1
MỤC LỤC
Trang bìa phụ
Lời cam đoan
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục bảng biểu dùng trong luận án
Danh mục biểu đồ dùng trong luận án
DẪN LUẬN
1. Lý do chọn đề tài 5
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 18
4. Nguồn tư liệu 19
5. Phương pháp nghiên cứu 20
6. Bố cục của luận án 21
7. Đóng góp khoa học của luận án 22
CHƯƠNG I
: AN NINH NĂNG LƯỢNG THẾ GIỚI NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ
KỈ XXI
1.1 KHÁI NIỆM NĂNG LƯỢNG VÀ AN NINH NĂNG LƯỢNG
1.1.1 Khái niệm năng lượng 24
1.1.2 Khái niệm an ninh năng lượng 26
1.2 BỐI CẢNH QUỐC TẾ VÀ KHU VỰC
1.2.1 Bối cảnh quốc tế 33
1.2.2 Bối cảnh khu vực 38
2
1.3 TÌNH HÌNH NĂNG LƯỢNG VÀ NHỮNG BIẾN ĐỘNG CỦA AN NINH
2.3 “ĐI RA NGOÀI – 走出去” – CHÍNH SÁCH CƠ BẢN ĐẢM BẢO AN
NINH NĂNG LƯỢNG CỦA TRUNG QUỐC TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU
THẾ KỈ XXI
2.3.1 Bối cảnh 99
2.3.2 Đặc trưng của chính sách “Đi ra ngoài – 走出去” tìm kiếm năng lượng của
Trung Quốc 100
2.3.3 Dự báo những thuận lợi và khó khăn trong quá trình triển khai chiến lược “đi
ra ngoài – 走出去” tìm kiếm năng lượng của Trung Quốc 101
Tiểu kết 105
CHƯƠ
NG III: NGOẠI GIAO NĂNG LƯỢNG CỦA TRUNG QUỐC TRONG
NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỈ XXI
3.1 QUÁ TRÌNH TRIỂN KHAI CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO NĂNG
LƯỢNG CỦA TRUNG QUỐC TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỈ XXI
3.1.1 Hoạt động ngoại giao năng lượng của Trung Quốc ở khu vực Trung Đông 107
3.1.2 Hoạt động ngoại giao năng lượng của Trung Quốc ở khu vực Châu Phi 117
3.1.3 Hoạt động ngoại giao năng lượng của Trung Quốc
ở khu vực Mỹ La tinh 127
3.1.4 Hoạt động ngoại giao năng lượng của Trung Quốc tại khu vực Nga -Trung
Á 135
3.1.5 Hoạt động ngoại giao năng lượng của Trung Quốc tại khu vực Đông Nam
Á 142
3.2 TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO NĂNG LƯỢNG TRUNG
QUỐC ĐẾN KINH TẾ - CHÍNH TRỊ THẾ GIỚI NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ
KỈ XXI
3.2.1 Đối với kinh tế Trung Quốc 147
3.2.2 Đối với kinh tế thế gi
ới 150
như một hiện tượng điển hình. Sau hơn 30 năm tiế
n hành cải cách mở cửa, Trung
Quốc đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực, trong đó nổi bật là
lĩnh vực kinh tế. Tốc độ phát triển kinh tế của quốc gia này luôn dẫn đầu thế giới.
Để duy trì được tốc độ phát triển kinh tế bền vững, nhất là trong giai đoạn công
nghiệp hóa – hiện đại hóa, Trung Quốc cần có các nguồn năng lượng dồi dào,
phong phú và ổn định. Với dân số hơn 1,3 tỷ người và tốc độ phát triển kinh tế cao,
nhu cầu về năng lượng- đặc biệt là dầu lửa càng ngày càng gia tăng. Bài toán năng
lượng cho nhu cầu phát triển kinh tế và tiêu dùng xã hội đang được đặt ra cho các
nhà hoạch định chính sách của quốc gia đông dân nhất hành tinh.
Để đảm bảo nguồn cung ứng năng lượng ổn định, đầy đủ với giá c
ả hợp lý,
chính phủ Trung Quốc đã đề ra chiến lược năng lượng quốc gia và chính sách an
ninh năng lượng với các mục đích và biện pháp thực hiện cụ thể nhằm đảm bảo an
ninh năng lượng cho mình. Trong đó, “ngoại giao năng lượng” hay “ngoại giao dầu
lửa” trở thành nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược an ninh năng lượng của quốc
6
gia này. Thông qua các hoạt động ngoại giao để có được nguồn cung ứng dầu lửa,
khí đốt là hoạt động thường thấy của chính quyền Bắc Kinh trong thời gian gần đây.
Vì sao Trung Quốc đặc biệt quan tâm đến Châu Phi – một khu vực chậm phát triển
và cách xa về địa lý- với những chương trình hợp tác toàn diện mang tính chiến
lược? Vì sao Trung Quốc vẫn củng cố quan hệ với Iran trong khi cộng đồng quốc tế
lên án chươ
ng trình hạt nhân của quốc gia này? Hay Trung Quốc đang cố chen chân
vào khu vực ảnh hưởng truyền thống của Mỹ là các nước Mỹ La-tinh? Các câu hỏi
trên đều có chung đáp án là các quốc gia đó đều là đối tác cung cấp dầu lửa chiến
lược cho Trung Quốc hiện tại cũng như tương lai.
Chính sách ngoại giao năng lượng của Trung Quốc đã và đang tác động đến
tình hình chính trị, kinh tế thế giới. Đối vớ
m vừa qua.
Về phương diện thực tiễn, việc nghiên cứu này góp phần lý giải những biến
động của tình hình chính trị-kinh tế thế giới, khu vực trong những năm vừa qua,
cũng như những tác động của nó đến các nước láng giềng trong khu vực, trong đó
có Việt Nam.
Xuất phát từ những lý do trên đây, chúng tôi mạnh dạn chọn vấn đề “Chính
sách ngoại giao năng lượng của Trung Quố
c trong những năm đầu thế kỉ XXI”
làm đề tài luận án Tiến sĩ Sử học của mình.
2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Nghiên cứu về chính sách “ngoại giao năng lượng” của Trung Quốc là một
đề tài khá mới mẻ và đang thu hút giới học giả và các nhà nghiên cứu trên thế giới,
nhưng đến nay trong giới khoa học vẫn chưa có một công trình nghiên cứu chuyên
sâu về giai đoạn này. Các nhà nghiên cứu chủ yếu đề cập đến chính sách năng
lượng, an ninh năng lượng và ngoại giao năng lượng của Trung Quốc đối với một
quốc gia ho
ặc khu vực cụ thể. Mặc dù vậy, đó cũng là những nguồn tư liệu rất quan
trọng trong lúc thực hiện đề tài. Trên cơ sở các tư liệu có được tuy chưa đầy đủ và
hoàn chỉnh, chúng tôi cố gắng khái quát một cách khách quan, tổng thể những vấn
đề mà các học giả Việt Nam, phương Tây, Trung Quốc đề cập đến ngoại giao năng
lượng của Trung Quốc trong những năm đầu thế kỉ XXI.
2.1 Công trình Tiếng Việt
Ở Việt Nam do đây là đề tài mới nên đến nay vẫn chưa có một cuốn sách nào
đề cập đến vấn đề ngoại giao năng lượng của Trung Quốc chuyên sâu và cụ thể, mà
chủ yếu là các bài báo, tạp chí, hội thảo khoa học, đề tài nghiên cứu cấp Viện, Bộ,
luận văn Cao học, đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên v.v… Nổi bật có các công
8
trình như sau: Tiến sĩ Đỗ Minh Cao với “Chiến lược năng lượng của Trung Quốc
những năm đầu thế kỉ XXI” đăng trên tạp chí Nghiên cứu quốc tế (số 5-2005),
ra ngoài- 走出去” và “ngoại giao năng lượng” “ngoại giao dầu lửa” được tác giả
phân tích khá kỹ.
Tác giả Phạm Thị Lan Hương đã nêu bật hoạt động ngoại giao dầu lửa giữa
Trung Quốc tại Châu Phi qua luận văn Cao học “Trung Quốc mở rộng ảnh hưởng ở
Châu Phi và những tác động”. Qua nội dung nghiên cứu, người đọc có được cách
nhìn tổng thể về quan hệ chiến lược giữ
a Trung Quốc – Châu Phi trên nhiều mặt
như chính trị - kinh tế - xã hội. Tác giả dành một nội dung phân tích hoạt động
ngoại giao nhằm tìm kiếm các nguồn năng lượng của Trung Quốc tại lục địa đen
thông qua các “chiêu bài” hợp tác, đầu tư, viện trợ kinh tế-khoa học kỹ thuật.
Tại khu vực phía nam, nghiên cứu về chính sách an ninh năng lượng của
Trung Quốc cũng thu hút được sự chú ý của học viên Cao học và sinh viên các
ngành l
ịch sử và quan hệ quốc tế. Với đề tài luận văn “Châu Phi trong chính sách
an ninh năng lượng của Trung Quốc” tác giả Nguyễn Minh Thanh đã phân tích vị
trí của châu Phi trong chính sách an ninh năng lượng của Trung Quốc những năm
gần đây. Bên cạnh đó, còn có công trình nghiên cứu khoa học của sinh viên, đề tài
“Ngoại giao dầu lửa của Trung Quốc từ năm 1993 đến nay” của tập thể tác giả
khoa Quan hệ quốc t
ế -Trường ĐHKHXH&NV TP.Hồ Chí Minh, do sinh viên
Phạm Tấn Ngọc chủ nhiệm đã đề cập đến hoạt động ngoại giao năng lượng của
Trung Quốc từ khi quốc gia này trở thành nhà nhập khẩu dầu lửa từ 1993. Mặc dù
chỉ là hoạt động nghiên cứu khoa học sinh viên nhưng công trình đã đóng góp luận
điểm khoa học có giá trị về hoạt động ngoại giao dầu lửa của Trung Qu
ốc tại các
quốc gia và khu vực có trữ lượng lớn trên thế giới.
Tiến sĩ Lê Văn Mỹ và tập thể nghiên cứu viên Viện Nghiên cứu Trung Quốc
đã biên soạn và hệ thống hóa những điều chỉnh trong chính sách đối ngoại của
Trung Quốc trong 30 năm cải cách mở cửa với tác phẩm “ Ngoại giao Cộng hòa
nhân dân Trung Hoa 30 năm cải cách mở cửa (1978-2008)”. Tác phẩm giúp cho
hội. Trong những năm gần đây, biến động của kinh tế th
ế giới ít nhiều đều liên quan
đến giá dầu, nên sự thăng trầm của giá dầu và tác động của nó đến kinh tế thế giới
cũng thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu. Liên quan đến vấn đề phải kể đến
các công trình “Kinh tế thế giới trước “cú sốc” dầu và cuộc đua tìm nguồn năng
lượng thay thế” của tác giả Trịnh Cường đăng trên Tạp chí Cộng sản số 22 (745);
11
“ Trung Đông: dầu mỏ, hạt nhân và an ninh năng lượng toàn cầu” của tác giả Hồ
Bất Khuất đăng trên Tạp chí Cộng sản số 7 (753); “Cuộc khủng hoảng hạt nhân tại
Iran- tìm giải pháp ngăn chặn giá dầu lên cao” của tác giả Nguyễn Thế Nghiệp
đăng trên Thời báo Kinh tế Việt Nam, số 133…những bài viết này cung cấp những
thông tin cập nhật và đáng tham khảo khi chúng tôi thực hiện đề tài.
Ngoài ra, các bài viết trong các tập Tài liệu tham khảo đặc biệt, Tài liệu
tham khảo hàng tháng, Tài liệu tham khảo hàng ngày… của Thông tấn xã Việt Nam
từ năm 2002 đến nay là nguồn tư liệu phong phú và đáng tin cậy khi nghiên cứu vấn
đề an ninh năng lượng và ngoại giao năng lượng của Trung Quốc. Trong quá trình
tra cứu, thống kê những tư liệu có liên quan đến đề tài từ nguồn tư liệu thông tấn xã,
chúng tôi nhận thấy các tài liệu này đ
ã cung cấp một bức tranh toàn cảnh về nhu cầu
sử dụng cũng như chiến lược năng lượng, hoạt động ngoại giao năng lượng của
Trung Quốc trong những năm đầu thế kỉ XXI. Những nhận xét, quan điểm, dự đoán
của các bài viết đều góp phần giúp chúng tôi tiếp cận nhận thức và đánh giá của các
học giả phương Tây về các vấn đề an ninh và ngoại giao năng lượng của Trung
Quốc.
2.2 Công trình Tiếng Anh
Việc Trung Quốc đang nỗ lực tìm kiếm nguồn năng lượng phục vụ cho sự
phát triển quốc gia không chỉ thể hiện sự mở rộng của quốc gia này trên lĩnh vực
kinh tế, mà thông qua đó năng lượng cũng trở thành nhân tố mới chi phối chính trị
và quan hệ quốc tế ở khu vực Đông Á, Châu Á và trên qui mô toàn cầu. Cu
Tác giả cũng tiên lượng trong tương lai, dầu mỏ sẽ là nguồn năng lượng chính và là
tác nhân chi phối nền kinh tế Trung Quốc.
Cơ quan quản lý thông tin năng lượng (Energy Information Administration-
EIA) là một cơ quan độc lập trực thuộc Bộ Năng lượng Hoa Kỳ
với trách nhiệm thu
thập, phân tích, thống kê các nguồn năng lượng và nhu cầu năng lượng của các quốc
gia khu vực trên thế giới. Hàng năm EIA có một báo cáo thường niên về tình hình
sản xuất cung ứng và tiêu thụ năng lượng trên thế giới “International Energy
Outlook”, các số liệu cũng góp phần dự báo cho tình hình năng lượng toàn thế giới
trong khoảng 20 năm trở lại đây. Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã xử lý các số
li
ệu trong các báo cáo từ năm 2001 đến 2010 liên qua đến nhu cầu tiêu hao năng
lượng của Trung Quốc để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài.
Quan hệ giữa Trung Quốc và Tổ chức năng lượng quốc tế (IEA) đã được thiết
lập từ năm 1992. Tác phẩm “China’s worldwide quest for energy security” tập hợp
13
các bài viết của các chuyên gia của tổ chức này và giới học giả Trung Quốc. Tác
phẩm bao gồm 3 chương đề cập đến 3 vấn đề nổi bật: nguyên nhân Trung Quốc tìm
kiếm nguồn năng lượng ngoài nước? Chính sách ngoại giao năng lượng của Trung
Quốc? Mục đích của những hoạt động này và chuyện gì sẽ xảy ra? Phần cuối tác
phẩm là các bảng biểu thể hiện các chỉ số năng lượng của Trung Quốc trong thập
niên 90 của thế kỉ XX. Thông qua các cứ liệu và số liệu trong tác phẩm có thể dự
đoán nhu cầu năng lượng của Trung Quốc trong những năm đầu thế kỉ XXI.
Quan hệ Trung – Mỹ trong những năm gần đây luôn có tác động đến quan hệ
quốc tế. Trung Quốc trở thành một trong những đối thủ và đối tác quan trọng của
Mỹ trên tất cả
các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự lẫn khoa học kỹ thuật. Nghiên
cứu Trung Quốc không những thu hút giới học thuật mà còn thu hút chính giới tại
Mỹ. Ngày 30 tháng 10 năm 2003, thượng viện Mỹ đã có phiên họp điều trần thảo
kể
đến là văn kiện của Đại hội XVI Đảng Cộng sản Trung Quốc. Văn kiện này có
tác dụng định hướng cho sự phát triển Trung Quốc trên lĩnh vực năng lượng và kim
chỉ nam cho quá trình triển khai chính sách ngoại giao năng lượng của Trung Quốc
trong thập kỉ đầu thế kỉ XXI.
Tháng 12 năm 2007, lần đầu tiên Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung
Hoa cho công bố “Sách trắng về tình hình và chính sách năng lượng”- (中国的能
源状况与政策-白皮书-
China’s Energy Conditions and Policies) bao gồm 8
chương trong đó nhấn mạnh Trung Quốc cố gắng dựa vào nguồn năng lượng trong
nước, hợp lý hóa cơ cấu năng lượng để đảm bảo cho sự phát triển bền vững của
kinh tế-xã hội. Tài liệu này nói rõ lập trường của chính phủ Trung Quốc về chính
sách đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia đồng thời nêu rõ nhu cầu năng lượng
trong thời gian tớ
i.
“Báo cáo sức mạnh quốc gia – 中国国力报告” của Chính phủ Trung Quốc
là cơ sở để xác định cho các nhu cầu tiêu dùng và phát triển hàng năm của xã hội.
Trên cơ sở các báo cáo, Chính phủ Trung Quốc mới dự kiến cho chỉ tiêu phát triển
kinh tế năm kế tiếp. Các số liệu trong các báo cáo sẽ là nguồn tư liệu đáng tin cậy
khi đánh giá về nhu cầu năng lượng tiêu dùng hàng năm của quốc gia này.
Châu Phi và khu vực Mỹ Latinh là hai tr
ọng điểm trong chính sách ngoại
giao năng lượng của Trung Quốc, nên Chính phủ Trung Quốc đã đưa ra chính sách
15
cụ thể với hai khu vực này nhằm tạo điều kiện phát triển quan hệ đối tác chiến lược
toàn diện giữa hai bên “Chính sách đối với Châu Phi 中国对非洲政策文件(全
文)” và “Chính sách đối với Mỹ la tinh và Caribê 中国对拉丁美洲和加勒比政策
文件(全文)” được xem là cơ sở để Trung Quốc tiến hành hợp tác đầu tư toàn
diện với hai khu vực trên, trong đó có lĩnh vực năng lượng.
hình an ninh và chiến lược quốc tế” (
国际战略与安全形势评估
- Strategic and
security review) đã phân tích khá kỹ sự điều chỉnh chiến lược năng lượng của Hoa
Kỳ, Nhật Bản, Ấn Độ, liên minh châu Âu. Những thay đổi trong chiến lược năng
lượng của các khu vực quan trọng trên thế giới như Đông Bắc Á, Đông Nam Á,
Trung Đông, Trung Á, Phi Châu, Mỹ Latinh…làm cho các nước lớn như Mỹ, Trung
Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ phải điều chỉnh lại chi
ến lược năng lượng của từng quốc
gia.
Năng lượng được xếp vào nhóm các nhân tố phi truyền thống tác động đến
tình hình thế giới. Ở góc độ nghiên cứu về “quyền lực mềm” các tác giả Viện
nghiên cứu chính trị và kinh tế thế giới thuộc Viện Khoa học Xã hội Thượng Hải đã
đóng góp tác phẩm “Hệ thống quốc tế và quyền lực mềm c
ủa Trung Quốc” (
国际体
系与中国的软力量
). Yếu tố địa chính trị được tác phẩm đề cập khá rõ, đối tượng
phân tích của tác phẩm vẫn là chạy đua an ninh năng lượng Mỹ-Trung cũng như tác
động của nó đến tình hình năng lượng thế giới thập kỉ đầu thế kỉ XXI.
Cũng nằm trong mảng sách đề cập đến nhân tố phi truyền thống phải kể đến
hai tác phẩm “Bàn về an ninh phi truyền thống”
(
非传统安全论
-On non-traditional
security) của tác giả Lục Trung Vỹ; “So sánh quan niệm an ninh nước lớn” (
大国
安全观比较
-Conceptions of National Security of Great Power: A Comparative
Study” của tác giả Tùng Bằng. Hai tác giả đã tập trung phân tích an ninh quốc gia
gia nghiên cứu về lĩnh vực an ninh năng lượng, tác giả phân tích khá chi tiết kinh tế
n
ăng lượng thế giới, chính trị năng lượng thế giới, thực tiễn ngoại giao năng lượng,
ngoại giao năng lượng toàn cầu, ngoại giao năng lượng khu vực…Có thể nói, đây là
tác phẩm có giá trị khoa học và thực tiễn cao. Những quan điểm của tác giả đáng
được xem xét và nghiên cứu xác đáng khi nghiên cứu an ninh năng lượng thế giới
và an ninh năng lượng từng nước.
Đề cập tr
ực tiếp đến đề tài phải kể đến tác phẩm “Nghiên cứu an ninh năng
lượng của Trung Quốc – Phân tích pháp luật và chính sách” (
中国能源安全问题
研究
-
法律与政策分析
) của tác giả Hoàng Tiến. Đứng từ góc độ pháp luật và chính
sách, tác giả đã phân tích khá kỹ chính sách an ninh năng lượng của Trung Quốc ở
các lĩnh vực như chủ quyền lãnh hải, hợp tác đa phương…Phần cuối tác giả đã nhấn
mạnh Trung Quốc cần hoàn thiện hành lang pháp lý về năng lượng dựa trên thực tế
an ninh năng lượng thế giới từng giai đoạn.
Nhìn chung, qua tiếp cậ
n, tra cứu, thống kê các nguồn tài liệu trong và ngoài
nước, chúng tôi nhận thấy, ở Việt Nam chưa có một công trình nào nghiên cứu tập
trung, hệ thống và toàn diện về chính sách ngoại giao năng lượng của Trung Quốc
18
trong những năm đầu thế kỉ XXI. Trên cơ sở kế thừa công trình nghiên cứu của các
học giả trong và ngoài nước, cũng như những công trình mà chúng tôi chưa có điều
kiện đưa vào phần tài liệu tham khảo do khuôn khổ luận án có hạn, chúng tôi cố
gắng phát triển thêm những quan điểm, nhận xét, đánh giá để hoàn thành một cách
tốt nhất công trình nghiên cứu này.
lần năm 2000 và đến năm 2020 đưa Trung Quốc cơ bản trở thành một nước công
nghiệp.
Từ năm 1993, Trung Quốc đã chính thức trở thành nước nhập khẩu dầu lửa,
nên giai đoạn từ năm 1993 đến năm 2000 được xem là giai đoạn chuyển tiếp cho
những hoạt động ngoại giao tìm kiếm nguồn năng lượng của Trung Quốc. Do đó,
đây là thời gian Trung Quốc ti
ến hành hoạch định và đề ra chính sách an ninh năng
lượng trong những năm đầu thế kỉ XXI bằng cách tiến hành các hoạt động ngoại
giao để có được các nguồn năng lượng phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế
quốc gia và tiêu dùng xã hội.
4. NGUỒN TƯ LIỆU
Luận án được thực hiện dựa trên các nguồn tư liệu chủ yếu sau:
4.1 Nguồn tư liệu tiếng Việt: các bài báo đăng trên các tạp chí chuyên ngành,
các công trình nghiên cứu ở các Bộ, Viện, luận văn Cao học và đề tài nghiên cứu
khoa học của các Học viện, Đại học trong cả nước… Đặc biệt là các bài báo,
chuyên đề của Thông tấn xã Việt Nam có liên quan đến đề tài luận án. Mặt dù, các
công trình này chưa phản ánh m
ột cách đầy đủ và hệ thống về chính sách ngoại giao
năng lượng của Trung Quốc nhưng cũng phần nào cung cấp cách nhìn của các học
giả trong nước về vấn đề an ninh năng lượng và ngoại giao năng lượng của Trung
Quốc trong những năm gần đây.
4.2 Nguồn tư liệu tiếng Anh: với thế mạnh luôn cập nhật các thông tin và số
liệu hàng năm, nghiên cứu trong các môi trường mang tính h
ọc thuật cao, nên có thể
nói, nguồn tư liệu tiếng Anh của các học giả phương Tây, học giả người Hoa ở hải
ngoại đã cung cấp những nhận định mang tính khách quan và phản ánh một cách
toàn diện về chính sách ngoại giao năng lượng của Trung Quốc trong những năm
đầu thế kỉ XXI. Chúng tôi cố gắng tiếp cận nguồn tư liệu này nhằm hiểu rõ quan
điểm của các học gi
ả phương Tây khi nhận thức về vấn đề ngoại giao năng lượng
Ngoài ra, khi nghiên cứu chính sách đối ngoại của m
ỗi quốc gia, các nhà
nghiên cứu về quan hệ quốc tế thường xác định hoặc đứng trên lập trường của chủ
nghĩa hiện thực, chủ nghĩa tự do hoặc chủ nghĩa kiến tạo.…nhằm hiểu rõ hơn bản
chất chính sách đối ngoại của quốc gia đó. Chính sách đối ngoại của một quốc gia là
sự nối dài chính sách đối nội của quốc gia đó, hay nói cách khác là phục vụ cho
21
chính sách đối nội. Trong từng giai đoạn cụ thể, các quốc gia sẽ đề ra từng chiến
lược, sách lược ngoại giao khác nhau để phục vụ cho mục đích ổn định và phát triển
quốc gia. Chính sách đối ngoại thời kỳ nào chỉ phục vụ cho mục tiêu quốc gia thời
kỳ đó, tùy vào việc xác định mục tiêu của các nhà hoạch định chính sách. Trong
những năm đầu thế kỉ XXI, Trung Quốc đang trong quá trình trở thành một cường
quốc trên thế giới sau Mỹ, ba mũi nhọn trong chính sách ngoại giao những năm đầu
thế kỉ XXI là “ngoại giao nước lớn”, “ngoại giao láng giềng” và “ngoại giao năng
lượng”. Trong đó, “ngoại giao năng lượng” là loại hình ngoại giao mới so với hai
loại hình trước đó. Việc đề ra chính sách “ngoại giao năng lượng” không phải là
điều ngẫu nhiên, mà nó là chính sách ngoại giao mang tính chiến lược nhằm đả
m
bảo nguồn cung ứng năng lượng ổn định, lâu dài với giá cả hợp lý cho nền kinh tế
Trung Quốc hiện tại cũng như tương lai.
Do đó, chúng tôi chọn chủ nghĩa hiện thực
1
(Realism) để lý giải, phân tích
quá trình hoạch định, triển khai và tác động của chính sách ngoại giao năng lượng
của Trung Quốc đến tình hình kinh tế, chính trị thế giới những năm đầu thế kỉ XXI.
6. BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN
Luận án dày 258 trang, ngoài các phần Dẫn luận, Kết luận, Danh mục tài liệu
tham khảo và Phụ lục, phần nội dung của luận án được trình bày trong 3 chương.
Chương I: An ninh năng lượng thế giới những năm đầu thế kỉ XXI.
7.1 Luận án phân tích một cách có hệ thống mối quan hệ giữa an ninh năng
lượng và an ninh quốc gia, đồng thời đánh giá tình hình năng lượng và an
ninh năng lượng trên thế giới những năm gần đây, từ đó tìm hiểu nguyên
nhân của sự xuất hiện chính sách “ngoại giao năng lượng” trong quan hệ
quốc tế trong những năm đầu thế kỉ XXI.
7.2 Luận án khái quát về tình hình năng lượng và nhu cầu tiêu th
ụ năng lượng
của Trung Quốc trong những năm đầu thế kỉ XXI.
7.3 Luận án phân tích, đánh giá chính sách an ninh năng lượng của Trung
Quốc- cơ sở để tiến hành chính sách ngoại giao năng lượng của Trung Quốc
trong những năm đầu thế kỉ XXI.
7.4 Luận án phân tích, đánh giá quá trình triển khai chính sách ngoại giao
năng lượng của Trung Quốc ở từng khu vực cụ thể- chủ yếu là ở Trung
Đông, Châu Phi và Mỹ Latinh và một số khu vực khác.
7.5 Luận án bước đầu đánh giá những tác động của chính sách ngoại giao
năng lượng của Trung Quốc đối với nền kinh tế - chính trị thế giới trong
những năm đầu thế kỉ XXI.
23
7.6 Luận án cung cấp nguồn tư liệu tương đối phong phú và tin cậy về chính
sách an ninh năng lượng và ngoại giao năng lượng của Trung Quốc trong
những năm đầu thế kỉ XXI.
đáp ứng nhu cầu tiêu thụ năng
lượng của con người. Do đó, năng lượng có thể định nghĩa là những tài nguyên
25
thiên nhiên hoặc vật chuyển hóa có khả năng cung cấp các nhu cầu năng lượng cho
hoạt động sinh hoạt và sản xuất của con người.
Năng lượng là vật chất cơ bản cần thiết cho mọi hoạt động của con người và
phát triển kinh tế của một quốc gia. Năng lượng hiện chiếm một tỉ lệ quan trọng
trong sản xuất công nghiệp, các dây chuyền sản xuất bằng máy móc đều phải dựa
trên nguồn cung cấp năng lượng để vận hành. Ngoài ra, năng lượng còn có quan hệ
mật thiết với hiện đại hóa nông nghiệp, cơ khí hóa nông nghiệp, điện khí hóa nông
thôn. Các loại hình giao thông hiện nay cơ bản đều sử dụng năng lượng dưới nhiều
hình thức khác nhau:xe lửa, máy bay, xe hơi, tàu thuyền… Đối với các quốc gia
phát triển và đang phát triển năng lượng trở thành nhu cầu chi
ến lược, thậm chí
được so sánh như một nhân tố quan trọng đảm bảo an ninh quốc gia.
Do năng lượng có nhiều hình thức khác nhau, nên có nhiều cách phân loại
khác nhau. Cách phân loại chúng có thể dựa vào các góc độ: bảo vệ môi trường, kỹ
thuật, cách sử dụng, quá trình hình thành hoặc nguồn gốc. Nhưng tựu chung các
cách phân loại này đều phản ánh các đặc trưng của các dạng năng lượng khác nhau.
Căn cứ vào quá trình hình thành có thể chia năng lượng làm 3 loạ
i: 1. năng
lượng có sẵn trong cấu tạo trái đất: năng lượng hạt nhân, năng lượng địa nhiệt ; 2.
năng lượng đến từ các thiên thể ngoài trái đất: bức xạ vũ trụ, năng lượng mặt trời,
các nguồn năng lượng do tác động của mặt trời như: thủy năng, gió, sóng, hải lưu,
tác dụng quang hợp, năng lượng sinh học, năng lượng hóa thạch (than đá, dầu mỏ,
khí tự nhiên); 3. năng lượng do tác dụng của trái đất và các thiên thể khác ngoài nó:
hiện tượng thủy triều.
Căn cứ vào trình độ và cách sử dụng có thể phân làm 2 loại: năng lượng
truyền thống và năng lượng mới. 1.Năng lượng truyền thống như than đá, khí thiên