Luận văn thạc sỹ lịch sử: Chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong những năm 1990 đến 2007 - Pdf 26

đại học quốc gia hà nội
trờng đại học khoa học xã hội và nhân văn
&
nguyễn hồng nhung
chính sách tôn giáo
của đảng và nhà nớc việt nam
trong những năm 1990 - 2007
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 56
luận văn thạc sĩ lịch sử

Ngời hớng dẫn khoa học:
gs.ts. đỗ quang hng
Hà Nội - 2010
MC LC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tôn giáo là một hiện tượng thuộc hình thái ý thức, tư tưởng đồng thời
là một thực tại xã hội. Tôn giáo xuất hiện sớm trong xã hội loài người, đã ăn
sâu vào đời sống của nhiều dân tộc và còn tồn tại lâu dài với loài người, khi
con người còn có nhu cầu tâm lý được an ủi trong hư ảo, còn có những ước
mơ về một cuộc sống thần tiên ở thế giới bên kia.
Do có một vị trí địa lý đặc biệt, nằm ở giữa ngã ba đường của Đông
Nam Á và trông ra biển Đông, là cầu nối từ Ấn Độ Dương qua Thái Bình
Dương, từ Tây sang Đông, Việt Nam sớm trở thành nơi giao lưu của các nền
văn hoá, là một quốc gia đa tôn giáo, tín ngưỡng. Người dân Việt Nam có
truyền thống sinh hoạt, hoạt động tín ngưỡng từ lâu đời. Mỗi dân tộc trong
cộng đồng các dân tộc Việt Nam đều có những tín ngưỡng riêng gắn liền với
đời sống kinh tế và tâm linh của mình. Đặc điểm này góp phần làm phong
phú, đặc sắc cho nền văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên, đây cũng là vấn đề nhạy
cảm, trong lịch sử đã từng bị các thế lực phản động lợi dụng để chống phá

thu hút được nhiều sự quan tâm nghiên cứu, đã trở thành đề tài của một số
công trình nghiên cứu khoa học, sách báo Những công trình nghiên cứu đó
đều rất đáng trân trọng, các tác giả đã ít nhiều đề cập đến chính sách tôn giáo
của Đảng và Nhà nước ta qua các giai đoạn, qua đó thấy được chính sách tôn
giáo ngày càng cởi mở, thông thoáng hơn. Tuy nhiên, với mong muốn hệ
thống lại một cách đầy đủ, toàn diện, sâu sắc đường lối, chính sách tôn giáo
của Đảng trong một giai đoạn cực kỳ quan trọng đánh dấu bước ngoặt to lớn
2
trong quá trình đổi mới đường lối, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước
ta là giai đoạn 1990 - 2007, chúng tôi chọn đề tài Chính sách tôn giáo của
Đảng và Nhà nước Việt Nam trong những năm 1990 - 2007 làm đề tài
nghiên cứu của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Không chỉ là nhu cầu của một bộ phận nhân dân, tôn giáo còn là thực
tại xã hội đặc biệt luôn gắn với đời sống văn hoá, chính trị, xã hội của quốc
gia nên tôn giáo đã sớm trở thành đề tài thu hút nhiều sự quan tâm của các
nhà khoa học, đặc biệt trong những năm gần đây, chẳng hạn công trình Tìm
hiểu chính sách của Đảng và Nhà nước đối với đạo Thiên chúa của Nguyễn
Văn Đông (NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1988) giúp chúng ta hiểu rõ về thế
nào là tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng, quyền lợi và nghĩa vụ của
người có đạo, các hoạt động tôn giáo tiến hành trong khuôn khổ pháp luật
Nhà nước và Nhà nước nghiêm cấm lợi dụng tôn giáo chống lại Tổ quốc,
chống lại nhân dân. Trong Phần V cuốn Tôn giáo thế giới và Việt Nam, (NXB
Công an nhân dân, 1998), Mai Thanh Hải đã bàn về tình hình và chính sách
tôn giáo của một số nước như Mỹ, Pháp, Trung Quốc, Thái Lan, Philippin,
Hàn Quốc và Việt Nam. Công trình Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo
ở Việt Nam của Đặng Nghiêm Vạn, (NXB Chính trị Quốc gia, 2001), cũng
dành hẳn Phần VI để bàn về “Chính sách tôn giáo”.
Với công trình Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn
giáo, (NXB Tôn giáo, 2003), các tác giả Lê Hữu Nghĩa và Nguyễn Đức Lữ đã

1990 đến nay của Đỗ Thị Kim Định, Trường Đại học Khoa học xã hội và
Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội (2007).
4
Trong những công trình nghiên cứu trên, các tác giả đã có những đóng
góp rất quan trọng, từng bước đề cập đến chính sách tôn giáo của Đảng và
Nhà nước ta qua các giai đoạn, qua đó thấy được chính sách tôn giáo ngày
càng cởi mở, thông thoáng hơn. Tuy nhiên, với luận văn này, lần đầu tiên
chúng tôi hệ thống lại một cách đầy đủ, toàn diện, sâu sắc đường lối, chính
sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta trong một giai đoạn quan trọng đánh
dấu bước ngoặt to lớn trong quá trình đổi mới chính sách tôn giáo ở nước ta là
giai đoạn 1990 - 2007.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn xác định nghiên cứu quá trình đổi mới về đường lối, chính
sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn 1990 – 2007 là mục
tiêu chủ yếu. Đồng thời luận văn cũng làm rõ vai trò, ý nghĩa của sự đổi mới
này trong việc tiếp tục quá trình đổi mới về đuờng lối, chính sách tôn giáo
hiện nay của Đảng và Nhà nước ta.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Dựng lại tình hình đời sống tôn giáo ở nước ta giai đoạn 1975 – 1990 và
phân tích những đặc điểm nhận thức về tôn giáo và vấn đề tôn giáo trước đổi mới.
- Làm rõ quá trình đổi mới về nhận thức, đường lối và chính sách tôn
giáo của Đảng và Nhà nước ta giai đoạn 1990 - 2007.
- Đánh giá quá trình đổi mới về chính sách tôn giáo, tác động, ý nghĩa
và những vấn đề đặt ra.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Sự chuyển biến nhận thức về tôn giáo, ảnh hưởng của nó đến sự đổi
mới đường lối, chính sách tôn giáo của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt
Nam trong giai đoạn từ 1975 đến 2007.

hình mới, Nghị quyết 25-NQ/TW, ngày 12/3/2003, Hội nghị lần thứ bảy ban
chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về công tác tôn giáo, Pháp lệnh tín
ngưỡng, tôn giáo (năm 2004), Nghị định số 22/2005/NĐ-CP, ngày 1/3/2005
hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, Chỉ thị
số 01/2005/CT-TTg, ngày 4/2/2005 Về một số công tác đối với đạo Tin
Lành Luận văn còn sử dụng nguồn thông tin từ cuốn Các văn bản nhà nước
về hoạt động tôn giáo (Quyển 1 - 1992, Quyển 2 - 1995: Lưu hành nội bộ),
Các văn bản pháp luật quan hệ đến tín ngưỡng, tôn giáo của Ban Tôn giáo
Chính phủ (NXB Tôn giáo, 2000) và những công trình có liên quan bao gồm
các sách chuyên khảo, lý luận, luận văn hay báo chí, tập kỷ yếu khoa học, các
luận văn, luận án
7. Đóng góp của luận văn
Hiện nay vấn đề này vẫn là mới đối với ngành Lịch sử Đảng Cộng sản
Việt Nam cũng như đối với ngành Quản lý nhà nước về tôn giáo. Đây là luận
văn đầu tiên hệ thống lại đầy đủ những thành tựu của chính sách tôn giáo giai
đoạn 1990 - 2007, làm rõ vai trò, ý nghĩa của sự đổi mới chính sách tôn giáo
giai đoạn này. Từ đó, thấy được những vấn đề cần tiếp tục giải quyết. Vì vậy
kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong nghiên
cứu chính sách tôn giáo của Đảng và nhà nước ta.
8. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của
luận văn gồm hai chương:
- Bước đầu thực hiện đổi mới đường lối, chính sách về tôn giáo ở nước
ta giai đoạn 1990 – 2003.
- Đảng và Nhà nước ta tiếp tục đổi mới đường lối, chính sách tôn giáo
trong giai đoạn 2004 - 2007
7
CHƯƠNG 1
BƯỚC ĐẦU THỰC HIỆN ĐỔI MỚI ĐƯỜNG LỐI, CHÍNH SÁCH
VỀ TÔN GIÁO Ở NƯỚC TA GIAI ĐOẠN 1990 - 2003

Thống nhất là sự kiện hết sức quan trọng trong lịch sử Phật giáo Việt
Nam, không chỉ đáp ứng nguyện vọng tha thiết của tăng ni, phật tử trong cả
nước mà còn tạo điều kiện cho giới Phật giáo Việt Nam tiếp tục phát huy
truyền thống gắn bó với dân tộc để hộ trì, hoằng dương Phật pháp, phục vụ Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, góp phần đem lại hoà bình, an lạc cho thế
giới. Báo cáo của Đại hội thống nhất Phật giáo Việt Nam đã khẳng định ý
nghĩa to lớn này: “Đây là lần đầu tiên sau một trăm năm bị nô lệ hoá bởi
phong kiến thực dân và đế quốc, Phật giáo Việt Nam chúng ta nay được nêu
cao ngọn cờ độc lập và tự do trong cộng đồng xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
một thời vàng son cho đạo Phật Việt Nam mà chúng ta chỉ tìm thấy trong thời
đại nhà Trần với Trúc Lâm Tam Tổ. Nay thời đại vàng son đó đã đến và đang
nằm trong tay chư vị đại biểu của chín tổ chức hệ phái Phật giáo Việt Nam.
Từ nay chúng ta không còn phân biệt Phật tử miền Nam, Phật tử miền Trung,
Phật tử miền Bắc. Chúng ta chỉ gọi bằng một danh từ quý báu nhất, thiêng
liêng nhất: chúng ta là Phật tử Việt Nam” [dẫn theo 21, tr. 135].Tuy nhiên, dù
phương châm “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa Xã hội” vẫn giữ vị trí chủ
đạo trong Giáo hội Phật giáo giai đoạn này nhưng những hoạt động chống đối
Nhà nước của lực lượng cánh hữu trong và ngoài nước vẫn ngày càng tăng.
Bên trong các tổ chức cũ còn đọng lại một số người hậm hực vì đường hướng
hoạt động nói trên của Giáo hội, đã tìm cách nói xấu Giáo hội, gây rối trật tự,
9
nhưng không gây được ảnh hưởng gì đáng kể. Một bộ phận tăng ni bỏ ra nước
ngoài trước và sau năm 1975, nhen nhóm thành một tổ chức “hải ngoại”, bên
cạnh cộng đồng người Việt ở nước ngoài, chủ yếu là hoạt động quyên cúng,
đóng góp xây chùa và lẻ tẻ có người lên tiếng đòi “nhân quyền” cho người
trong nước.
Bên cạnh Phật giáo, tình hình Công giáo sau 1975 cũng có nhiều biến
động. Năm 1980, Hội đồng Giám mục Việt Nam được thành lập, gồm tất cả
các giám mục tại các giáo phận Công giáo ở Việt Nam. Hội đồng Giám mục
có nhiệm vụ: cổ vũ tính liên đới để phát huy các thiện tích mà Giáo hội dâng

nhiều nơi như liệt hẳn, như chưa từng tồn tại. Mấy năm cuối thập kỷ 80,
người ta lại thấy một số giáo sĩ Tin Lành quay trở về phục hồi lễ bái cầu
nguyện, thu nạp thêm hội viên mới, xây dựng thêm nhiều cơ sở mới ở các
vùng sâu, vùng xa.
Đến đầu năm 1975, đạo Cao Đài vẫn trong tình trạng chia rẽ về tổ chức
và phân hoá về chính trị. Số người đứng đầu các hệ phái nặng về cơ hội chủ
nghĩa và vọng ngoại, chí ít cũng hoang mang, dao động. Trong khi đó, đại đa
số tín đồ và các chức sắc hệ phái Minh Chơn lý, Tiên Thiên, Chiếu Minh,
Bạch Y có nhiều đóng góp với dân tộc trong công cuộc kháng chiến chống
Mỹ cứu nước. Đầu năm 1975, Cao Đài vẫn chia ra hơn 20 hệ phái với tổng số
tín đồ tự khai là 2.400.000 người, chủ yếu ở Tây Ninh và các tỉnh Đông Nam
Bộ, lẻ tẻ một ít ở Sóc Trăng, Cà Mau, Rạch Giá nhưng sinh hoạt đạo rời rạc.
Sau ngày giải phóng, một số phần tử phản động cực đoan vẫn lao đầu vào tổ
chức, nhen nhóm các hoạt động quấy rối, xúi giục phá hoại khối đoàn kết dân
tộc. Đầu thập kỷ 80, nhiều hệ phái Cao Đài được chấn chỉnh, các tổ chức
chính trị, vũ trang phản động của Cao Đài chính thức giải thể và sinh hoạt tôn
giáo được khôi phục, ổn định về chính trị - xã hội.
11
Về phía Phật giáo Hoà Hảo, đầu năm 1975, do mâu thuẫn quyền lợi, có
tới bốn Ban Trị sự trung ương tranh chấp nhau ảnh hưởng trước quần chúng
và Mỹ - ngụy với khẩu hiệu “chống Cộng, cứu nước, giữ Đạo, thờ Thầy”.
Đầu tháng 5 năm 1975, đại bộ phận tan rã, trốn ra nước ngoài, một số còn lại
“tử thủ” cho đến ngày 5 tháng 5 mới đầu hàng hoặc bị bắt. Do những hoạt
động dính líu đến chính trị, nhất là những hoạt động chống phá chính quyền
cách mạng nên ngày 19 tháng 6 năm 1975, bà Huỳnh Thị Kim Biên (em gái
giáo chủ Huỳnh Phú Sổ) ra thông báo giải tán các Ban Trị sự các cấp của Phật
giáo Hoà Hảo. Đạo Hoà Hảo trở lại là một tôn giáo khuyến thiện, chăm lo
đoàn kết và an ninh nông thôn miền Tây Nam Bộ.
Như vậy, tình hình tôn giáo nước ta sau năm 1975 có nhiều thuận lợi
nhưng cũng không ít khó khăn. Đó là có một bộ phận bỏ ra nước ngoài hoặc ở

bị dứt bỏ và vấn đề xoá bỏ nhanh chóng hơn những tàn tích tôn giáo khỏi ý
thức quần chúng được đặt ra trong chương trình nghị sự. Cương lĩnh Đại hội
lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Nga (3/1919) xác định: “Đảng mong muốn
xoá bỏ hoàn toàn mối dây liên hệ với giai cấp bóc lột và tổ chức tuyên truyền
tôn giáo để tác động đến sự giải phóng thực sự quần chúng lao động khỏi
thành kiến tôn giáo và tổ chức công tác tuyên truyền khoa học bài trừ tôn giáo
và chống mê tín rộng rãi nhất. Đồng thời cần phải tránh bất cứ sự xúc phạm
nào đến tình cảm tôn giáo của người theo đạo ”; “Đảng yêu cầu toàn thể
đảng viên chấm dứt quan hệ với các tổ chức tôn giáo. Những người có tín
ngưỡng tham gia Đảng Cộng sản chỉ là một ngoại lệ ”. Điều này có nghĩa là
mỗi Đảng viên phải tích cực tham gia tuyên tuyền vô thần, những người cộng
sản phải là những người vô thần thực sự. [Dẫn theo 22, tr. 39 – 40]. Cuốn
13
sách này ra đời cuối những năm 1960 và quan điểm tổng quát này chi phối
cho đến khi Liên bang Xôviết sụp đổ. Sau khi Lênin mất, việc tuyên truyền
chủ nghĩa vô thần đã đi liền với “quyền tự do tuyên truyền chống tôn giáo”,
đó là khuyết điểm tả khuynh rất rõ nét trong chính sách tôn giáo của Đảng và
Nhà nước Xôviết từ cuối những năm 1930. Ở Liên Xô, trong những năm
1950, 1960 đến 1970 còn xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu trên lĩnh vực
triết học tư tưởng và nhiều lĩnh vực khác đề cập đến “tàn tích tôn giáo” và
được coi là một mặt của công tác tuyên truyền vô thần. Trong luật pháp tôn
giáo, nếu Hiến pháp năm 1918 khẳng định quyền tự do tuyên truyền vô thần
thì Hiến pháp năm 1936 còn khẳng định thêm quyền tự do tuyên truyền chống
tôn giáo. Hiến pháp năm 1977 mềm dẻo hơn nhưng vẫn khẳng định sự ủng hộ
của Nhà nước với quyền tự do tuyên truyền chủ nghĩa vô thần. Vì Liên Xô
được coi là thành trì của cách mạng thế giới và là mô hình xã hội có tính
khuôn mẫu nên trường phái Vô thần luận Xôviết lúc này có ảnh hưởng lớn
đến nhận thức cũng như chính sách tôn giáo của các nước xã hội chủ nghĩa,
trong đó có nước ta.
Ở Trung Quốc, từ năm 1960 đến năm 1982 là giai đoạn “tả khuynh”,

Cách nhìn và cách giải quyết vấn đề tôn giáo của các Đảng Cộng sản
và giới nghiên cứu ở một số nước nói trên đã có ảnh hưởng sâu sắc đến nhận
thức cũng như chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta giai đoạn trước
năm 1990. Sự tác động này kết hợp phản ứng tiêu cực của một bộ phận tín
đồ tôn giáo đã dẫn đến nhận thức lệch lạc về tôn giáo, tâm lý muốn xoá bỏ
nhanh các tôn giáo và chính sách tôn giáo có phần chặt chẽ. Đó cũng là lý do
giải thích tại sao khuynh hướng tả khuynh đã tồn tại ở nước ta trong một
thời gian dài.
15
1.1.3. Nhận thức và chính sách của Đảng và Nhà nước ta về tôn giáo
từ sau năm 1975 đến trước năm 1990
Sau khi đất nước thống nhất, những tư tưởng của Hồ Chí Minh về tôn
giáo có điều kiện được phát huy. Nhiều nhà lãnh đạo Việt Nam có quan niệm,
suy nghĩ đúng đắn, sâu sắc về vấn đề tôn giáo. Trong đại hội Đảng bộ Thành
phố Hồ Chí Minh tháng 10/1986, đồng chí Nguyễn Văn Linh cho rằng: “Đối
với hàng ngũ linh mục, nên tích cực gần gũi giúp đỡ người tốt để họ làm tròn
trách nhiệm đối với đạo, đối với đời, vì Chúa và vì Tổ quốc” [18, tr.44]. Ngày
28/1/1983, đồng chí Mai Chí Thọ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Thành phố Hồ
Chí Minh nhận xét về cơ sở đoàn kết dân tộc và tôn giáo như sau: “Về
phương diện lý thuyết, giữa giáo lý Công giáo và chủ nghĩa cộng sản, chúng
tôi thấy có nhiều điểm rất thống nhất vì Thiên chúa giáo cũng muốn cứu con
người, xuất phát từ việc giải phóng con người khỏi mọi đau khổ và chủ nghĩa
cộng sản cũng xuất phát từ một yêu cầu giải phóng nhân loại khỏi ách áp bức
bóc lột”. Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) còn ghi rõ:
“Đảng và Nhà nước ta trước sau như một thực hành chính sách tôn trọng tự
do tín ngưỡng. Lãnh đạo và giúp đỡ đồng bào theo tôn giáo đoàn kết xây
dựng cuộc sống mới và hăng hái tham gia bảo vệ Tổ quốc. Cảnh giác, kiên
quyết và kịp thời chống lại âm mưu và thủ đoạn của bọn đế quốc và phản
động chia rẽ đồng bào có đạo với đồng bào không có đạo, giữa đồng bào theo
đạo này với đồng bào theo đạo khác” [18, tr.44 – 45].

phân cấp cụ thể hơn. “Những nơi thờ cúng đã bỏ không từ lâu, không có
người tu hành hoặc người chuyên trách, không có nhân dân đến lễ bái thì Uỷ
17
ban nhân dân cấp cơ sở có trách nhiệm quản lý, khi cần thiết có thể mượn làm
trường học, nơi hội họp nhưng phải giữ gìn chu đáo không được dùng vào
những việc xúc phạm đến tình cảm và tín ngưỡng của nhân dân; những nơi
thờ cúng quá hư hỏng chính quyền muốn dỡ đi thì phải được nhân dân đồng
tình và Uỷ ban nhân dân cấp trên đồng ý.” [64, tr.2]
- Quy định về việc đào tạo, bổ nhiệm, thuyên chuyển những người
chuyên hoạt động tôn giáo:
Văn bản này quy định thêm việc mở trường đào tạo những người hoạt
động tôn giáo chuyên nghiệp, khi muốn mở trường phải xin phép Uỷ ban
nhân dân tỉnh hoặc cấp tương đương và nội dung giảng dạy về tôn giáo không
được trái pháp luật, chủ trương, chính sách của nhà nước.
Ngoài ra, Nghị quyết còn quy định về việc nhập các tài liệu tôn giáo từ
nước ngoài, quy định về trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân các cấp trong việc
quản lý nhà nước đối với hoạt động của các tôn giáo và trách nhiệm của Ban
Tôn giáo Phủ Thủ tướng trong việc hướng dẫn các tôn giáo cũng như đôn đốc
việc thực hiện của các cấp chính quyền.
Hiến pháp năm 1980 kế thừa và phát triển Hiến pháp năm 1946 và
Hiến pháp năm 1959, đã ghi nhận về quyền công dân trong 17 điều của
Chương V: Quyền và nghĩa vụ của công dân. Trong đó, quyền tự do tín
ngưỡng được quy định ở Điều 68 là: “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng,
theo hoặc không theo một tôn giáo nào. ( ) Không ai được lợi dụng tôn giáo
để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”.
Ngoài Nghị quyết 297/CP và Hiến pháp năm 1980, Chính phủ còn ban
hành một số văn bản pháp luật về lĩnh vực tôn giáo như: Quy định về việc
xuất và nhập văn hoá phẩm không thuộc phạm vi kinh doanh do Bộ Văn hoá
ban hành kèm theo Quyết định số 41/VH-QĐ (5/3/1950); Bộ luật Hình sự
18

chúng, vì còn có nhiều người tin theo, và đối với những người đó, đạo, tôn
giáo là một “tình cảm thiêng liêng”, thậm chí là một “lý tưởng”, mặc dù đó là
tình cảm không đúng và lý tưởng mù quáng. Cho nên Mác đã nói: “Tôn giáo
là thuốc phiện của nhân dân”. [dẫn theo 22, tr.315]
- Về việc “khắc phục mê tín, tôn giáo” (thậm chí ghép khái niệm mê tín
với tôn giáo): “Đảng của giai cấp công nhân có trách nhiệm giải phóng quần
chúng lao động khỏi mọi áp bức xã hội và tinh thần trong đó có việc giải
phóng khỏi áp bức của tôn giáo. Việc giúp quần chúng khắc phục mê tín tôn
giáo, không phải chỉ bằng đấu tranh tư tưởng, tuyên truyền về lý luận, càng
không thể bằng những biện pháp hành chính. ( ) Đẩy mạnh, tranh thủ, cải tạo
giáo sĩ, cải tạo các giáo hội theo hướng phục tùng nhà nước, đi với dân tộc và
chủ nghĩa xã hội, đồng thời tích cực tuyên truyền, giáo dục quần chúng, nhất
là lớp trẻ về nhân sinh quan và thế giới quan cách mạng, khoa học, giúp cho
quần chúng dần dần thoát khỏi mê tín tôn giáo”[dẫn theo 22, tr.315]
Từ những nhận thức trên, việc phát triển Đảng được quy định là phải
hết sức chặt chẽ, phải là người “dứt khoát không tín ngưỡng tôn giáo”. Ngoài
ra, chỉ thị còn xác định việc “xoá bỏ Hội đoàn”, hạn chế các Dòng tu của
Công giáo, “Đối với các dòng tu của đạo Thiên chúa, cần thu hẹp dần”, “các
tôn giáo không được tổ chức hội đoàn và các hình thức văn hoá, văn nghệ để
tuyên truyền tôn giáo, tập hợp quần chúng, nhất là thanh niên, thiếu niên, nhi
đồng (trừ trường hợp hát kinh, hát lễ trong nghi lễ tôn giáo)” [dẫn theo 22,
tr.315].
-Về công tác đối với các tôn giáo, Nghị quyết này xác định: Trong công
tác, có hai mặt đấu tranh: đấu tranh chính trị và đấu tranh tư tưởng, trong đó
cuộc đấu tranh về tư tưởng để giải phóng quần chúng khỏi mê tín tôn giáo
20
cũng rất quan trọng, phải tiến hành tích cực, phải tích cực giáo dục quần
chúng nhất là lớp trẻ về nhân sinh quan và thế giới quan cách mạng, khoa học
để giúp quần chúng dần dần thoát khỏi mê tín tôn giáo.
Có thể thấy Nghị quyết 40 đã có những tổng kết hết sức sâu sắc về tình

quốc tế, cùng với tình hình hết sức phức tạp sau chiến tranh làm cho những
người cộng sản nước ta có những biểu hiện vội vàng, phiến diện trong nhận
thức, chủ yếu nhìn tôn giáo ở góc độ tiêu cực như buôn thần, bán thánh, mê
muội, lạc hậu đặc biệt là công cụ của thế lực phản động, nhất là trong điều
kiện lịch sử giai đoạn trước đó, không ít tín đồ tôn giáo đã bị thế lực phản
động lợi dụng trở thành công cụ đắc lực trong chống lại chính quyền cách
mạng. Cho nên khó tránh khỏi việc đồng nhất tôn giáo với chính trị. Từ nhận
thức này mà dẫn đến nhiều khuyết điểm trong công tác tôn giáo. Nghị quyết
40 chính là đỉnh cao của giai đoạn Việt Nam chịu ảnh hưởng của khuynh
hướng tả khuynh.
Mặc dù còn những biểu hiện của khuynh hướng tả khuynh nhưng chính
sách xuyên suốt vẫn là tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt
đất nước thống nhất đã tạo cho những người cộng sản cũng như những nhà
nghiên cứu có điều kiện nhìn nhận, đánh giá lại về tôn giáo, những tư tưởng
quý giá của Chủ tịch Hồ Chí Minh có điều kiện được phát huy, chính những
đánh giá quan trọng của giai đoạn này đã tạo cơ sở cho quá trình đổi mới tư
duy, đường lối, chính sách tôn giáo từ những năm 1990 đến nay. Từ sau năm
1975 đến trước năm 1990 cũng là giai đoạn mà Nhà nước ta có nhiều cố gắng
trong việc thể chế hóa pháp luật về tôn giáo, tín ngưỡng, đáp ứng kịp thời với
những biến đổi lớn của xã hội.
22
1.2. Bước đầu thực hiện quá trình đổi mới đường lối, chính sách
tôn giáo ở nước ta giai đoạn 1990 - 2003
1.2.1. Những chuyển biến trong tình hình tôn giáo và chính sách tôn
giáo của một số nước trên thế giới
Từ thập niên 70 của thế kỷ XX trở lại đây, đời sống tôn giáo thế giới có
những biểu hiện phục hồi trở lại ở nhiều quốc gia, khu vực. Tác giả công trình
Các xu hướng lớn năm 2000 cũng khẳng định: “Vào buổi bình minh của thiên
niên kỷ thứ III có dấu hiệu không nhầm lẫn về sự hồi sinh của nhiều giáo phái
trên khắp thế giới” [23, tr.242]. Tác giả công trình Sự đảo lộn của thế giới địa

Shapirô nhận thấy: “Từ năm 1991 đến nay, xu hướng của luật pháp tôn giáo ở
các nước thuộc Liên bang Nga là hướng đến sự thay đổi cách nhìn truyền
thống của chế độ Xôviết, cố gắng tiếp cận gần hơn với các Công ước quốc tế
về tôn giáo, trong đó có vấn đề quan hệ giữa nhà nước và giáo hội” [dẫn theo
22, tr.49]. Trong những năm gần đây, ở các nước thuộc Liên Xô cũ, tôn giáo
có chiều hướng gia tăng với các mức độ khác nhau.
Ở Trung Quốc gần đây, tất cả các tôn giáo đều bình đẳng và hài hòa,
không có chiến tranh tôn giáo xảy ra. Giữa công dân theo tôn giáo và không
theo tôn giáo có sự đoàn kết và tôn trọng lẫn nhau. Có được điều này là do
các ảnh hưởng về tinh thần như tính khoan dung và tương thích trong tư
tưởng văn hoá truyền thống của Trung Quốc đã được hình thành từ lâu đời,
quan trọng hơn là bởi chính sách tự do tôn giáo, tín ngưỡng của chính phủ
Trung Quốc đã được quy định và thực thi từ sau khi nước Cộng hoà nhân dân
Trung Hoa mới thành lập. [73]. Trong Điều 36, Chương II: Quyền và nghĩa
24

Trích đoạn Đường lối, chớnh sỏch tụn giỏo của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn 2004 Đỏnh giỏ quỏ trỡnh đổi mới đường lối, chớnh sỏch tụn giỏo của Đảng và Nhà nước ta Những vấn đề đặt ra.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status