LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ: Chính sách đối ngoại của Trung Quốc đối với khu vực Nam Á trong thập niên đầu của thế kỉ XXI - Pdf 37

A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Cuối thế kỷ XX, sự sụp đổ của trật tự hai cực Ianta, sự tan rã của hệ
thống XHCN ở Liên Xô và Đông Âu, cùng với sự chấm dứt của Chiến tranh lạnh
đã làm đảo lộn trật tự thế giới. Nước Mĩ với ưu thế về sức mạnh kinh tế, chính
trị, quận sự…, đã ra sức tìm mọi cách thiết lập một trật tự thế giới mới do chính
Mĩ đứng đầu và chi phối. Tuy nhiên, những tham vọng đó đang ngày càng bị
thách thức bởi sự trở lại và trỗi dậy mạnh mẽ của các nhân tố cạnh tranh khác
như: Nga, EU, Nhật Bản…, trong đó đặc biệt là Trung Quốc.
Bước sang thập niên đầu của thế kỷ XXI, sau hơn hai, ba thập kỷ chính
thức tiến hành cải cách và mở cửa (kể từ năm 1978), Trung Quốc đã và đang
phát triển nhanh chóng, toàn diện về mọi mặt: kinh tế, chính trị, quân sự…, trở
thành cường quốc không chỉ trong khu vực mà cả trên vũ đài thế giới và là đối
thủ chính của Mĩ trong cuộc cạnh tranh quyền lực, hay thách thức bất cứ lực
lượng đối địch nào muốn kiềm chế sự lớn mạnh của đất nước này.
1.2. Sự phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ của Trung Quốc không chỉ đòi
hỏi phải có một nền chính trị, xã hội và an ninh trong nước ổn định mà còn đòi
hỏi một môi trường quốc tế và đặc biệt là các khu vực xung quanh có lợi. Bên
cạnh đó, cùng với sự vươn lên mạnh mẽ về kinh tế của Trung Quốc cũng thúc
đẩy cường quốc này khẳng định vị thế và quảng bá hình ảnh của mình một cách
mạnh mẽ trên trường quốc tế. Hơn thế nữa, công cuộc phát triển cũng biến Trung
Quốc trở thành “kẻ thèm khát” nhất là đối với các nguồn tài nguyên, năng lượng
của các quốc gia khác trên thế giới…
Tất cả những nguyên nhân trên đã khiến Trung Quốc dần điều chỉnh chiến
lược đối ngoại của mình một cách toàn diện trong những năm đầu của thế kỷ
XXI để phù hợp với sự thay đổi của tình hình mới, trong đó đặc biệt là chiến
1


lược đối ngoại đối với các nước láng giềng, mở rộng ra là với các khu vực xung
quanh, trong đó có khu vực Nam Á.

học lịch sử, tôi xin mạnh dạn chọn đề tài “Chính sách đối ngoại của Trung
Quốc đối với khu vực Nam Á trong thập niên đầu của thế kỉ XXI” làm luận
văn tốt nghiệp của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Đề tài “Chính sách đối ngoại của Trung Quốc đối với khu vực Nam Á
trong thập niên đầu thế kỷ XXI” là một đề tài thú vị. Nhưng ở Việt Nam hiện
nay, chưa có nhiều công trình tập trung nghiên cứu khai thác một cách toàn diện.
Bởi vậy, để làm rõ các yêu cầu đặt ra, chúng tôi cố gắng tiếp cận đa chiều thông
qua nhiều nguồn tài liệu có liên quan của nhiều tác giả trong và ngoài nước, như
về: Vai trò, vị thế quốc tế của các nước lớn; chính sách đối ngoại của Trung
Quốc; Tầm quan trọng chiến lược của khu vực Nam Á; Một số luận văn, khóa
luận tốt nghiệp của học viên cao học và sinh viên đai học; Một số bài viết trên
nguồn Internet…. Trong số đó, đáng chú ý nhất là các công trình sau:
- PGS. TS Nguyễn Huy Quý (2008) – Viện Nghiên cứu Trung Quốc với
bài viết: “Quan hệ đối ngoại của CHND Trung Hoa qua 30 năm cải cách mở
cửa (1978 - 2008). Thành tựu và kinh nghiệm”, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu
Trung Quốc số 9 (88) năm 2008, đã khái quát khá toàn diện chiến lược đối ngoại
của Trung Quốc với các nước lớn, các nước láng giềng và các khu vực xung
quanh trong suốt 30 năm cải cách mở cửa (1978 – 2008), trong đó, có khu vực
Nam Á.
- TS. Lê Văn Mỹ (2005) - Viện Nghiên cứu Trung Quốc trong bài phân
tích “Bước đầu tìm hiểu về “Ngoại giao láng giềng” của Trung Quốc từ sau
Chiến tranh lạnh”, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc số 3 (61) – 2005,
đã phân tích khá rõ nét về chiến lược ngoại giao với các nước láng giềng của
Trung Quốc từ sau Chiến tranh lạnh đến những năm đầu thế kỷ XXI, trong đó có
đề cập cụ thể đến khu vực Nam Á.

3



4


khu vực xung quanh Trung Quốc trong những năm đầu thế kỷ XXI, trong đó có
khu vự Nam Á.
- “Quan hệ Trung Quốc – Nam Á: thách thức và triển vọng”, là bài viết
của tiến sĩ Swaran Singh – chuyên viên nghiên cứu Viện nghiên cứu và Phân tích
Quốc phòng Ấn Độ, được TTXVN dịch và đăng lại trong chuyên mục Tài liệu
tham khảo đặc biệt, 3/6/2000. Tác giả phân tích khá toàn diện những mục tiêu
trong các chính sách Nam Á của Trung Quốc trong thế kỷ XX, đồng thời chỉ ra
những thách thức cũng như triển vọng trong quan hệ Trung Quốc – Nam Á trong
thế kỷ XXI.
- “Bàn về chính sách đối ngoại của Trung Quốc” – bài phân tích của
Thời báo hoàn cầu, số ra ngày 12/12/2002, được TTXVN dịch và đăng lại trong
mục Tài liệu tham khảo chủ nhật, ngày 22/12/2002.
- “Trung Quốc với thuyết đa phương linh hoạt” – bài của tác giả Bàng
Trung Anh – Phó Giáo sư Viện nghiên cứu vấn đề quốc tế, Đại học Thanh Hoa,
đăng trên Tạp chí Kinh tế và chính trị thế giới (Trung Quốc), được TTXVN dịch
và đăng lại trong mục Tài liệu tham khảo đặc biệt, tháng 2/2002.
- “Quan hệ Trung - Ấn trong thế kỷ mới” – bài viết của Trình Thụy
Thanh, Cựu đại sứ Trung Quốc tại Ấn Độ, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu các vấn
đề quốc tế - Trung Quốc – số 21/2002, được dịch và đăng lại trong chuyên mục
Tài liệu tham khảo đặc biệt, tháng 7/2002 của TTXVN .
- “Chiến lược của Trung Quốc mở rộng ảnh hưởng ở Nam Á” – bài
phân tích của Rajeev Ranjan Chaturvedy, công tác tại Viện nghiên cứu hòa bình
và xung đột Ấn Độ, được TTXVN dịch và đăng trong chuyên mục Tài liệu tham
khảo đặc biệt, ngày 17/2/2003.
- “Chiến lược đối ngoại của Tung Quốc đầu thế kỷ XXI” – bài trích dịch
của TTXVN tại Hông Công (11/7/2003) từ cuốn “Sự lựa chọn chiến lược đối
ngoại của Trung Quốc trong thời kì đầu của thế kỉ XXI” của Nghiên cứu viên

tiếp cân được mục đích của luận văn là:

6


-

Trình bày những nhân tố bên trong, bên ngoài tác động đến việc hình

thành chính sách đối ngoại của Trung Quốc ở khu vực Nam Á.
-

Tìm hiểu những chính sách kinh tế - thương mại, chính trị, quân sự -

an ninh của Trung Quốc đối với khu vực Nam Á.
-

Khái quát những tác động của các chính sách này đối với các nước

trong khu vực Nam Á, cũng như các nước lớn trên thế giới có nhiều quan hệ và
lợi ích tại Nam Á như Nga, Mĩ… Từ đó nêu lên nhận xét, cũng như dự đoán về
triển vọng của chính sách đối ngoại của Trung Quốc đối với khu vực Nam Á.
4. Phạm vi nghiên cứu
Thông qua việc tiếp xúc với các nguồn tài liệu trong điều kiện có thể,
chúng tôi xác định phạm vi nghiên cứu của đề tài như sau:
-

Về không gian: Chúng tôi dùng khái niệm Nam Á để chỉ 7 quốc gia

trong khu vực phía Nam của lục địa châu Á được nhiều quan điểm trong và


Các công trình nghiên cứu, các bài viết đã được công bố, trích dẫn

trên các tạp chí chuyên ngành ở Việt Nam như Viện Nghiên cứu Trung Quốc,
Thông Tấn Xã Việt Nam…, nguồn Internet…
-

Những công trình nghiên cứu khoa học, như đề tài nghiên cứu cấp

Bộ, luận văn cao học, khóa luận tốt nghiệp đại học…
5.2. Căn cứ lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Luận văn được trình bày dựa trên quan điểm của Chủ nghĩa Mác –
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng về các vấn đề quốc tế, chính sách của
các nước lớn.
- Luận văn chủ yếu sử dụng hai phương pháp nghiên cứu, là phương pháp
lịch sử kết hợp với phương pháp lôgíc và phương pháp liên ngành để giải quyết
những vấn đề đặt ra. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng phương pháp thống kê, so
sánh để hỗ trợ làm rõ những vấn đề khoa học cần giải quyết.
6. Đóng góp của đề tài
-

Bằng việc hệ thống các nguồn tư liệu trên cơ sở xử lý các thông tin tư

liệu có liên quan đến chính sách đối ngoại của Trung Quốc đối với khu vực Nam
Á, luận văn cố gắng xây dựng một diện mạo tương đối đầy đủ, hoàn chỉnh về
chính sách đối ngoại của Trung Quốc đối với khu vực Nam Á trong thập niên
đầu của thế kỷ XXI.
-

Hiểu biết đầy đủ về chính sách đối ngoại của Trung Quốc đối với khu

1.1. Bối cảnh quốc tế
Năm 2010 không chỉ là mốc thời gian kết thúc giai đoạn phát triển 10 năm
trong lịch sử thế giới, mà còn là năm đánh dấu kết thúc một thập kỷ chứng kiến
những biến động lớn lao của nhân loại. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới cuối
thập niên đầu thế kỷ XX – một trong những cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất trong
hơn 50 năm qua; sự nổi lên của các cường quốc mới thách thức vị thế siêu cường
duy nhất của Mỹ sau “Chiến tranh lạnh”; sự cạnh tranh và hợp tác giữa các mô
hình phát triển; sự cạnh tranh và xung đột địa - chính trị ngày càng gay gắt; sự
trỗi dậy của các nền kinh tế mới nổi; cuộc chiến toàn cầu chống khủng bố do Mỹ
phát động còn đang diễn ra quyết liệt; các thành tựu khoa học - công nghệ đang
thay đổi diện mạo cuộc sống con người và cách nhìn nhận của chúng ta về thế
giới v.v… Những sự kiện đó là dấu hiệu về những biến chuyển lớn hơn nữa
trong tiến trình phát triển của thế giới trong thập kỷ tới.
Có lẽ ít có một thập kỷ nào trong lịch sử thế giới lại đầy ắp các sự kiện có
tác động làm thay đổi thế giới mạnh mẽ đến thế và khó tưởng tượng đến thế như
trong 10 năm đầu thế kỷ XXI.
Đánh giá về thập kỷ qua, Tạp chí “Thời Đại” (Time) của Mỹ với bài viết
“Kết thúc thập niên đầu thế kỷ XXI: Chào tạm biệt thập niên địa ngục” đã mô tả
thập kỷ đầu của thế kỷ XXI đối với nước Mỹ là “thập kỷ địa ngục”, “thập kỷ
của những ước mơ đổ vỡ”, hoặc “thập kỷ bị đánh mất” dưới tác động của những
biến cố tồi tệ.
Báo “Thời báo Niu Oóc” (The New York Times) của Mỹ đăng bài viết
của Giáo sư Pôn Cuốc - men, người từng đoạt Giải thưởng Nôben về kinh tế năm
10


2008, trong đó có nhận định, thập kỷ đầu thế kỷ XXI có thể gọi là “con số 0 tròn
trĩnh” đối với nước Mỹ.
Báo “Người bảo vệ” (The Guardian) của Anh, đăng bài viết đưa ra nhận
định: thập kỷ đầu của thế kỷ XXI là thập kỷ không chỉ của những tội ác có phạm

2001) và chiến tranh Irắc (năm 2003). Chính quyền Mỹ còn tham gia hàng loạt
chiến dịch không tuyên bố, các cuộc truy lùng các tổ chức khủng bố ở Pakixtan,
Yêmen, Sômali, Philippin, Inđônêxia...
Với những thay đổi về chiến lược và mục tiêu an ninh chưa từng có trong
lịch sử, Mỹ đã thu được những thành công trong việc chưa để xảy ra một vụ
khủng bố lớn nào xảy ra ở nước này trong 10 năm qua, một loạt âm mưu tấn
công khủng bố đã bị chặn đứng. Vụ biệt kích Mỹ tiêu diệt trùm khủng bố Ôsama
Bin Laden ngày 2/5 trên lãnh thổ Pakistan chấm dứt một trong những chiến dịch
săn lùng lớn nhất trong lịch sử.
Cuộc chiến chống khủng bố do Mỹ phát động cũng đã mang lại sự hợp tác
quốc tế tối thiểu cần thiết. Nhưng cho tới thời điểm này, người dân Mỹ phải suy
nghĩ nhiều về một nước Mỹ kiệt quệ do chiến tranh, một nền kinh tế của cường
quốc số 1 thế giới triền miên trước nguy cơ rơi trở lại hố sâu suy thoái nghiêm
trọng hơn. Những số liệu của chính phủ công bố cho là một thập kỷ qua, họ đã
tiêu tốn hơn 1.000 tỉ USD của người dân cho cuộc chiến chống khủng bố. Tuy
nhiên, con số của các cơ quan nghiên cứu trong nước Mỹ đưa ra lớn hơn gấp ba,
bốn lần.
Chưa hết, những hoạt động nhân danh cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ
trên khắp thế giới chưa hẳn đã mang lại an toàn cho nước Mỹ. Nhiều người Mỹ
cho rằng vụ tấn công khủng bố 11/9 “đã vĩnh viễn làm thay đổi thế giới”: nước
Mỹ đang bị đặt trong nguy cơ bị tấn công khủng bố mà trước đây đất nước này
chưa từng bị.
Bằng chứng là những cảnh báo an ninh tiếp tục được đưa ra, trên cả nước
và với các lợi ích của Mỹ trên toàn thế giới. Trong khi đó, tin tức tình báo cũng

12


như những vụ khủng bố được tiến hành gần như hàng ngày cho thấy các tổ chức
khủng bố vẫn tiếp tục hoạt động tại Trung Đông, Bắc Phi, Nam Á và Đông Nam

mà không cần được phép của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, đe doạ sự ổn
định và hoà bình ở châu Âu và trên thế giới.
Sự nổi lên của các cường quốc mới và phong trào cánh tả ở Mỹ La-tinh,
cũng là vấn đề lớn trong cục diện chung của thế giới trong thập niên đầu thế kỷ
XXI, với sự nổi lên đầy ngoạn mục của các thực thể chính trị lớn cạnh tranh và
đe dọa đến vị thế siêu cường của Mỹ, đó là Trung Quốc, EU, Nhật Bản, Ấn Độ
và Nga.
Trong thập kỷ đầu của thế kỷ XXI, Trung Quốc, một nước lớn nhất thế
giới về dân số, trỗi dậy một cách “ngoạn mục” và trở thành đối trọng với giấc
mộng bá chủ toàn cầu của Mỹ. Trung Quốc đã trải qua giai đoạn “im lặng chờ
thời” chuyển sang giai đoạn phát triển mạnh mẽ, cạnh tranh với Mỹ trên phạm vi
khu vực và toàn cầu. Năm 2010, Trung Quốc đã là nước có nền kinh tế lớn thứ
hai thế giới, sau Mỹ. Cũng trong thập kỷ qua, Trung Quốc trở thành nước thứ ba
trên thế giới phóng thành công tàu vũ trụ có người lái, đưa ngành công nghiệp vũ
trụ Trung Quốc vượt lên trên Nhật Bản và Ấn Độ. Sự vươn lên của Trung Quốc
trong thập kỷ qua là một trong những kịch bản lớn nhất của thế giới. Trong
những thập kỷ tới, Trung Quốc sẽ tăng cường hơn nữa sức mạnh và tầm ảnh
hưởng.
Sau hai nhiệm kỳ cầm quyền, với tài thao lược và nhãn quan chính trị sắc
bén, Tổng thống Nga V.Putin đã củng cố hệ thống chính trị rối ren, vực dậy nền
kinh tế Nga từ tình trạng hoang tàn và đổ nát, lấy lại uy thế quân sự, đưa nước
Nga trở thành một trong 10 nước có nền kinh tế lớn nhất thế giới, biến đồng rúp
trở thành một đồng tiền có giá trị thanh toán quốc tế như đồng Đôla, đồng Ơrô
hoặc đồng Yên. Đến nay, nền kinh tế của Nga không chỉ dựa vào tiềm năng tài
nguyên thiên nhiên khổng lồ mà còn dựa vào nền kinh tế tri thức, nhờ phát triển
và có những đột phá mang tính cách mạng trong công nghệ cao. Giờ đây, Tổng

14




khai thác khoảng không vũ trụ, đưa nền kinh tế Ấn Độ phát triển với tốc độ
nhanh. Trong mười năm qua, GDP của Ấn Độ liên tục tăng trưởng trung bình
6%/năm. Với nhịp độ đó, đến năm 2025, Ấn Độ sẽ trở thành nền kinh tế đứng
thứ 3 thế giới, sau Trung Quốc và Mỹ.
Cùng với sự trỗi dậy của các cường quốc mới, thập kỷ vừa qua còn chứng
kiến phong trào chủ nghĩa xã hội thế kỷ XXI phát triển mạnh mẽ ở Mỹ La-tinh.
Như vậy, trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI, xu hướng phát triển của chủ
nghĩa xã hội vẫn tiếp diễn sau khi Liên Xô và hệ thống các nước xã hội chủ
nghĩa tan rã. Đồng thời, cuộc đại khủng hoảng tài chính - kinh tế toàn cầu bùng
phát vào cuối năm 2008 từ trong lòng một nước tư bản phát triển nhất thế giới,
đã hé mở một kỷ nguyên mới trong lịch sử phát triển của loài người, trong đó
diễn ra quá trình cạnh tranh và hợp tác giữa hai mô hình phát triển có tính chủ
đạo: mô hình chủ nghĩa tư bản thời đại toàn cầu hoá và mô hình chủ nghĩa xã
hội.
Dưới tác động của các sự kiện lớn làm rung chuyển thế giới, nhân loại
đang chuẩn bị bước sang thập niên thứ hai với niềm hy vọng được đón nhận
những thay đổi lớn nhằm hướng tới một hành tinh bình yên hơn, ổn định hơn,
nhiều hoà bình và ít chiến tranh hơn, nhưng sẽ vẫn tiềm ẩn những yếu tố bất
định, khó lường.[3]
1.2. Tình hình Trung Quốc trong thập niên đầu thế kỷ XXI
Trung Quốc nằm ở đông và bắc bán cầu, phía đông Châu Á, bờ tây Thái
Bình Dương, cách xích đạo khoảng 2000 km và cách Bắc Cực gần 4000 km, có
đường biên giới chung với Triều Tiên, Liên bang Nga, Mông Cổ, Kazakxtan,
Kyrgyzxtan, Tajikixtan, Afghanixtan, Pakixtan, Ấn Độ, Nêpan, Butan, Mianma,
Lào, Việt Nam.
Trung Quốc có diện tích 9.571.300 km2, lớn thứ ba trên thế giới sau Liên
bang Nga và Canada, chiếm 6,5% diện tích thế giới và có dân số hơn 1,3 tỷ

16



trong đó có sự đóng góp rất lớn từ môi trường chính trị ổn định và thể chế hành
chính không ngừng được đổi mới cũng như hoàn thiện.
Tuy đạt được nhiều thành tựu nhưng đó mới chỉ là bước đầu, công cuộc
cải cách hành chính của Trung Quốc vẫn tiếp tục được tiến hành. Trong quá trình
này, ở một đất nước rộng lớn và đông dân, đa dân tộc như Trung Quốc thì không
hề đơn giản. Bên cạnh đó những tác động của tư tưởng tự do tư sản, sức ép từ
các nước tư bản phương Tây muốn tư bản hóa Trung Quốc, luôn muốn can thiệp
vào công việc nội bộ của Trung Quốc thông qua những chiêu bài dân chủ, nhân
quyền…, là những trở ngại không nhỏ trong quá trình hoàn thiện thể chế chính
trị XHCN hiện nay của Trung Quốc.
Song song với đó, các vấn đề liên quan đến Đài Loan, Ma Cao hay gần
đây nhất là vấn đề Tây Tạng, Tân Cương cũng là những nguyên nhân quan trọng
làm cho tình hình chính trị - xã hội Trung Quốc thiếu ổn định.
“Vụ nổi loạn ở Lhasa ngày 14/3/2008 đã tác hại nghiêm trọng về trật tự
xã hội ở Tây Tạng, và sau đó lan sang những khu vực có người Tạng cư trú ở
các tỉnh khác.Trong khi đó các thế lực ly khai ở Tân Cương (của tổ chức
“Phong trào Hồi giáo Đông Turkestan”) cũng tiến hành các hoạt động chống
phá bằng bạo lực. Nghiêm trọng nhất là vụ tấn công đồn cảnh sát ở Kashi (Tân
Cương) tháng 4 - 2008 làm 16 lính biên phòng thiệt mạng và 16 người khác bị
thương. Những hoạt động chống phá trong nước cùng những thế lực thù địch
nước ngoài muốn làm xấu tình hình Trung Quốc trước ngày tổ chức Olympic
Bắc Kinh. Chính phủ Trung Quốc đã áp dụng những biện pháp vừa kiên quyết
vừa linh hoạt để ổn định tình hình”.[20]
Ngày 14/3/2005, kỳ họp thứ ba Quốc hội khóa X Trung Quốc, đã khẳng
định về mặt pháp lí lập trường pháp lí của Nhà nước Trung Quốc trong việc giải
quyết quan hệ giữa hai bờ eo biển Đài Loan nhằm thống nhất đất nước. Sau sự
kiện 11/9/2001, quan hệ Trung – Mỹ dịu xuống cũng có tác động làm dịu căng



19


nhiên đến năm 2007, tỷ lệ này chỉ chiếm 29,5%. Mặc dù tỷ lệ giảm nhưng kinh
tế quốc doanh vẫn là yếu tố quan trọng trong nền kinh tế Trung Quốc. Năm
2007, sản lượng thừa của Trung Quốc đạt 501,6 triệu tấn, đứng đầu thế giới về
sản lượng nông nghiệp như ngũ cốc, thịt, bông; các sản phẩm công nghiệp như
thép, than đá, xi măng, phân hóa học…
Trong 10 năm đầu của thế kỷ XXI, thông qua hai kế hoạch 5 năm lần thứ
10 (2001 - 2005), lần thứ 11 (2006 - 2010), nền kinh tế Trung Quốc đạt được
những bước tiến nhanh chóng. Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, kế hoạch 5
năm lần thứ 10 và 11 của Trung Quốc đã kết thúc với tỷ lệ tăng trưởng GDP
bình quân hằng năm là 8,8%, cao hơn so với kế hoạch đề ra là 7%, cũng cao hơn
kế hoạch 5 năm lần thứ 9. Riêng năm 2005, tăng trưởng GDP của Trung Quốc là
9,4%.
Sự phát triển của Trung Quốc không những biểu hiện ở chỉ số phát triển
kinh tế mà còn biểu hiện ở chỉ tiêu phát triển xã hội. Đời sống của nhân dân
được nâng cao rõ rệt, xây dựng cơ sở hạ tầng, giáo dục, khoa học – công nghệ
phát triển nhanh chóng. Trung Quốc là nước có 1,3 tỷ người đang trong giai
đoạn công nghiệp hóa, đô thị hóa phát triển nhanh chóng, tiềm lực thị trường
lớn. Năm 2004, mức tiêu thụ tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng xã hội Trung
Quốc là gần 2000 tỷ USD. Năm 2005, tỷ lệ tăng trưởng tiêu dùng trong nước là
13%. Thu nhập bình quân đầu người tăng cao. Quy mô thị trường trong nước rất
lớn, vì thế sử dụng biện pháp kích cầu trong nước để thúc đẩy kinh tế trong nước
tăng trưởng là phương châm chiến lược lâu dài của Trung Quốc.
“Báo cáo công tác của Chính phủ” do Thủ tướng Ôn Gia Bảo trình bày
tại kỳ họp thứ năm quốc hội khóa X, đã khái quát tình hình kinh tế - xã hội
Trung Quốc năm 2006 cho thấy GDP Trung Quốc đạt 20940 tỷ nhân dân tệ, tăng
10,7% so với năm 2005, tiếp tục đà tăng trưởng cao hai con số trong bốn năm

tế ổn định, ngăn chặn khủng hoảng. Trên thực tế chiến lược năng lượng của
Trung Quốc đã được thực hiện từ nhiều năm nay và cũng đã bộc lộ những mặt

21


mạnh, yếu của nó, đặc biệt là trong những năm đầu của thế kỷ XXI. Sự cần thiết
phải cải tổ nền năng lượng của đất nước đặt ra cho ban lãnh đạo cấp cao của
Đảng và chính quyền Nhà nước Trung Quốc phải tìm ra được những định hướng
mới cho việc thực hiện chiến lược này.
Tại Hội nghị lần thứ nhất Ban chỉ đạo công tác năng lượng diễn ra ngày
2/6/2005, Thủ tướng Ôn Gia Bảo đồng thời là trưởng ban đã nêu bật mục đích và
nhiệm vụ cơ bản của ban chiến lược năng lượng Trung Quốc trong thời gian tới.
Đó là chỉ đạo mang tính tổng hợp ở tầm chiến lược về hoạch định chính sách lớn
đối với vấn đề năng lượng và tiết kiệm năng lượng, an ninh năng lượng, hợp tác
đối ngoại về năng lượng. Hội nghị nhất trí thông qua những định hướng quan
trọng về công tác năng lượng trong thời gian sắp tới.
Dầu lửa là nhiên liệu chiến lược cho sự phát triển kinh tế. Có hai nguyên
nhân lớn khiến cho dầu lửa ngày càng trở nên quan trọng và là nhiên liệu chiến
lược đối với sự phát triển kinh tế của Trung Quốc. Trước hết, mặc dù than đá vẫn
là nguyền nhiên liệu cơ bản của Trung Quốc, nhưng việc sử dụng nguồn nhiên
liệu này có nhiều hạn chế như ô nhiễm môi trường, nguồn dự trữ có hạn, khai
thác ngày càng khó khăn và sản lượng giảm sút. Hai là, rất nhiều ngành công
nghiệp không sử dụng than đá mà chỉ có thể sử dụng dầu lửa, đó lại là những
ngành kinh tế mũi nhọn của Trung Quốc như hàng không, quốc phòng, giao
thông vận tải, hóa dầu… Trước đây, Trung Quốc từng là nước xuất khẩu dầu lửa,
nhưng từ 2002 Trung Quốc trở thành nước nhập khẩu dầu lửa lớn thứ hai thế
giới sau Mỹ. Năm 2002, Trung Quốc nhập khẩu 71,8 triệu tấn dầu chiếm 30%
tổng lượng tiêu dùng và xu thế ngày càng gia tăng. Đến năm 2010, Trung Quốc
đã phải nhập khẩu tới 50% sản lượng dầu tiêu thụ trong nước.

Chiến tranh lạnh” đặc biệt là những năm đầu của thế kỷ XXI.
1.3. Tình hình khu vực Nam Á trong thập niên đầu thế kỷ XXI
Hiện nay không có sự xác định thống nhất về các nước thuộc khu vực
Nam Á. Trong luận văn này theo đa số ý kiến của các nhà nghiên cứu, chúng tôi

23


xác định khu vực Nam Á bao gồm 7 quốc gia: Ấn Độ, Bănglađét, Butan,
Pakixtan, Manđivơ, Nêpan và Xri Lanca.
Điều kiện địa lý, tự nhiên
Khu vực Nam Á nằm ở phía Nam lục địa châu Á, được bao bọc ở phía
Bắc bởi dãy Hymalaya, phía Nam bởi Ấn Độ Dương, phía Tây giáp các nước
Tây và Trung Á, phía Đông giáp với các nước Đông Nam Á.
Khu vực này còn được gọi là “bán đảo Nam Á” và “tiểu lục địa”. Với
diện tích khoảng 4 triệu km2, chỉ chiếm khoảng 10% diện tích Châu Á, tiểu lục
địa này nhỏ nhưng có điều kiện tự nhiên phong phú, đa dạng.
Nam Á có ba miền địa hình khác nhau. Phía bắc là hệ thống núi Hymalaya
hùng vĩ dài gần 2.600 km, bề rộng trung bình từ 320 - 400 km. Phía Nam là sơn
nguyên Đêcan tương đối thấp và bằng phẳng. Nằm giữa chân núi Hymalaya và
sơn nguyên Đêcan là đồng bằng Ấn - Hằng rộng và bằng phẳng, chạy từ bờ biển
Arập đến bờ vịnh Bengan dài hơn 3.000 km, bề rộng từ 250 - 350 km.
Vùng duyên hải phía đông nam Ấn Độ có một hòn đảo lớn, ngày nay là
nước Xri Lanca. Manđivơ, quốc gia của những hòn đảo, nằm trải dài hàng trăm
dặm về phía nam lục địa Ấn Độ.
Đại bộ phận Nam Á nằm trong đới khí hậu nhiệt đới gió mùa. Trên các
vùng đồng bằng và sơn nguyên thấp, về mùa đông có gió mùa đông bắc với thời
tiết lạnh và khô, mùa hạ có gió mùa tây nam nóng và ẩm từ Ấn Độ Dương đến
mang theo mưa cho khu vực Nam Á. Nhịp điệu hoạt động gió mùa có ảnh hưởng
lớn đến nhịp điệu sản xuất và sinh hoạt của nhân dân. Trên các vùng núi cao,

Pakixtan lên cao trong những năm 50, 60 của thế kỷ XX và với sự giúp đỡ của
Ấn Độ, nước Bănglađét được thành lập năm 1971.
Các quốc gia khác ở khu vực Nam Á cũng đều có lịch sử lâu đời và bị các
nước thực dân Anh đô hộ trong thời gian dài. Đến nay tất cả các nước này đều đã
giành được độc lập: Butan và Nêpan năm 1947, Xri Lanca 1948 và Manđivơ
năm 1965.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status