MỞ ĐẦU ……………………………………………………………………..
…3
I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG CHỨC
…………………………………………..4
1. Một số khái niệm ……………………………………………………………
4
1.1. Quản lý nhà nước …………………………………………………………
4
1.2. Công chức, công chức cấp xã ………………………...…………………..
4
1.3. Năng lực quản lý nhà nước của công chức cấp xã
……………………....6
2. Phân loại công chức
………………………………………………………...7
2.1. Phân loại theo trình độ đào tạo
……………………………………………….7
2.2. Phân loại theo ngạch công chức
………………………………………….7
2.3. Phân loại theo vị trí công tác
……………………………………………...7
3. Tiêu chuẩn công chức cấp xã ………………………………………………
7
3.1. Tiêu chuẩn chung …………………………………………………………
7
3.2. Tiêu chuẩn cụ thể …………………………………………………………
8
3.2.1. Tiêu chuẩn công chức Tài chính - Kế toán
……………………………....8
3.2.2. Tiêu chuẩn công chức Tư pháp - Hộ tịch
……15
1. Khái quát về phường Nghĩa Tân
………………………………………….15
2. Thực trạng đội ngũ công chức phường Nghĩa Tân
……………………...16
2.1. Tổ chức biên chế …………………………………………………………
16
2.2. Chất lượng công chức
…………………………………………………....16
2.3. Kết quả hoạt động
………………………………………………………...16
III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM GÓP PHẦN NÂNG CAO NĂNG LỰC
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC PHƯỜNG
NGHĨA TÂN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
…………………………………………………18
1. Phương hướng, mục tiêu
…………………………………………………..18
1.1. Phương hướng ……………………………………………………………
18
1.2. Mục tiêu
…………………………………………………………………..19
2. Một số giải pháp nâng cao năng lực quản lý nhà nước của công chức
phường Nghĩa Tân trong giai đoạn hiện nay
……………………………….19
2.1. Đảm bảo đủ số lượng, cơ cấu hợp lý đội ngũ công chức phường theo
quy định
……………………………………………………………………………19
2.2. Chủ động nâng cao chất lượng đội ngũ công chức đáp ứng yêu cầu
Trong những năm gần đây Đảng, Nhà nước ta và các địa phương đã tăng
cường nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí,
sắp xếp cán bộ, công chức cấp xã. Tuy nhiên, phần lớn các địa phương chưa
thực hiện đồng bộ; công tác đào tạo, bồi dưỡng chưa gắn với công tác quy
hoạch cán bộ, nên nhiều cán bộ chủ chốt cấp xã chưa được đào tạo một cách cơ
bản các kiến thức về tổ chức nhà nước, pháp luật, quản lý hành chính, chuyên
môn nghiệp vụ.
Trước yêu cầu phát triển ngày càng cao của công tác tổ chức bộ máy
và phương thức hoạt động của chính quyền cơ sở, đội ngũ cán bộ, công chức
cấp xã đang bộc lộ những hạn chế, yếu kém về năng lực, hiệu quả quản lý hành
chính nhà nước ở cơ sở. Điều đó đặt ra nhiệm vụ phải tập trung đổi mới, củng
cố, kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao chất lượng chính quyền cơ sở.
Vì vậy, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã vững mạnh về chính trị,
tư tưởng; gương mẫu về đạo đức, trong sạch về lối sống; có trí tuệ kiến thức và
năng lực hoạt động thực tiễn, gắn bó với nhân dân là vấn đề được Đảng, Nhà
nước đặc biệt quan tâm trong giai đoạn hiện nay.
Để kết thúc học phần môn “Quản lý hành chính Nhà nước” em xin chọn đề
tài tiểu luận “Nâng cao năng lực quản lý nhà nước của đội ngũ công chức
phường Nghĩa Tân - Cầu Giấy - Hà Nội trong giai đoạn mới”. Tiểu luận là sự
áp dụng những kiến thức môn học “Quản lý hành chính nhà nước” và một số
tài liệu liên quan để đi sâu tìm hiểu về đội ngũ công chức cấp xã, tìm hiểu thực
trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao năng lực quản lý
nhà nước của đội ngũ công chức ở phường Nghĩa Tân - Quận Cầu Giấy Thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay.
NỘI DUNG
I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG CHỨC
1. Một số khái niệm
1.1. Quản lý nhà nước
Khi nhà nước xuất hiện thì phần lớn các công việc của xã hội do Nhà nước
khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh cán bộ, công chức, làm việc trong các cơ quan
nhà nước, lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội sau
đây:
1. Văn phòng Quốc hội;
2. Văn phòng Chủ tịch nước;
3. Các cơ quan hành chính nhà nước ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;
4. Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân các cấp;
5. Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước
ngoài;
6. Đơn vị thuộc Quân đội nhân dân và Công an nhân dân;
7. Bộ máy giúp việc thuộc tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở
Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện.
Đồng thời, tại Nghị định số 114/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2003
của Chính phủ về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn, Điều 2 khoản 2 cũng
liệt kê đối tượng là công chức cấp xã. Cụ thể “những người được tuyển dụng,
giao giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã
(gọi chung là công chức cấp xã)”, gồm các chức danh sau đây: Trưởng công an
(Nơi chưa bố trí lực lượng công an chính quy); Chỉ huy trưởng quân sự; Văn
phòng - Thống kê; Địa chính - Xây dựng; Tài chính - Kế toán; Tư pháp - Hộ
tịch; Văn hóa - Xã hội.
Gần đây nhất, năm 2008 Quốc hội khóa 12 đã ban hành luật cán bộ, công
chức, trong đó nêu khái niệm:
Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch
chức vụ, chức danh trong cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ
chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị
Quân đội nhân dân mà không phải là sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công
nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không
phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý
- Theo cuốn “Tâm lý học trong xã hội và quản lý” (PGS. Bùi Ngọc Oánh Nhà xuất bản thống kê, năm 1998) thì “năng lực là khả năng của con người có
thể thực hiện một loạt hành động nào đó làm cho hoạt động ấy đạt đến một kết
quả nhất định”.
Qua các quan niệm trên ta có thể khái quát như sau: năng lực của cá nhân
hay tập thể hành động nào đó là một tổ hợp các tố chất của thực thể hành động
đó, khiến cho tập thể hoặc cá nhân đó có thể làm được một số việc nhất định.
Đối với công chức cấp xã thì năng lực quản lý nhà nước được biểu hiện
bằng khả năng thực tế giải quyết công việc, khả năng sử dụng các công cụ
(chính sách, pháp luật), phương tiện (vật chất, lao động, tài chính) nhằm bảo
đảm hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao.
Ủy ban nhân dân xã là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương có trách
nhiệm quản lý mọi hoạt động trên địa bàn. Mỗi lĩnh vực cụ thể của đời sống xã
hội diễn ra trên địa bàn với nhiều tình huống cụ thể phức tạp đòi hỏi cán bộ
công chức nói chung và công chức cấp xã nói riêng phải có trình độ chuyên
môn vững chắc, có năng lực quản lý điều hành để giải quyết cho thỏa đáng.
Năng lực hoạt động của đội ngũ công chức cấp xã được đánh giá qua các
mặt:
- Năng lực quản lý điều hành các hoạt động trên địa bàn, khả năng tiếp
nhận và lựa chọn thông tin để ra các quyết định quản lý, bảo đảm tính hợp
lý và hợp pháp.
- Năng lực vận dụng pháp luật để giải quyết các vụ việc cụ thể và khả năng
có những phản ứng, những phương án linh hoạt nhằm đáp ứng kịp thời các yêu
cầu quản lý.
- Khả năng vận động quần chúng nhân dân trong quá trình tổ chức triển
khai các văn bản pháp luật của Nhà nước.
Năng lực của công chức cấp xã còn được đánh giá qua: tác phong làm việc,
phương pháp quản lý điều hành nhằm đạt kết quả cao nhất, khả năng giao tiếp,
ứng xử với nhân dân, kỹ năng tuyên truyền, giải thích, thuyết phục nhân dân
Không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng. Có ý thức kỷ
luật trong công tác. Trung thực, không cơ hội, gắn bó mật thiết với nhân dân,
được nhân dân tín nhiệm.
- Có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng,
chính sách và pháp luật của Nhà nước; có trình độ học vấn, chuyên môn và sức
khỏe để làm việc có hiệu quả đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.
3.2. Tiêu chuẩn cụ thể
3.2.1. Tiêu chuẩn công chức Tài chính - Kế toán:
- Độ tuổi: Không quá 35 tuổi khi tuyển dụng lần đầu.
- Học vấn: Tốt nghiệp trung học phổ thông đối với khu vực đồng bằng và đô
thị, tốt nghiệp trung học cơ sở trở lên đối với khu vực miền núi.
- Lý luận chính trị: Sau khi được tuyển dụng phải được bồi dưỡng lý luận
chính trị với trình độ tương đương sơ cấp trở lên.
- Chuyên môn nghiệp vụ: ở khu vực đồng bằng có trình độ trung cấp Tài
chính - Kế toán trở lên. Với công chức đang công tác ở khu vực miền núi hiện
nay, tối thiểu được bồi dưỡng kiến thức chuyên môn Tài chính - Kế toán; nếu
mới được tuyển dụng lần đầu phải có trình độ trung cấp Tài chính - Kế toán trở
lên. Phải qua bồi dưỡng quản lý hành chính Nhà nước sau khi tuyển dụng. Ở
khu vực đồng bằng và đô thị phải sử dụng được kỹ thuật tin học trong công tác
chuyên môn.
3.2.2. Tiêu chuẩn công chức Tư pháp - Hộ tịch:
- Độ tuổi: Không quá 35 tuổi khi tuyển dụng lần đầu.
- Học vấn: Tốt nghiệp trung học phổ thông đối với khu vực đồng bằng và đô
thị; tốt nghiệp trung học cơ sở trở lên đối với khu vực miền núi.
- Lý luận chính trị: Sau khi được tuyển dụng phải được bồi dưỡng lý luận
chính trị tương đương trình độ sơ cấp trở lên.
- Chuyên môn nghiệp vụ: ở khu vực đồng bằng có trình độ trung cấp Luật
trở lên và phải qua lớp bồi dưỡng nghiệp vụ tư pháp cấp xã sau khi được tuyển
chuyên môn về một trong các ngành chuyên môn trên; nếu mới được tuyển
dụng lần đầu phải có trình độ trung cấp của một trong ba ngành chuyên môn
trên. Sau khi được tuyển dụng phải qua bồi dưỡng quản lý hành chính Nhà
nước (nếu chưa qua trung cấp hành chính). Ở khu vực đồng bằng và đô thị phải
sử dụng được kỹ thuật tin học phục vụ công tác chuyên môn.
3.2.5. Tiêu chuẩn công chức Văn hóa - Xã hội:
- Độ tuổi: Không quá 35 tuổi khi tuyển dụng lần đầu.
- Học vấn: Tốt nghiệp trung học phổ thông đối với khu vực đồng bằng và đô
thị, tốt nghiệp trung học cơ sở trở lên đối với khu vực miền núi.
- Lý luận chính trị: Sau khi được tuyển dụng phải được bồi dưỡng lý luận
chính trị tương đương trình độ sơ cấp trở lên.
- Chuyên môn nghiệp vụ: ở khu vực đồng bằng phải đạt trung cấp về văn
hoá nghệ thuật (chuyên ngành) hoặc trung cấp quản lý Văn hoá - Thông tin
hoặc trung cấp nghiệp vụ Lao động - Thương binh và xã hội trở lên. Với công
chức đang công tác ở khu vực miền núi hiện nay, tối thiểu được bồi dưỡng kiến
thức chuyên môn về một trong các ngành chuyên môn trên; nếu mới được
tuyển dụng lần đầu phải có trình độ trung cấp trở lên về một trong các ngành
chuyên môn nêu trên. Sau khi được tuyển dụng phải qua bồi dưỡng quản lý
hành chính Nhà nước và ngành chuyên môn còn thiếu liên quan tới nhiệm vụ
được giao. Sử dụng thành thạo các trang thiết bị phù hợp với ngành chuyên
môn. ở khu vực đồng bằng và đô thị phải sử dụng được kỹ thuật tin học trong
công tác.
3.2.6. Tiêu chuẩn công chức Trưởng Công an xã:
- Độ tuổi: Không quá 35 tuổi khi tuyển dụng lần đầu.
- Học vấn: Tốt nghiệp trung học phổ thông đối với khu vực đồng bằng, tốt
nghiệp trung học cơ sở trở lên đối với khu vực miền núi.
- Lý luận chính trị: Sau khi được tuyển dụng phải có trình độ trung cấp lý
luận chính trị trở lên ở khu vực đồng bằng, có trình độ tương đương sơ cấp lý
phường, thị trấn theo quy định.
- Tham mưu cho Uỷ ban nhân dân trong khai thác nguồn thu, thực hiện các
hoạt động tài chính ngân sách đúng quy định của pháp luật.
- Kiểm tra các hoạt động tài chính, ngân sách theo đúng quy định, tổ chức
thực hiện theo hướng dẫn của cơ quan tài chính cấp trên.
- Thực hiện chi tiền theo lệnh chuẩn chi; thực hiện theo quy định về quản lý
quỹ tiền mặt và giao dịch đối với Kho bạc Nhà nước về xuất nhập quỹ.
- Báo cáo tài chính, ngân sách đúng quy định.
4.2. Nhiệm vụ của công chức Tư pháp - Hộ tịch
- Giúp Uỷ ban nhân dân cấp xã soạn thảo, ban hành cácvăn bản quản lý theo
quy định của pháp luật; giúp Uỷ ban nhân dân cấp xã tổ chức lấy ý kiến nhân
dân đối với dự án luật, pháp lệnh theo kế hoạch của Uỷ ban nhân dân cấp xã và
hướng dẫn của cơ quan chuyên môn cấp trên;giúp Uỷ ban nhân dân cấp xã phổ
biến, giáo dục pháp luật trong nhân dân xã, phường, thị trấn.
- Giúp Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ đạo cộng đồng dân cư tự quản xây dựng
hương ước, quy ước, kiểm tra việc thực hiện hương ước, quy ước; thực hiện trợ
giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách theo quy định của pháp
luật; quản lý tủ sách pháp luật; tổ chức phục vụ nhân dân nghiên cứu pháp luật;
phối hợp hướng dẫn hoạt động đối với tổ hoà giải. Phối hợp với trưởng thôn, tổ
trưởng tổ dân phố sơ kết, tổng kết công tác hoà giải, báo cáo với Ủy ban nhân
dân cấp xã và cơ quan tư pháp cấp trên.
- Thực hiện việc đăng ký và quản lý hộ tịch theo các nhiệm vụ cụ thể được
phân cấp quản lý và đúng thẩm quyền được giao.
- Thực hiện việc chứng thực theo thẩm quyền đối với các công việc thuộc
nhiệm vụ được pháp luật quy định.
- Giúp Uỷ ban nhân dân cấp xã thực hiện một số công việc về quốc tịch theo
quy định của pháp luật.
- Quản lý lý lịch tư pháp, thống kê tư pháp ở xã, phường, thị trấn.
đất, sổ theo dõi biến động đất đai, số liệu thống kê, kiểm kê, quy hoạch - kế
hoạch sử dụng đất tại trụ sở Uỷ ban nhân dân cấp xã, các mốc địa giới...
- Tham mưu cho Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý công tác xây dựng, giám
sát về kỹ thuật trong việc xây dựng các công trình phúc lợi ở địa phương.
- Tuyên truyền, giải thích, hoà giải tranh chấp về đất đai, tiếp nhận đơn thư
khiếu nại, tố cáo của dân về đất đai, để giúp Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm
quyền giải quyết, thường xuyên kiểm tra nhằm phát hiện các trường hợp vi
phạm đất đai để kiến nghị Uỷ ban nhân dân cấp xã xử lý.
- Phối hợp với cơ quan chuyên môn cấp trên trong việc đo đạc, lập bản đồ
địa chính, bản đồ địa giới hành chính, giải phóng mặt bằng.
- Tham gia tuyên truyền, phổ biến về chính sách pháp luật đất đai.
4.4. Nhiệm vụ của công chức Văn phòng - Thống kê.
- Giúp Uỷ ban nhân dân cấp xã xây dựng chương trình công tác, lịch làm
việc và theo dõi thực hiện chương trình, lịch làm việc đó; tổng hợp báo cáo tình
hình kinh tế - xã hội, tham mưu giúp Ủy ban nhân dân trongviệc chỉ đạo thực
hiện.
- Giúp Uỷ ban nhân dân dự thảo văn bản trình cấp có thẩm quyền; làm báo
cáo gửi lên cấp trên.
- Quản lý công văn, sổ sách, giấy tờ, quản lý việc lập hồ sơ lưu trữ, biểu báo
cáo thống kê; theo dõi biến động số lượng, chất lượng cán bộ, công chức cấp
xã.
- Giúp Hội đồng nhân dân tổ chức kỳ họp, giúp Uỷ ban nhân dân tổ chức
tiếp dân, tiếp khách, nhận đơn khiếu nại của nhân dân chuyển đến Hội đồng
nhân dân và Uỷ ban nhân dân hoặc lên cấp trên có thẩm quyền giải quyết.
- Đảm bảo điều kiện vật chất phục vụ cho các kỳ họp của Hội đồng nhân
dân cho công việc của Uỷ ban nhân dân...
- Giúp Uỷ ban nhân dân về công tác thi đua khen thưởng ở xã, phường, thị
trấn.
xã hội.
- Hướng dẫn và nhận hồ sơ của người xin học nghề, tìm việc làm, người
được hưởng chính sách ưu đãi, chính sách xã hội trình Uỷ ban nhân dân xã giải
quyết theo thẩm quyền.
- Theo dõi và đôn đốc việc thực hiện chi trả trợ cấp cho người hưởng chính
sách lao động, thương binh và xã hội...
- Phối hợp với các đoàn thể trong việc chăm sóc, giúp đỡ các đối tượng
chính sách; quản lý các nghĩa trang liệt sĩ, công trình ghi công liệt sĩ và bảo trợ
xã hội, việc nuôi dưỡng, chăm sóc các đối tượng xã hội ở cộng đồng.
- Theo dõi thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo.
- Giúp Uỷ ban nhân dân cấp xã thực hiện sơ kết, tổng kết báo cáo công tác
văn hoá, văn nghệ, thông tin tuyên truyền, thể dục thể thao, công tác lao động thương binh và xã hội ở xã, phường, thị trấn.
4.6. Nhiệm vụ của công chức Trưởng Công an xã.
- Tổ chức lực lượng công an xã, nắm chắc tình hình an ninh trật tự trên địa
bàn; tham mưu đề xuất với cấp uỷ Đảng, Uỷ ban nhân dân xã, thị trấn và cơ
quan công an cấp trên về chủ trương, kế hoạch, biện pháp bảo đảm an ninh trật
tự trên địa bàn và tổ chức thực hiện sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
- Phối hợp với các cơ quan, đoàn thể tuyên truyền, phổ biến pháp luật liên
quan tới an ninh trật tự cho nhân dân, hướng dẫn tổ chức quần chúng làm công
tác an ninh, trật tự trên địa bàn quản lý.
- Tổ chức phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm, các tệ nạn xã hội
và các vi phạm pháp luật khác trên địa bàn theo quy định của pháp luật và theo
hướng dẫn của công an cấp trên.
- Tổ chức thực hiện nhiệm vụ phòng cháy, chữa cháy, giữ trật tự công cộng
và an toàn giao thông, quản lý vũ khí, chất nổ dễ cháy; quản lý hộ khẩu, kiểm
tra các quy định về an ninh trật tự trên địa bàn theo thẩm quyền.
- Xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật theo quy định; tổ chức việc
quản lý, giáo dục đối tượng trên địa bàn theo quy định của pháp luật.
nền quốc phòng gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận quốc phòng toàn dân
gắn với thế trận an ninh nhân dân.
- Thực hiện chính sách hậu phương quân đội; các tiêu chuẩn, chế độ, chính
sách cho dân quân, tự vệ, quân nhân dự bị theo quy định.
- Tổ chức thực hiện nghiêm chế độ quản lý sử dụng, bảo quản vũ khí trang
bị, sẵn sàng chiến đấu; quản lý công trình quốc phòng theo phân cấp; thực hiện
chế độ kiểm tra, báo cáo, sơ kết, tổng kết công tác quốc phòng, quân sự ở xã,
phường, thị trấn.
II. THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC PHƯỜNG NGHĨA TÂN
1. Khái quát về phường Nghĩa Tân
Phường Nghĩa Tân được thành lập trên cơ sở thị trấn Nghĩa Tân, được tách
từ thị trấn Nghĩa Đô theo Quyết định số 226/TCCP ngày 07/4/1992 của Ban Tổ
chức Cán bộ Chính phủ.
Ngày 22/11/1996, Chính phủ ra Nghị định 74/CP, tại Điều 1, phần II, mục
3 nêu rõ: “Phường Nghĩa Tân được thành lập trên cơ sở thị trấn Nghĩa Tân, có
diện tích tự nhiên 57,37ha và 14.519 nhân khẩu”.
Hiện nay phường có 59 tổ dân số, với số dân trên 20.450 người, phần lớn là
những cán bộ, công chức đã nghỉ hưu hoặc đang công tác trong các cơ quan
Nhà nước, Quân đội, …Phường có 4 trường học, số lượng học sinh ổn định,
chất lượng dạy và học được giữ vững, cả 4 trường đều đạt danh hiệu tiên tiến
xuất sắc. Đời sống văn hóa, các phong trào, các cuộc vận động được duy trì
thường xuyên, nhận được sự quan tâm hưởng ứng của dông đảo quần chúng
nhân dân, an ninh chính trị luôn được giữ vững. Nhiều năm liền Đảng bộ
phường đạt danh hiệu Đảng bộ cơ sở trong sạch, vững mạnh; phường và các
đơn vị thuộc phường được Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội tặng Cờ thi
đua, Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen, … Đây là cơ sở thuận lợi để Đảng
bộ, chính quyền và nhân dân phường Nghĩa Tân tiếp tục xây dựng phường thực
sự đoàn kết, kỷ cương, dân chủ, văn minh và phát triển vững mạnh về mọi mặt.
01
02
01
02
02
02
01
02
01
01
01
01
Tổng số công chức hiện có: 08 người
2.2. Chất lượng công chức:
Về độ tuổi:
- Số công chức dưới 30 tuổi: 01, chiếm 12,5%
- Số công chức từ 30 đến 45 tuổi: 06, chiếm 75%
- Số công chức trên 45 tuổi: 01, chiếm 12,5%
Về chuyên môn nghiệp vụ: Công chức phường Nghĩa Tân được đào tạo cơ
bản, 100% công chức làm nhiệm vụ chuyên môn đã tốt nghiệp đại học, 50% tốt
nghiệp 02 đại học, sử dụng thành thạo vi tính, thực hiện nhiệm vụ theo đúng
chuyên môn đực đào tạo; tuy nhiên về kiến thức quản lý nhà nước thì chưa toàn
diện.
Về lý luận chính trị: 100% công chức có trình độ trung cấp lý luận chính trị
trở lến, 75% là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam
Chất lượng của công chức phường Nghĩa Tân là điều kiện hết sức thuận lợi
cho hoạt động quản lý nhà nước trên các lĩnh vực công tác được phân công,
ngũ công chức phường Nghĩa Tân hiện nay có thể khái quát do một số nguyên
nhân chủ yếu sau:
Thứ nhất, đội ngũ công chức còn thiếu so với biên chế. Hiện nay so với
biên chế quy định, phường Nghĩa Tân còn thiếu 03 công chức ở các chức danh:
Tư pháp - Hộ tịch, Địa chính - Xây dựng và Văn hóa - Xã hội. Do đó, một chức
danh công chức có khi phải kiêm nhiệm nhiều công việc khác nhau. Ví dụ như
chức danh Văn phòng - Thống kê ngoài nhiệm vụ theo quy định còn phải đảm
nhiệm công tác Văn thư - lưu trữ và công tác Thi đua của phường.
Thứ hai, công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức còn bất cập. Mặc dù đội
ngũ công chức của phường đều được đào tạo cơ bản về chuyên môn nghiệp vụ,
song chưa được bồi dưỡng bổ sung kịp thời những tri thức mới, việc tiếp thu và
ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào công tác quản lý, điều hành chưa kịp
thời dẫn đến chất lượng, hiệu quả công tác chưa cao. Công tác đào tao, bồi
dưỡng chưa gắn với công tác quy hoạch lâu dài nguồn công chức bổ sung mà
chủ yếu tập trung giải quyết vấn đề trước mắt. Việc đào tạo, bồi dưỡng về kiến
thức quản lý nhà nước còn chưa toàn diện, thời gian đào tạo ngăn, không cơ
bản nên chưa thưc sự trang bị được cho đội ngũ công chức những kỹ năng quản
lý, điều hành và kỹ năng quản lý hành chính cần thiết.
Thứ ba, chế độ, chính sách đối với công chức còn chưa phù hợp với tình
hình mới. Từ năm 2003 đến nay, Nhà nước đã công nhận 07 nhóm chức danh
công chức cấp xã. Từ đây, đội ngũ này đã được hưởng những chế độ, chính
sách nhất định trong công tác. Tuy nhiên, thu nhập của đội ngũ công chức hiện
nay còn thấp, chưa tương xứng với thời gian lao động, sức lực trí tuệ mà họ bỏ
ra và trách nhiệm mà họ phải gánh chịu. Tiền lương của công chức phường tuy
đã được cải thiện song vẫn còn ở mức thấp trong điều kiện giá cả, mức sống ở
khu vực nội thành lại khá cao nên không có sức thu hút nguồn cán bộ trẻm
được đào tạo cơ bản về công tác tại phường.
Nhiều công chức ngoài việc tham gia công tác ở phường còn phải làm thêm
tố tạo nên năng lực quản lý nhà nước. Vì vậy, để nâng cao năng lực quản lý nhà
nước trước tiên phải nâng cao kiến thức quản lý nhà nước cho đội ngũ công
chức của phường.
Thứ hai, kiến thức pháp luật. Chúng ta đang trong giai đoạn xây dựng Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nên pháp luật trở thành một công cụ,
phương tiện quan trọng để nhà nước quản lý xã hội. Quản lý nhà nước, quản lý
xã hội còn thông qua nhiều phương tiện khác như đạo đức, truyền thống, tập
quán, … nhưng chủ yếu và quan trọng nhất vẫn là pháp luật. Bởi vì pháp luật là
quy tắc xử sự chung cho tất cả mọi người trong xã hội, không phân biệt vùng
miền. Để quản lý tốt bằng pháp luật, đòi hỏi người quản lý phải hiểu biết pháp
luật, ít nhất cũng phải hiểu được pháp luật trên lĩnh vực mình quản lý. Do đó,
việc nâng cao kiến thức pháp luật cho đội ngũ công chức của phường là một
yếu tố hết sức quan trọng và cần thiết nhằm nâng cao năng lực quản lý cho họ.
Thứ ba, kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ. Đây là kiến thức chuyên sâu của
lĩnh vực công chức phụ trách, quản lý. Chỉ khi nắm vững về chuyên môn,
nghiệp vụ thì công chức mới có khả năng thực hiện đúng và tốt lĩnh vực công
tác của mình, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, tránh được những sai sót
trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
Bên cạnh đó, cần quan tâm đến khả năng ứng dụng công nghệ thông tin vào
công tác chuyên môn. Vấn đề hiện đại hóa, tin học hóa nền hành chính đã được
Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm và chỉ đạo thực hiện. Tại hội nghị lần
thứ chín Ban chấp hành TW khóa IX, Đảng ta đã xác định: “Thực hiện có hiệu
quả chương trình hiện đại hóa nền hành chính, hiện đại hóa công sở. đẩy mạnh
ứng dụng công nghệ thông tin và khởi động xây dựng “chính phủ điện tử””.
Đặc biệt, trong giai đoạn ngày nay, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và công
nghệ thông tin phát triển hết sức mạnh mẽ đã đem lại hiệu quả cao cho sự phát
triển của đời sống xã hội trên tất cả các lĩnh vực. Việc ứng dụng công nghệ
thông tin đã và đang được ứng dụng rộng rãi. Nâng cao kiến thức và khả năng
ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động công tác chuyên môn sẽ giúp đội
ngũ công chức nâng cao được hiệu lực quản lý, hiệu quả công tác của mình.
Nhân tố quyết định đến hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước chính là cán
bộ. Đúng như lời dạy của Bác Hồ: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc, công
việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”.
Do đó cần đổi mới nhận thức về công tác cán bộ, thấy được vai
trò quyết định của đội ngũ cán bộ, công chức trong đổi mới cơ cấu tổ chức,
gắn liền sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đồng thời với chiến
lược phát triển kinh tế, xã hội, phường phải có chiến lược phát triển đội ngũ cán