ chồng đối với tài sản chung hợp nhất
[Year]
3. Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng
đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung.”
Em có 1 nhận xét ở phần này như sau: so với các diều Luật ở chế độ cũ em đã nêu
trên thì Luật hôn nhân 2000 đã tiến bộ hơn, cụ thể ở phần xác định tài sản chung
hợp nhất của vợ chồng. Luật hôn nhân 2000 quy định rất rõ ràng ( tài sản chung
của vợ chồng là tài sản ). Mặt khác, khi ta đang đi xét về quyền bình đẳng của
vợ chồng đối với tài sản chung hợp nhất thì điều Luật này coi như đã nói lên phần
nào của sự bình đẳng về quyền tài sản của vợ và chồng. Tài sản chung của vợ
chồng được thỏa thuận với nhau, thì có nghĩa là vì vợ chồng đã thống nhất đó là
tài sản chung nên vợ và chồng đều có quyền quyết định sử dụng tài sản đó như
nhau .Em xin nêu ra ví dụ để làm rõ câu khẳng định của em là “ điều Luật này
coi như đã nói lên phần nào sự bình đẳng của vợ chông.
VD: Có 2 vợ chồng Anh A chị B. Anh A cũng làm ra tiền = số tiền của chị B. Anh

2.Vợ chồng cùng nhau tạo lập , phát triển khối tài sản chung bằng công sức của
mỗi người; có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu ,sử dụng và định đoạt tài
sản chung
3. Vợ chồng cùng bàn bạc, thỏa thuận hoặc ủy quyền cho nhau chiếm hữu,sử
dụng,định đoạt tài sản chung.
4.Tài sản chung của vợ chồng có thể phân chia theo thỏa thuận của hoặc theo
quyết định của Tòa Án”
5
Phân tích quyền bình đẳng vợ chồng đối với tài sản chung hợp nhất
[Year]
Tiếp sau đó, tại Luật hôn nhân và gia đình năm 200 Điều 28 Chiếm hữu, sử
dụng, định đoạt tài sản chung có ghi rõ
1. Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng,
định đoạt tài sản chung.
2. Tài sản chung của vợ chồng được chi dùng để bảo đảm nhu cầu của gia
đình, thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ chồng.
3. Việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài sản
chung có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình, việc dùng tài sản
chung để đầu tư kinh doanh phải được vợ chồng bàn bạc, thoả thuận, trừ tài sản
chung đã được chia để đầu tư kinh doanh riêng theo quy định tại khoản 1 Điều 29
của Luật này.
Vậy khi ta đọc các điều Luật trên, hiển nhiên thấy không có 1 câu chữ hay 1
cụm từ nào nói về quyền lợi của vợ hay chồng là hơn với tài sản chung hợp nhất.
Tất cả đều hoàn toàn bình đẳng nhau, do 2 bên thỏa thuận. Những đạo Luật trên
theo em sẽ là những đạo luật bền vững vì nó đi quy định rất rõ ràng. Bình thường,
không thể xác định được tài sản nào là của vợ của chồng trong khối tài sản chung
hợp nhất, chỉ khi nào có sự phân chia rõ ràng giữu vợ và chồng trong khối tài sản
chung đó thì mỡi xác định được rõ ràng. Điều đó dựa trên thỏa thuận tự nguyện
của vợ và chồng, mà pháp luật không thể điều chỉnh ý trí tự nguyện thỏa thuận đó
của vợ chồng được, cho nên điều quyền bình đẳng của vợ và chồng đối với tài

[Year]
Quy định trên khẳng định quyền tự chủ của vợ chồng với tài sản chung của mình.
Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời gian hôn nhân sẽ được tiến hành
như sau :
Trong trường hợp vợ hoặc chồng đầu tư kinh doanh riêng, dựa trên cơ sở tôn
trọng tự do kinh doanh cá nhân riêng. Tạo điều kiện cho vợ,chồng có tài sản riêng
để kinh doanh. Mặt khác có thể tránh khỏi rủi ro trong kinh doanh để khỏi ảnh
hưởng xấu đến các thành viên trong gia đình mà hoạt động đầu tử kinh doanh gây
ra.
Trường hơp vợ hoặc chồng phải thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng mà không có tài
sản riêng hoặc không đủ để thực hiện nghĩa vụ thì vợ chồng có thể chia tài sản
ching để giúp người có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ của mình
Trường hợp xác định có lí do chính đáng khác để chia tài sản chung của vợ chồng
khi hôn nhân để đảm bảo từ lợi của gia đình hay lợi ích của vợ ,chồng,người thứ
ba
III. Thực tế về việc quyền tài sản chung trong thời kì hôn nhân.
1. Mặt tích cực.
Trong thời kì hôn nhân nhân, việc chia tài sản chung có thể đem lại lợi ích như
sau :
Chia sẻ nghĩa vụ dân sự cho cả vợ và chồng, cả 2 có quyền như nhau. Được tôn
trọng như nhau.
8
Phân tích quyền bình đẳng vợ chồng đối với tài sản chung hợp nhất
[Year]
Tránh rủi ro trong kinh doanh giữa vợ hoặc chồng khi mà cả hai không nhất trí
quan điểm thì 1 bên có quyền yêu cầu chia tài sản , không phụ thuộc vào vấn đề
nào hết
Những người đã tiến tới hôn nhân nhưng chưa thực sự tin tưởng nhau thì có quyền
chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân. Nếu nhỡ mai sau có li hôn thì lợi ích
của cả 2 bên sẽ được đảm bảo công bằng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status