MỤC LỤC
Trang
A.LỜI MỞ ĐẦU
B.NỘI DUNG
I.Khái niệm chung về chế độ tài sản chung của vợ chồng
II.Các trường hợp chia tài sản giữa vợ và chồng
1.Căn cứ chia tài sản của vợ chồng
1.1.Điều kiện để chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân
1.2.Điều kiện chia tài sản khi ly hôn
1.3.Điều kiện để chia tài sản khi một bên chết
2
2
2
3
4
4
4
5
2. Nguyên tắc chia tài sản giữa vợ và chồng
2.1. Trong thời kỳ hôn nhân
2.2. Trong trường hợp vợ chồng ly hôn
2.3. Khi một bên chết trước hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết
3. Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản
3.1. Trong thời kỳ hôn nhân
3.2. Trường hợp vợ chồng ly hôn
3.3. Khi một bên chết trước hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết
III. Thực tiễn áp dụng quy định chia tài sản của vợ chồng và một
5
trường hợp chia tài sản của vợ chồng – những nét tương đồng và khác biệt”.
B.NỘI DUNG
I.Khái niệm chung về chế độ tài sản của vợ chồng.
1.Khái niệm chế độ tài sản của vợ chồng.
Chế độ tài sản của vợ chồng bao gồm các quy định về vấn đề sở hữu tài sản
của vợ chồng; căn cứ xác lập tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng; quyền
và nghĩa vụ của vợ chồng đối với các loại tài sản đó; các trường hợp và nguyên
tắc chia tài sản chung của vợ chồng... được quy định cụ thể trong Luật Hôn nhân
và gia đình năm 2000 ( điều 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33 ).
2.Nội dung xác định chế độ tài sản của vợ chồng.
2.1. Căn cứ xác định tài sản của vợ chồng .
Căn cứ xác định tài sản riêng của vợ chồng được quy định cụ thể trong khoản
1, Điều 32 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.
Điều 32. Tài sản riêng của vợ, chồng
1. Vợ, chồng có quyền có tài sản riêng.
Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết
hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn
nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại khoản 1
Điều 29 và Điều 30 của Luật này; đồ dùng, tư trang cá nhân.
Còn tài sản chung của vợ chồng thì được quy định tại khoản 1, Điều 27 Luật
Hôn nhân và gia đình năm 2000:
Điều 27. Tài sản chung của vợ chồng
1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập
do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác
của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung
hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài
sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của
vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn,
được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thoả thuận.
thể thỏa thuận chia tài sản chung; việc chia tài sản chung phải lập thành văn
bản; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Việc chia tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ
về tài sản không được pháp luật công nhận.
Theo định trên thì chia tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhân tồn tại được
tiến hành trong các trường hợp sau:
- Trong trường hợp vợ, chồng đầu tư kinh doanh riêng: xuất phát từ việc tôn
trọng quyền tự do kinh doanh của cá nhân, nếu một trong hai vợ chồng đầu tư
3
kinh doanh thì có thể chia tài sản chung của vợ chồng, tạo điều kiện cho vợ
chồng có tài sản riêng làm vốn kinh doanh.
- Trường hợp vợ, chồng phải thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng: Nếu vợ, chồng
phải thực hiện nghĩa vụ dân sự mà họ không có tài sản riêng hoặc tài sản riêng
không đủ để thực hiện nghĩa vụ thì vợ, chồng có thể chia tài sản chung để giúp
người có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ của mình.
- Trường hợp có lý do chính đáng khác: Việc xác định có lý do chính đáng
khác để chia tài sản chung của vợ, chồng khi hôn nhân tồn tại là xuất phát từ lợi
ích của gia đình, lợi ích của vợ chồng hoặc của người thứ ba. Vì vậy, lý do chính
đáng khác để chia tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhân tồn tại tùy từng
trường hợp có khác nhau.
1.2. Căn cứ chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn.
Để chia tài sản khi ly hôn thì phải có sự kiện ly hôn giữa vợ và chồng, đó là
khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn ( ly hôn do một bên yêu cầu ), hoặc cả hai vợ
chồng đều có yêu cầu ly hôn ( thuận tình ly hôn ).
Điều 89. Căn cứ cho ly hôn
1. Tòa án xem xét yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống
chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Tòa án
quyết định cho ly hôn.
2. Việc chia tài sản chung được giải quyết theo các nguyên tắc sau đây:
a) Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét
hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào
việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này. Lao động của vợ, chồng trong gia
đình được coi như lao động có thu nhập;
b) Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên hoặc đã thành
niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và
không có tài sản để tự nuôi mình;
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề
nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
d) Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật hoặc theo giá trị; bên
nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng
thì phải thanh toán cho bên kia phần giá trị chênh lệch.
3. Việc thanh toán nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng do vợ, chồng thỏa
thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết.
Việc chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn phải theo đúng nguyên tắc được quy
định tại Điều 95. Ngoài ra, tùy vào từng trường hợp cụ thể mà áp dụng các quy
định tại Điều 96, 97, 98 Luật Hôn nhân và gia đình.
2.3. Nguyên tắc chia tài sản giữa vợ chồng khi một bên chết hoặc bị Tòa án
tuyên bố là đã chết.
Theo quy định tại Điều 31 Luật hôn nhân và gia đình, Điều 676 Bộ luật
Dân sự năm 2005 quyền thừa kế tài sản của nhau giữa vợ, chồng khi một bên
chết được quy định như sau:
Khi vợ hoặc chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì bên còn sống
quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định
người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác
quản lý di sản. ( khoản 2, điều 31 ).
Như vậy, khi một bên vợ hoặc chồng chết trước, người còn sống sẽ được thừa kế
tài sản của vợ chồng mình đã chết. Vợ, chồng thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo
5
dứt, nó vẫn đương nhiên tồn tại và là sở hữu chung hợp nhất. Sở hữu chung hợp
nhất của vợ chồng sau khi chia một phần tài sản chung sẽ gồm:
- Phần tài sản chung của vợ chồng chưa chia
- Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ những tài sản này
6
- Tài sản mà vợ chồng được tặng cho chung, được thừa kế chung sau khi
chia tài sản chung. Vì quan hệ Hôn nhân vẫn đang tồn tại nên tài sản
mà vợ chồng được tặng cho chung, được thừa kế chung là tài sản thuộc
sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng.
- Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi chia tài sản chung.
- Quyền sử dung đất mà mỗi bên vợ hoặc chồng có được sau khi chia tài
sản chung do được nhà nước giao, giao khoán, hoặc được thuê của nhà
nước… Theo quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình và các
Điều 24, 25 Nghị định số 70/ND-CP thì đây là tài sản chung của vợ
chồng. Tuy nhiên, sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thì
quyền sử dụng đất mà mỗi bên vợ chồng có được chỉ là tài sản chung
của vợ chồng nếu nó không liên quan đến ly do chia tài sản chung của
vợ chồng.
- Vấn đề tài sản mà vợ chồng làm ra sau khi chia tài sản chung được quy
định tại khoản 2, Điều5 Nghị định 70/ND-CP: “Thu nhập lao động,
hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của
mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ chồng, trừ
trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác”. Theo em quy định này là
chưa hợp lý, mâu thuẫn với quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và gia
đình 2000.
Việc khôi phục chế độ tài sản chung chỉ có thể đặt ra khi vợ chồng đã chia
tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Việc khôi phục chế độ tài sản chung phải
bảo dưỡng, nâng cấp, cải tạo, sửa chữa nhà ( Điều 99 ).
Vấn đề chia quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn, bên cạnh Luật Đất
đai, Bộ luật Dân sự năm 2005 của Nhà nước ta từ Điều 679 đến Điều 732 đã quy
định về chuyển quyền sử dụng đất. Điều 97 Luật Hôn nhân và gia đình đã quy
định việc chia quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn.
c, Giải quyết vấn đề cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn.
Điều 60 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Khi ly hôn, nếu bên
khó khăn, túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng mà có lý do chính đáng thì bên kia
có nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình”. Theo đó, nghĩa vụ cấp dưỡng
đặt ra đối với cả hai vợ chồng nếu đảm bảo các quy định về điều kiện cấp
dưỡng.
d, Hậu quả pháp lý về con cái.
Điều 92 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: Việc trông nom, chăm sóc, giáo
dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn:
1.Sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo
dục,nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng
lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự
nuôi mình.
Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của
mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu không thỏa thuận được thì Tòa án
8
quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt
của con; nếu con từ đủ chín tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
Về nguyên tắc, con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên
không có thỏa thuận khác.
3.3. Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản khi một bên chết trước hoặc
bị Tòa án tuyên bố là đã chết.
trọng đến đời sống gia đình, đến việc trông nom, nuôi dưõng, chăm sóc, giáo
9
dục con chưa thành niên, con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân
sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
2.Chia tài sản khi vợ chồng ly hôn.
Vấn đề chia quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn đã được quy định
trong Luật Đất đai và Bộ luật Dân sự năm 2005 đã quy định về chuyển quyền sử
dụng đất. Tuy nhiên Tòa án chưa có những hướng dẫn cụ thể, nên các trường
hợp vợ chồng ly hôn liên quan đến giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất còn
phải xử nhiều lần. Cấp dưỡng là vấn đề đặc biệt khi quan hệ hôn nhân đã chấm
dứt nên pháp luật cần có những quy định đầy đủ và cụ thể hơn về quyền yêu cầu
cấp dưỡng, thời điểm yêu cầu cấp dưỡng, thời gian cấp dưỡng,… Qua đó sễ tạo
cơ sở pháp lý trong việc giải quyết yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ, chồng khi ly hôn
một cách hợp tình hợp lý.
3.Chia tài sản khi một bên vợ chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã
chết.
Thực tế áp dụng cac quy định của pháp luật về chia tài sản trong trường
chưa có nhiều quy định cụ thể mà, các Nghị định, văn bản pháp luật khác
cũng chứa ít quy định cụ thể. Vậy các nhà làm luật nên quy định cụ thể và
đầy đủ hơn về trường hợp này để việc giải quyết được dễ dàng hơn, tránh
những tranh chấp xảy ra.
10
C. KẾT LUẬN
Trước tình hình thực tế về chia tài sản giữa vợ chồng trong những năm
12