Chiến lược triển khai quyền lực mềm của Trung Quốc đối với khu vực Đông Nam Á trong giai đoạn hiện nay - Pdf 29

Phần I: Phần mở đầu.
1. Tính cấp thiết của để tài.
Hai mươi năm đầu của thế kỉ XXI là một thời kì cơ hội chiến lược mà Trung
Quốc có thể làm được nhiều việc. Nửa đầu thế kỉ XXI, Trung Quốc lại có mục tiêu
hùng vĩ nhằm vào xây dựng toàn diện xã hội khá giả, thực hiện hiện đại hóa. Do đó,
việc lựa chọn chiến lược phát triển như thế nào là một vấn đề ra đang được Trung
Quốc quan tâm.
Trong tình hình mới khi lợi ích quốc gia của các nước trên thế giới hiện nay
đan xen và hòa hợp cao độ, giữa các nước lớn cùng tồn tại sự đối kháng và hợp tác
cùng có nhu cầu với nhau, không bên nào có thể thay thế bên nào, không có hợp tác
hoàn toàn cũng không có đối kháng hoàn toàn, Trung Quốc phải nhận biết được xu
hướng thế giới mới nắm chắc quyền chủ động trong môi trường quốc tế đầy biến
động trong môi trường quốc tế đầy biến động phức tạp và cạnh tranh gay gắt.
Vấn đề Trung Quốc trỗi dậy đã trở thành một trong những chủ đề nổi bật và
đáng chú ý của nền chính trị quốc tế thời kì sau chiến tranh lạnh. Một Trung Quốc
đang trỗi dậy sẽ gây ra sự quan ngại không những cho các nước lớn như Mỹ, Nhật
Bản, hay Nga mà ngay cả cho những nước trong khu vực, những đối tượng chịu tác
động trực tiếp từ sự trỗi dậy này. Do đó, sự hoài nghi và cảnh giác cũng như dè
chừng trong quan hệ với Trung Quốc của các nước trong khu vực là điều không thể
tránh khỏi.
Do đó, hơn một thập kỷ qua, Trung Quốc đã có những bước điều chỉnh về mặt
chính sách nhằm xoa dịu sự lo sợ về cái gọi là “thuyết mối đe dọa Trung Quốc” đồng
thời xây dựng và củng cố hơn nữa lòng tin của các nước trong khu vực về hình ảnh
một Trung Quốc “ôn hòa”, sẵn sàng gánh vác và chia sẻ lợi ích cũng như trách
nhiệm trong việc giải quyết các vấn đề trong khu vực. Song song với việc gia tăng
quyền lực cứng cụ thể là sức mạnh quân sự tại khu vực Đông Nam đã và đang tập
trung xây dựng, thiết lập một chiến lược triển khai quyền lực mềm và trên thực tế,
chiến lươc này đã đem lại những lợi ích và thành công không nhỏ Trung Quốc.
Vấn đề đặt ra ở đây là tại sao và xuất phát từ cơ sở nào mà Ttrung Quốc tăng
cường triển khai quyền lực mềm ở Đông Nam Á trong khi vẫn duy trì thậm chí là
1

2
phương thức phù hợp cho Trung Quốc trong giai đoạn hiện nay. Nó ngoài việc phát
huy tính hiệu quả của nó, thì nó còn giữ vai trò hỗ trợ quyền lực cứng. Nâng tầm
ảnh hưởng của Trung Quốc trên trường quốc tế. Tuy nhiên, tác giả mới phân tích
một cách sơ lược về hai loại quyền lực này, và tác giả chưa phân tích được mối
quan hệ giữa hai loại quyền lực này trong thực tế.
- Nguyễn Minh: “Sức mạnh mềm trong quan hệ quốc tế ”, tạp chí Cộng
sản, số 808 (tháng 2 năm 2010). Tác giả đưa ra khái niệm sức mạnh cứng và sức
mạnh mềm, từ đó tác giả phân tích việc triển khai sức mạnh mềm ở mỗi quốc gia
có sự khác nhau. Tác giả cho rằng nước càng lớn càng cần sức mạnh mềm và tác
giả phân tích rõ tiềm năng sức mạnh mềm của Việt Nam. Tuy nhiên việc phân tích
hai loại quyền lực này mới chỉ dừng lại việc đưa ra mà chưa phân tích sâu. Tác giả
chủ yếu phân tích việc triển khai quyền lực mềm ở các nước phát triển cao mà chưa
nhấn mạnh việc triển khai loại quyền lực sự cần thiết và có hiệu quả cả ở những
nước đang phát triển.
- Nguyến Đức Tuyến, “Về sức mạnh mềm của Trung Quốc ở Châu Á”,
tạp chí nghiên cứu Quốc tế, số 72. bài viết này tác giả đưa ra việc phân tích khái
niệm sức mạnh mềm, và phản ánh thấy việc đang tận dụng sự “ hấp dẫn” của
Trung Quốc để gây ảnh hưởng lên các nước Châu Á. Hoạt động này giúp Trung
Quốc tránh được sự nghị kị của các nước Châu Á nhất là các Đông Nam Á đối với
ý đồ Bắc Kinh. Ở bài này tác giả phần lớn chủ yếu lại nghiêng phần nhiều về phân
tích sự mở rộng sức mạnh mềm của Trung Quốc, mà phần khái niệm chỉ đưa ra rất
sơ lược về phần khái niệm, để thấy được sự tích cực và hạn chế của nó.
- Hồng Yến: “ Nguồn sức mạnh mềm của Trung Quốc”, tạp chí những
vấn đề Kinh tế và chính trị thế giới số 3( 143), 2008. Tác giả đưa ra khái niệm về
sức mạnh mềm là gì và tác giả đưa ra các nguồn sức mạnh mềm của Trung Quốc.
Tác giả nghiêng về việc đưa ra các nguồn sức mạnh mềm mà chưa phân tích sự
triển khai các nguồn lực sức mạnh để chuyển hóa thành quyền lực hiện thực.
Đây là những công trình nghiên cứu mang trình độ tư duy và sự khảo cứu
tìm tòi đầy khoa học. Tuy nhiên, các tác giả phân tích chủ yếu nghiên cứu về sức

triển khai quyền lực mềm.
4
Phạm vi nghiên cứu: đề tài tập trung về việc nghiên cứu sự triển khai
quyền lực mềm của Trung Quốc với các nước trong khu vực Đông Nam Á.
Đồng thời nghiện cứu những tác động của chiến lược đó với khu vực Đông Nam
Á và đưa ra kiến nghị với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
6. Kết cấu.
Khóa luận có kết cấu như sau: Ngoài phần mở đầu và kết luận đề tài có ba
chương:
Chương I: Quyền lực mềm trong lí luận quan hệ quốc tế
Chương II: Trung Quốc với chiến lược triển khai quyền lực mềm tại Đông
Nam Á
Chương III: tác động của chiến lược triển khai quyền lực mềm của Trung
Quốc ở Đông Nam Á và kiến nghị ứng xử với Việt Nam
5
Phần II- Phần nội dung.
Chương I- Quan điểm của Trung Quốc về quyền lực mềm
1.1. Quyền lực mềm trong lí luận quan hệ quốc tế
1.1.1 Khái niệm quyền lực.
Cho đến nay, trong giới khoa học vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau xung
quanh khái niệm quyền lực. Quyền lực theo tiếng Latinh là potere, tiếng anh là
power, thêm tiếng Nga là vlast ( tiếng Anh không có động từ “ ảnh hưởng” hoặc “
thi hành” ). Dù quan niệm, cách tiếp cận về quyền lực còn có những quan điểm
khác nhau, nhưng các ngôn ngữ đều có điểm thống nhất: quyền lực liên quan đến
sức mạnh, sự ảnh hưởng, định hướng, kiểm soát, quản lý, thống trị…
Để làm rõ khái niệm quyền lực, có nhiều cách tiếp cận khác nhau:
- Theo tiếng Hán, thuật ngữ quyền lực được hình thành từ hai từ ghép lại:
quyền và lực. Lực là sức mạnh, khái niệm chỉ một thuộc tính của bất kỡ hệ vật chất
nào xột trong tương tác với hệ vậ chất khác, có khả năng duy trỡ sự tồn tại hoặc tạo
nên sự biến đổi; là cái vốn có của bất kỡ hệ vật chất nào nhưng lại hiện hỡnh trong

chủ thể trong mối quan hệ xó hội sẽ ở vào một vị thế thực hiện được ý chớ của mỡnh
bất chấp sự phản kháng tại vị trí để thực hiện ý chí”. Ông đó khụng chỉ giới hạn cỏc
hỡnh thức biểu hiện của quyền lực bởi cưỡng bức và bạo lực, mà cũn thừa nhận vai
trũ của chớnh kiến, ảnh hưởng uy tín …phạm trù quyền lực được Ông phân tích từ
góc độ khác nhau: tâm lí học, xó hội học, kinh tế học, chớnh trị học…
3
- Theo Đantra, quyền lực là cái giúp ta buộc người khác phải phục tùng.
Lipson cho rằng: “ quyền lực là khả năng đạt tới kết quả nhờ hoạt động phối hợp”.
4

A. Grazia khái quát: “quyền lực là khả năng ấn định những quyết định có ảnh hưởng
đến thái độ con người”. B. Russel lại hiểu “quyền lực là cái làm cho người khác hoạt
động theo sự lựa chọn của ta, là khả năng tạo ra sản phẩm có chủ ý”. A.Toffler nhấn
mạnh: “ quyền lực là cái buộc người khác phải hành động theo ý của ta”; bạo lực, của
cải, tri thức là ba dạng phổ biến và cũng là phương thức cơ bản để đạt quyền lực.
2
Lê Minh Tâm: bàn về tính thống nhất của quyền lực nhà nước vàâ sự phân công phối hợp trong
việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, tạp chí luật học, số 5- 2002, tr 40- 48.
3
Max Weber: quyền lực, sự thống trị và tính hợp pháp ( trong “ Quyền lực trong cỏc xó hội hiện
đại”, Nxb S. Phancisco, 1993( bản dịch), tr 31.
4
Xem, Dương Xuân Ngọc( chủ biên), Chính trị học đại cương, Nxb Chính trị quốc gia, H. 1999, tr
105
7
- Theo G. Wassrman: “quyền lực là khả năng gây ảnh hưởng đến hành vi của
người khác, là khiến cho người khác làm một việc mà họ không muốn làm”.
5
- Theo “Bách khoa toàn thư” ( Liên Xô), quyền lực là phạm phù dùng để chỉ
khả năng thực hiện ý chớ của mỡnh tỏc động lên hành vi, phẩm hạnh của người khác

. Bách khoa triết học, M, 1983, tr 15.
7
. Từ điển Bách Khoa Việt Nam, nxb TĐBK, H.2003, tr 638.
8
Xem, Dương Xuân Ngọc( chủ biên), Chính trị học đại cương, Nxb Chính trị quốc gia, H. 1999, tr
105)
9
Viện Khoa học chính trị, học viện CTQGHCM, tập bài giảng Chính trị học, nxb LLCT, H.2004, tr
236)
8
Tổng hợp những khái niệm quyền lực từ nhiều cách tiếp cận khác nhau, có
thể hiểu: Quyền lực là khả năng thực hiện ý chí của mình, có tác động lên hành vi
của người khác nhờ một ưu thế nào đó như sức mạnh, địa vị xã hội.
1. 1. 2. Khái niệm quyền lực mềm
Những phân tích của các học giả Phương Tây hiện đại về những yếu tố cơ
bản trong thực lực quốc gia đó cung cấp cơ sở lí luận đầu tiên cho chúng ta nghiên
cứu trong lĩnh vực này các quan điểm có thể chia làm ba phái:
- Thứ nhất : học phái phân tích định tính. Nhân vật tiêu biểu là Hans
Morgenthau và Raymon Alon.
Raymon Alon tổng kết quốc gia bao gốm ba yếu tố cơ bản là : A- chiếm
lĩnh không gian địa lí; B - tài nguyên : bao gồm cả vật chất và con người ; C -năng
lực hành động tập thể liên quan đến tổ chức quân sự, kết cấu xó hội và chất lượng.
Hans Morgenthau lại cho rằng sự tạo dựng thực lực quốc gia chủ yếu
được quyết định bởi 9 yếu tố lớn là : địa lí, tài nguyên thiên nhiên, sức mạnh công
nghiệp, chất lượng quân sự, dân số, đặc tính dân tộc, sĩ khí của quốc dân, chất lượng
ngoại giao và chất lượng chính phủ.
- Thứ hai, học phái phân tích định lượng, hay cũn gọi là học phỏi phõn
tớch hành vi chủ nghĩa. Học phỏi này cho rằng phương pháp phân tích định tính
không phân giải, lượng hóa đầy đủ tất cả các yếu toostrong thực lực quốc gia mà
những khái niệm không được lượng hóa sẽ không chính xác không khoa học. Nhân

Trong cuốn sách « lónh đạo đó được định trước» xuất bản năm 1990, Nye
càng cho rằng, trong thế giới ngày nay, Mỹ không chỉ có lợi thế về quyền lực cứng
như kinh tế, quõn sự, mà cũn cú lợi thế về quyền lực mềm như văn hóa, quan điểm
về giá trị và hỡnh thỏi ý thức… ễng cho rằng từ khi bước vào thời kỡ hậu chiến tranh
lạnh đến nay cùng với kí thuật không ngừng được nâng cao, mức độ phụ thuộc vào
nhau giữa các quốc gia ngày càng tăng, sự xuất hiện của các chủ thể hành vi xuyên
quốc gia mới, sự thức tỉnh của chủ nghĩa dân tộc nước nhỏ và sự thay đổi chủ đề
chính trị ngày càng phân tán, nước lớn ngày càng không thể lợi dụng các nguồn sức
mạnh truyền thống để thực hiện mục tiờu của mỡnh.
10
Trong cuốn sách này ông cho rằng : “ quyền lực mềm là khả năng hướng tới
mục tiêu bằng sức hấp dẫn của mỡnh chứ không phải bằng cách cưỡng ép trong các
công việc quốc tế”. Quyền lực mềm bắt nguồn từ ba yếu tố: văn hóa ( phát huy tác
dụng hấp dẫn đối với các nước khác), quan điểm giá trị (khi ở trong và ngoài nước
đều thực sự thực hành những giá trị này) và chính sách ngoại giao (khi chính sách
được coi là hợp pháp và uy tín đạo đức).
Trong cuốn sách “ Bound to lead the chaning nature of American Power”
( vượt lên để dẫn đầu: bản chất đang thay đổi của quyền lực Mỹ), Nye cho rằng việc
làm các quóc gia khác nhau thay đổi có thể được gọi là phương pháp chi phối hoặc
chỉ huy của việc thể hiện quyền lực và có thể được thực hiện dựa vào sự dụ dỗ (củ cà
rốt) hoặc đe dọa (cây gậy). Tuy nhiên, quyền lực có thể được thực thi một cách gián
tiếp mà theo Nye mô tả, chính là “bộ mặt thứ hai của quyền lực”
« Trong nền chính trị thế giới, một quốc gia có thể đạt được những kết
quả mong muốn khi các quốc gia khác nhau muốn đi theo họ hoặc đồng ý với một hệ
thống có
́
thể đem lại những kết quả như vậy. Khía cạnh này của quyền lực khiến cho
các nước khác muốn điều mỡnh muốn, có thể được gọi là các quyền lực gián tiếp
hoặc quyền lực kết nạp, điều này trái ngược với hành vi quyền lực chi phối chủ động
nhằm khiến người khác làm điều mỡnh muốn, quyền lực kết nạp cú thể dựa trờn việc

2. Bạn có thể buộc họ bằng cách đe dọa.
3. Bạn có thể thu hút họ và dựa vào họ.
Quyền lực mềm dựa tren khả năng hỡnh thành nên sự tham khảo cho những người
khác
Trong khái niệm hành vi, quyền lực mềm đơn giản là những quyền thu hút người
khác bằng các phẩm chất vốn có và bằng hiệu quả của việc họ truyền đạt”.
Trong cuốn “ soft power – the mean to success in world politis” (quyền lực
mềm- phương tiện để giành thắng lợi trong chính trị thế giới) xuất bản 2004 Nye tiếp
tục phát triển khái niệm quyền lực mềmvà khai thỏc những ẩn ý và hạn chế của
quyền lực mềm theo những cỏch mà ụng chua hề làm trong hai tỏc phẩm trước đay
của ông, Theo Nye, “ Quyền lực mềm là khả năng đạt được điều mà bạn muốn thông
qua sức hấp dẫn về văn hóa, tư tưởng chính trị và các chính sách của một quốc gia.
Ông cũng nhấn mạnh rằng, sự hấp dẫn sẽ tạo nên điểm khởi đầu và khi các chính
12
sách của một quốc gia được nhỡn nhận hợp phỏp trong mắt những nước khác thỡ cú
nghĩa là quyền lực mềm của nước đó được tăng cường”.
Trong cuốn : “tái suy ngẫm về khái niệm quyền lực mềm” ( think again :
soft power), xuất bản năm 2006, ông cho rằng : “quyền lực mềm đơn giản thông qua
sự thu hút, hấp dẫn hoặc dụ đỗ của mỡnh làm thay đổi hành vi của người khác, từ đó
đạt được cái mà mỡnh cần”. Ngoài ra ễng cũn chỉ ra ba nguồn gốc của quyền lực
mềm. Đó là văn hóa, thể chế chính trị và chính sách ngoại giao của một nước. Quyền
lực mềm là sức hấp dẫn được hỡnh thành từ văn hóa, lí tưởng chính sách của một
nước. Ông cũn khỏi quỏt quyền lực mềm là sự ảnh hưởng, sức hấp dẫn, và khả năng
bắt chước, là một loại thực lực, có năng lực đồng hóa , những điều thu được từ
quyền lực có khả năng đồng hóa này là sức hấp dẫn của tư tưởng quốc gia. Hoặc có
khả năng hướng dẫn chính trị ở mức độ nào đó có thể thể hiện ý nguyện của nước
khác
Khả năng chi phối được ý nguyện của người khác này có liên quan mật thiết
với lực lượng vô hỡnh như văn hóa, hỡnh thỏi ý thức và chế độ xó hội...
“ Tính phổ cập của nền văn hóa một nước và năng lực thiết lập những chuẩn tắc và

khác buộc đối tượng kia phải phục tùng.
Quyền lực cứng được thực hiện thông qua sự đe dọa, dụ dỗ hoặc trả lương
khen thưởng. Hai nguồn chính của quyền lực cứng là đe dọa và dụ dỗ khen thưởng
và tiền hoa hồng, chúng ta sẽ hài lũng hơn là khi bị đe dọa nhưng chúng có thể tạo
thành một mối đe dọa nguy hiểm.
Quyền lực cứng là biện pháp được sử dụng phổ biến trong lịch sử và cho
tới nay nó vẫn được xem là công cụ phổ biến và có hiệu quả được tất cả các quốc gia
sử dụng và và chưa có thể thay thế hoàn toàn được nó.
1.1.4. Đặc điểm của quyền lực mềm trong quan hệ quốc tế.
Nếu văn hóa và hỡnh thỏi ý thức của nước đó có sức hấp dẫn càng mong
muốn học tập theo. Nếu nước đó có thể xây dựng được một quy phạm quốc tế giống
xó hội của mỡnh, thỡ khả năng phải thay đổi chính mỡnh là rất nhỏ. Nếu nước đó có
thể giúp đỡ ủng hộ những chế độ, khuyến khích các nước khác lựa chọn hoặc hạn
14
chế hành vi của mỡnh dựa trên cách thức mà quốc gia chủ chốt thớch thỡ quỏ trỡnh
mặc cả co
́
thể không cần thực hiện cưỡng chế hoặc sử dụng quyền lực cứng.
10

Như Nye đó núi : sức mạnh mềm chớnh là loại sức hấp dẫn tỏc động gián
tiếp vào hành vi của người khác. Những lợi ích mà quyền lực mềm mang lại cho một
quốc gia không phải là những lợi ích có thể thấy được ngay, nhưng nó lại mang đến
nhưng tác dụng ngoài mong muốn.
Với các quốc gia- dân tộc, quyền lực mềm là công cụ quan trọng trong
việc thực thi chính sách đối ngoại. khi nói về những lợi ích của quyền lực mềm,
Joseph. S. Nye cho rằng trong quan hệ quốc tế, một quốc gia có thể tác động vào
một quốc gia khác một cách tự nhiên thông qua các giá trị như ý chí, kĩ năng ngoại
giao, khả năng huy động sự ủng hộ nội bộ hay hệ tư tưởng tôn giáo… và khi giá trị
của một quốc gia được nhiều nước khác chia sẻ thỡ quốc gia đó có thể dễ dàng gây

Không ai thích lại bị lôi kéo thậm chí bằng quyền lực mềm. Giống như nhiều loại
quyền lực nó có thể được mong muốn cho mục đích tốt hay xấu và những mục đích
này thường thay đổi trong mắt những nguời nhỡn nú.
Đối với một quốc gia đều là cách thức để một quốc gia tạo ảnh hưởng tác
động ra bên ngoài thể hiện quyền lực của mỡnh. Cả quyền lực cứng và quyền lực
mềm chỉ phỏt huy sức mạnh của nú ở một mặt nào đó. Quyền lực nào mạnh hơn cũn
tựy thuộc vào từng tỡnh huống cụ thể mà quốc gia muốn đạt tới. nếu như trong một
cuộc chiến tất nhiên quyền lực cứng sẽ quan trọng hơn. Cũn nếu bạn muốn thỳc đẩy
dân chủ thỡ quyền lực mềm cú ý nghĩa hơn. Quốc gia đó không thể “ xuất khẩu” dân
chủ đó thông qua súng đạn mà chỉ có thể thông qua ý tưởng.
Khi việc sử dụng quyền lực cứng thấp hơn quyền lực mềm nó làm cho
việc lónh đạo khó khăn hơn. Quyền lực cứng tạo cho người lónh đạo được quyền để
ép buộc đối tượng.
Việc sử dụng cả phong cách quyền lực cứng và quyền lực mềm để được
các mục tiêu chuyển đổi để giới hạn các mục tiêu hoặc để bảo vệ tỡnh trạng hiện tại.
Cả hai quyền lực này đều là cách thức để một quốc gia tạo ảnh hưởng tác động ra
bên ngoài, thể hiện quyền lực của mỡnh. Việc kết kợp giữa chúng sẽ tạo ra thứ
quyền lực thông minh( smart power) tạo ra chiến lược thành công; quyền lực cứng
là khả năng để phát huy được quyền lực mềm, giúp quyền lực mềm hấp dẫn. Ngược
lại, quyền lực mềm tạo khả năng cho việc hành động quyền quyền lực cứng tăng lên,
có hiệu quả hơn. Đó là khả năng kết hợp giữa công cụ quyền lực cứng và quyền lực
mềm cho một chiến lược thành công.
16
Trong xu thế hiện nay cỏc quốc gia trờn thế giới muốn phỏt triển bền vững
thỡ cần phải cú sự liờn kết, hợp tỏc với nhau. Dung hũa đối với chủ quyền quốc gia
và lợi ích dân tộc, thúc đẩy sự hỡnh thành lợi ớch của toàn nhân loại,. cuối cùng
trong tương lai sẽ trở thành quốc gia không biên giới. Việc tồn tại dựa vào nhau
không chỉ qua lại lẫn nhau, tồn tại dựa vào nhau mang tính nhạy cảm và mang tính
mềm yếu để giả thích được quyền lực được tạo ra từ tồn tại dựa vào nhau không
tương xứng như thế nào.

thấy ngay được nhưng nó lại mạng lại những tác dụng ngoài mong muốn.
Với các quốc gia – dân tộc quyền lực mềm là công cụ quan trọng trong việc
thực thi chính sách đối ngoại. Khi nói về những lợi ích của quyền lực mềm, Josph
Nye cho rằng, trong quan hệ quốc tế một quốc gia có thể tác động vào một quốc gia
khác “ một cách tự nhiên” thông quan các giá trị như ý chí, khả năng ngoại giao, khả
năng huy động ủng hộ nội bộ hay hệ tư tưởng tôn giáo … và khi giá trị của một quốc
gia được nhiều nước khác chia sẻ thỡ quốc gia đó có thể dễ dàng gây ảnh hưởng lên
hành vi của quốc gia khác. Quan điểm này của Nye được Joshua S. Goldstein chia sẻ
khi cho rằng quyền lực ý tưởng có thể giúp “tối đa hóa các khả năng ảnh hưởng
thông qua quy trỡnh tõm lớ” và một quốc gia cú thể thu được ảnh hưởng quốc tế
thông qua việc trở thành người làm luật hay thay đổi cách nhỡn của quốc gia khỏc
đối với lợi ích quốc gia của họ.
Chớnh vỡ vậy, trong xõy dựng chớnh sỏch đối ngoại, bên cạnh loại sức
mạnh truyền thống, các quốc gia luôn nhấn mạnh việc áp dụng triệt để các biện pháp
sử dụng quyền lực mềm nhằm đạt được các mục tiêu và nhiệm vụ chiến lược đó đề
ra.
Việc phát huy quyền lực mềm chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố:
Trước hết, là chịu sự tác động của nhân tố nguồn tài nguyờn chớnh trị. Do
bất bỡnh đẳng trong phát triển chính trị, kinh tế thế giới, nguồn tài nguyên chính trị
của các nước khác nhau, những nước có nguồn tài nguyên chính trị phong phú
thường có nhiều nguồn quyền lực mềm hơn, có thể phát huy một cách có hiệu quả
tác dụng của quyền lực mềm. Trong khi đó những nước nhỏ và yếu thỡ thiếu nguồn
tài nguyên chính trị. Vỡ vậy, việc phát huy hiệu quả và tác dụng của quyền lực mềm
18
chịu sự hạn chế về thiếu nguồn tài nguyên quyền lực mềm, từ đó ảnh hưởng tới việc
phát huy vai trũ của nú.
Thứ hai, sự khác nhau về hiệu quả sử dụng nguồn tài nguyên quyền lực
mềm cũng ảnh hưởng tới việc phát huy hiệu quả và tác dụng của quyền lực mềm.
Nguồn tài nguyên quyền lực mềm phải thực thi mới có thể phát huy tác dụng. Trong
quỏ trỡnh thực thi, kĩ năng và hiệu quả trực tiếp ảnh hưởng tới kết quả của quyền lực

gia thực hiện nó có những giá trị được nhiều người mến mộ và chia sẻ. Đó là những
cơ sở rất quan trọng để các nước triển khai và mở rộng quyền lực mềm. Thế nhưng,
đây cũng chính là một nhược điểm của quyền lực bởi không phải quốc gia nào cũng
có thể áp dụng chiến, lược mở rộng quyền lực mềm mặc dù người ta có thể cho rằng:
quyền lực mềm không phải chỉ là “sân chơi” của các đại gia. Bên cạnh đó, cũng
giống như quyền lực cứng, bản thân quyền lực mềm khi được triển khai quá mạnh
mẽ cũng có thể gây ra những hậu quả không mong muốn phản tác dụng, có thể thấy
dẫn chứng:
Tại Châu Phi, trong thời gian gần đây lónh đạo cao cấp Trung Quốc liên
tiếp thăm Châu Phi tuyên bố xóa nợ 1 tỷ USD cho Châu Phi, triển khai hơn 900 dự
án đầu tư xây dựng sân vận động, đường xó, bệnh viện và trường học. Trung Quốc
cũng đào tạo trên một nghỡn sinh viờn Chõu Phi tại cỏc trường đại học ở Trung
Quốc và cử hơn 900 bác sĩ làm việc tại Châu Phi. Các quốc gia ở khu vực này gần
đây đang tỏ ra vẻ hoài nghi về ý đồ của Trung Quốc đối với các nước này.
Cuối cùng, khái niệm “ quyền lực mềm” được Joseph Nye đưa ra có nội
dung khá hẹp, chủ yếu tạp trung vào sự phân tích sự triển khai quyền lực mềm thông
qua các hoạt động kinh tế mà chưa đề cập đến ca các haotj động khác như nhà đầu
tư, viện trợ hay ngoại giao. Trong khi đó, ở Châu Á, biểu hiện của quyền lực mềm
được mở rộng hơn. Cụ thể là, đối với Trung Quốc, là việc triển khai quyền lực mềm
của nước này đối với các nước láng giềng Đông Nam Á bao gồm hoạt động văn hóa,
ngoại giao, việc gia nhập các tổ chức diễn đàn khu vực các hoạt động thương mại ở
nước ngoài và vai trũ hấp dẫn của kinh tế, viện trợ đầu tư…Vỡ vậy, quyền lực mềm
như người ta thường nói ngày nay ẩn chứa tất cả các nhân tố ngoài lĩnh vực an ninh
chứ không đơn thuần là các hoạt động trao đổi và viện trợ kinh tế như Nye đó đề cập
trong học thuyết của mỡnh.
20
1. 2. Quan điểm của Trung Quốc về quyền lực mềm
1.2.1.Quyền lực mềm hay sức mạnh mềm.
Theo tiếng Anh từ Power có nghĩa là quyền lực mềm hay sức mạnh mềm.
Tuy nhiên, hai phạm trù này khác nhau, sức mạnh mềm muốn trở thành quyền lực

mạnh tài nguyên( resource power):
+ Sức mạnh hành vi chỉ khả năng đạt được kết quả mong muốn
+ Sức mạnh tài nguyên lại chỉ tài nguyên có đưiocj liên quan đến năng lực đạt
được kết quả mong muốn
“ Soft power” và “ hard power” cùng tồn tại và cùng thuộc về sức mạnh
hành vi: trong đó, “ soft Power” chỉ năng lực đạt được kết quả bạn mong muốn trong
khi người khác muốn, bạn cũng muốn.
Ở đây, Nye đó giới hạn rừ ràng” soft power” là loại năng lực hành vi. Năng
lực này ảnh hưởng đến người khác chứ không phải là tài nguyên hoặc chiếm hữu tài
nguyên. Có thể thấy, Nye đó quy nạp hành vi vào trong quan hệ tỏc dụng và bị tỏc
dụng giữa những người khác, khiến nó thuộc về phạm trù quan hệ, chứ không coi nó
là vật chất ( tài nguyên) hoặc là phạm trù thực thể để xem xét.
Trong xó hội học và chớnh trị học, quyền lực khụng phải là vật chất, mà là
một loại quan hệ mang tớnh ỏp lực khụng cõn bằng, khụng ngang bằng, nú thuộc về
phạm trự quan hệ: “sức mạnh” là loại sức mạnh mang tính thông thường, là một loại
phạm trự thực thể. Rừ ràng, “ quyền lực” và “ sức mạnh” là hai khỏi niệm khỏc
nhau, thuộc về hai phạm trự khỏc nhau.
Theo đó năng lực hành vi là quyền lực có thể gọi là: “ quyền lực hành vi”( mà
không thể nói là sức mạnh hành vi), có thể gọi là “sức mạnh tài nguyên”( mà không
gọi là “ quyền lực tài nguyên”). Và “ soft power” thuộc về năng lực hành vi , mà
năng lực hành vi là quyền lực, tức là “ quyền lực hành vi”. Như vậy, nên diễn đạt
“soft power” của Nye là “ quyền lực mềm” để chỉ ra đặc tính quan hệ nó là năng lực
hành vi.
Nếu dịch “ soft power” thành sức mạnh mềm rừ ràng là đó hiểu sai chủ ý
của Nye, sai là đó coi nú thành vật chất và thực thể. Trong khi đó “ sức mạnh mềm”
lại thuộc về tài nguyên như Nye đó núi. Núi một cỏch chớnh xỏc, nú thể hiện là thực
lực tài nguyờn, tương quan với quyền lực mềm trong sức mạnh tài nguyên. Nó là
“tài nguyên quyền lực vụ hỡnh”.
22
Trên cơ sở “quyền lực mềm” và “sức mạnh mềm” là hai khái niệm hoàn

mạnh của một quốc gia càng lớn, quyền lực của nó đối với các nước khác hoặc trong
xó hội quốc tế càng lớn. Cũng như vậy, sức mạnh mềm của một nước càng mạnh thì
sức mạnh mềm đối ngoại của nó càng lớn.
Trong xã hội quôc tế sức mạnh hành vi ảnh hưởng đến nước khác với
phương thức đặc thù (phi cưỡng chế), quyền lực mềm của một nước cần dựa vào vận
dụng tài nguyên quyền lực mềm- sức mạnh mềm mới đạt được.
Nye đã chỉ ra: là một loại sức mạnh hấp đẫn, sức mạnh mềm chính là: “ năng
lực hấp dẫn đối phương thông qua sức hấp dẫn kỳ lạ của văn hóa và hình thái ý
thức”
11
, vì thế mấu chốt của vấn đề sức mạnh mềm không phải ở chỗ có thể tăng
cường hoặc nâng cao, mà là ở chỗ phát huy sức mạnh hiện có với tư cách là tiềm
năng, thực thi ảnh hưởng và tác dụng chi phối đói với nước đối tượng hoặc nước
mục tiêu một cách thực tế như thế nào. Do đó, sức mạnh chuyển từ trạng thái thực
tại chuyển hoiá thành quyền lực mềm.
1.2.2. Quan điểm của Trung Quốc về quyền lực mềm.
Quyền lực mềm ngày càng trở thành thành phần hạt nhân trong địa vị quốc
tế của một quốc gia, việc đoạt quyền lực ở tầm cao chiến lược trở thành yêu cầu căn
bản thực hiện mục tiêu tổng thể của quốc gia đưa quyền lực mềm vào đánh giá
chung quyền lực của quóc gia và điều chỉnh yếu tố cơ bản của nó, làm thế nào
chuyển sức mạnh của quốc gia đã được tăng cường của Trung Quốc thành ảnh
hưởng quốc tế mang tính xây dựng một cách có hiệu quả đã trở thành chủ đề thảo
luận sôi nổi của giới chiến lược Trung Quốc.
Ở Trung Quốc, khi giải quyết các mối quan hệ đối ngoại, các chiến lược
quân sự cổ xưa của Trung Quốc tập trung vào những hoạt động ngoại giao hơn là đối
mặt trên chiến trường. Ngay từ thế kỉ IV T.C.N như là một bộ phận của thuật trị
nước, một chiến lược tổng hợp và thống nhất nhằm là lung lạc kẻ thù, phá vỡ sự cân
bằng của họ và cưới cùng là chiến thắng mà không cần phải dụng binh. Đại diện cho
triết thuyết này là Tôn Tử. Ông cho rằng: hành động quân sự chỉ là một bộ phận và
không phải là bộ phận quan trọng nhất trong cách tiếp nhận hài hòa về an ninh. Phần

không thể kiểm soát của sự tự do hóa giai cấp tư sản có thể sẽ có những hậu quả
nghiêm trọng…chủ nghĩa đế quốc đang thúc đẩy diễn biến hòa bình chống lại chủ
12
Tôn Vũ (2009), Binh pháp tôn tử, , HĐ Group, Nxb Hà Nội, 2009, tr 23
25

Trích đoạn 3 4 Sự suy giảm ảnh hưởng của Mỹ tại khu vực Đông Nam á. Tin Bộ ngoại giao ngày 2/5/ 4.2 “Chuyển hóa thuyết mối đe dọa” Trung Quốc thành “thuyết về cơ hội Trung Quốc” Chuang.M “A Weak or strong China: Which is betteer for the Asia pasific region? Trích báo cáo chính trị của đại hội XVII ĐCS Trung Quốc ngày 15/10/2007.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status