Các trường hợp xác định là con chung của vợ chồng và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về vấn đề này - Pdf 35

Các trường hợp xác định là con chung của vợ chồng và một số giải pháp hoàn
thiện pháp luật về vấn đề này
A MỞ BÀI
Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quyết
định hình thành và giáo dục nhân cách. Tuy nhiên, với xu thế cũng như nhịp sống
hiện đại, con người dường như quên mất vai trò của mỗi thành viên trong các mối
quan hệ trong gia đình. Trong đó, mối quan hệ giữa cha mẹ con cái là mối quan hệ
mất thiết, pháp luật có quy định khá cụ thể trong việc xác định con chung của vợ
chồng tuy nhiên còn nhiều vướng mắc trong quá trình thực hiện. Vì vậy, em xin
chọn đề tài: “Các trường hợp được xác định là con chung của vợ chồng và một số
giải pháp hoàn thiện pháp luật về vấn đề này” để làm bài tập lớn lần này.
Với kiến thức cũng như tài liệu còn hạn chế nên bài viết có thể còn nhiều thiếu sót,
em mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy, cô giáo để bài làm được hoàn thiện
hơn. Em xin chân thành cảm ơn!.
B NỘI DUNG
I Cơ sở lý lí luận
1, Khái niệm con chungcủa vợ chồng
Theo từ điển Luật học, xác định con chung là ”con sinh ra trong thời kì hôn nhân
hoặc do người vợ có thai trong thời kì hôn nhân. Con sinh ra trước ngày ĐKKH và
được cha mẹ thừa nhận cũng là con chung của vợ chồng. Trong trường hợp cha
hoặc mẹ không thừa nhận, nhưng có chứng cứ để Tòa án căn cứ ra quyết định xác
định là con hai người thì cũng là con chung của vợ chồng. Con sinh ra mà cha mẹ
không có ĐKKH, không sống chung với nhau như vợ chồng, trên thực tế thì vẫn là
con chung của hai người và thường được gọi là con ngoài giá thú. Con nuôi do vợ


chồng cùng nhận nuôi cũng là con chung của vợ chồng…”.Khái niệm này mang
tính khoa học nhưng chỉ mới dung lại ở dạng liệt kê các trường hợp xác định là con
chung chưa mang tính khái quát.
Khái niệm “con chung” là một khái niệm rộng, có thể là con chung của vợ chồng
hoặc con chung của hai người không phải là vợ chồng.Tuy nhiên, điều kiện đê xem

Thời kì hôn nhân được coi là một căn cứ quan trọng nhất để xác định tính đương
nhiên hoặc không đương nhiên trong việc xác định con chung của vợ chồng. khi hai
bên nam nữ xác lập quan hệ hôn nhân thì việc xác định con chung của vợ chồng
được căn cứ trước hết trên cơ sở pháp lý, tức là căn cứ vào thời kỳ hôn nhân. Trong
trường hợp này căn cứ về mặt huyết thống không còn mang ý nghĩa quyết định
trong việc xác định con chung của vợ chồng nữa. căn cứ huyết thống được coi là sự
mặc nhiên thừa nhận trong việc xác định con chung của vợ chồng nhằm ổn định các
mối quan hệ gia đình và đảm bảo các lợi ích chung của xã hội.
Khi hai bên nam nữ kết hôn với nhau và trở thành vợ chồng, giữa họ sẽ phát sinh
các quyền và nghĩa vụ pháp lý theo quy định của pháp luật như nghĩa vụ thủy
chung, thương yêu, quý trọng, chăm sóc…giữa hai bên đều xuất phát từ mong
muốn thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần, thwucj hiện tốt chức năng gia
đình trong đó có chức năn sinh đẻ. Vì vậy, trong thời kỳ hôn nhân người vợ thu thai
và sinh con là một tất yếu khách quan. Thậm chí, việc người vợ đã thụ thai trước
thời kỳ hôn nhân hoặc sinh con trước thời kỳ hôn nhân cũng là một vấn đề trở nên
bình thường trong xã hội hiện nay. Mặt khác, pháp luật cũng đặt ra nhiều cơ chế để
đảm bảo việc xác định con chung của vợ chồng được chính xác. Pháp luật HNVGĐ
đã quy định nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng, quy định những chế tài đối với
việc kết hôn vi phạm nguyên tắc này, chê tài trong Luật HNVGĐ, Luật hành chính,
Luật hình sự...điều đó là tăng thêm ý thức trách nhiệm của vợ chồng đối với nhau


và đối với gia đình. Nguyên tắc suy đoán pháp lý xác định cha, mẹ, con được đặt ra
để nhằm ổn định quan hệ cha mẹ và con cũng như giữa các thành viên trong gia
đình. Do vậy, mỗi khi người vợ mạng thai hoặc sinh con, người vợ không cần phải
chúng minh chồng mình là cha của đứa trẻ mà pháp luật mặc nhiên thừa nhận đứa
trẻ đó là con chung của vợ chồng. Tuy nhiên, việc xác đinh thời điểm thụ thai và
mạng thai chỉ có tính tương đối. trong cuộc sống hiện đại ngày nay với sự đa dạng
và phức tạp của các mối quan hệ xã hội nên thực tế người vợ có thai hoặc sinh con
trong thời kì hôn nhân chưa chắc đã là con chung của vợ chồng. Điều này cũng ảnh

ra được ai sẽ là người có trách nhiệm nuôi dưỡng đưa trẻ. Thứ hai, việc xác định
con chungc ủa vợ chồng tạo nên những môi quan hệ thiêng liêng trong gia đình, từ
đó xác định quyền và nghĩa vụ cụ thể của các chủ thể
- Cơ sở để chủ thể thực hiện các quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con theo pháp
luật. Mặt khác, việc xác định con chung không chỉ liên quan tới mối quan hệ giữa
hai thế hệ mà con liên quan đến các mối quan hệ với các thành viên khác trong gia
đình, do vậy, đó còn là cơ sở để thực hiện các quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể
khác trong gia đình và còn liên quan đến những chế định pháp lý khác
- Là căn cứ pháp lý để cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp
phát sinh như: giải quyết các án kiện về ly hôn, chia tài sản thừa kế, thực hiện nghĩa
vụ cấp dưỡng…
II Các trường hợp xác định con chung của vợ chồng
1,Con chungcủa vợ chồng khi cha mẹ có hôn nhân hợp pháp (controng giá thú)
Điều 63 Luật HNVGĐ Việt Nam năm 2000 quy định:” Con sinh ra trong thời kỳ
hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ đó là con chung của vợ chồng.


Con sinh ra trước ngày đăng kí kết hôn và được cha mẹ thừa nhận cũng là con
chung của vợ chồng”.
Đây là nguyên tắc suy đoán pháp lý xác định cha, mẹ, con kho cha mẹ có hôn nhân
hợp pháp. Như vậy, con chung của vợ chồng khi cha mẹ có hôn nhân hợp pháp
được xác định trong các trường hợp sau:
Thứ nhất, con được sinh ra trước ngày đăng kí kết hôn và được cha mẹ thừa nhận.
Khi đứa trẻ được sinh ra, vì người mẹ không đang tồn taị một mối quan hệ hôn nhân
hợp pháp, do đó đứa trẻ là con ngoài giá thú. Nhưng khi cha mẹ kết hôn thì đứ trẻ sẽ
trở thành con chung của vợ chồng. Tuy nhiên, không mang tính chất đương nhiên
như những trường hợp khác mà phải có điều kiện là được cha mẹ thừa nhận.đó là
điều kiện để xác định đứa con là con chung của vợ chồng và là con trong giá thú.
Con sinh ra trước ngày ĐKKH được cha mẹ thừa nhận có thể có các trường hợp
sau:

Trong các trường hợp trên, sự thừa nhận của người cha đương nhiên phải có sự thừa
nhận gián tếp của người mẹ đối với quan hệ cha con giữa chồng mình và đứa con
do mình sinh ra. Tuy nhiên, pháp luật về xác định cha, mẹ, con chưa dự liệu trường
hợp nếu con sinh ra trước ngày đăng kí kết hôn, đã thành niên, hoặc chưa thành niên
nhưng đến một độ tuổi nhất định có quyền thể hiện sự đồng ý hay không đồng ý
trong việc thừa nhận quan hệ cha, mẹ và con không? Về trường hợp này, thiết nghĩ
người con cần thể hiện ý chí khi đạt một độ tuổi nhất định. Bởi người con chính là
trung tâm của việc xác định cha, mẹ, con. Trong một chừng mực nhất định người
con có thể nhận thức được quan hệ giữa mình và người nhận mình là con có thực sự
tồn tại về mặt huyết thống hay không. Nếu người con thể hiện ý chí của mình không
đồng ý, không nhận người kia là cha mẹ thì quan hệ cha mẹ và con này vẫn được
xác định theo một thủ tục khác. Như vậy, trường hợp này không giống trường hợp
nhận con nuôi. Trong việc nhận con nuối nếu không có sự đồng ý của người được
nhận làm con nuôi khi đến một độ tuổi nhất định thì đương nhiên quan hệ giữa cha
mẹ và con, gữa người nuôi và người con nuối không phát sinh.


Thứ hai, con do người vợ thụ thai trước ngày ĐKKH và sinh ra trong thời kì hôn
nhân.
Do pháp luật thực định không ấn định một thời gain mang thai tối thiểu bắt buộc kể
từ ngày ĐKKH, mà chỉ quy định con được sinh ra trong thời kì hôn nhân là con
chung của vợ chồng. Do đó bất kì thời điểm nào trong thời kì hôn nhân người vợ
sinh đứa trẻ đều đương nhiên được xác định là con chung của vợ chồng. Đây là điều
kiện hoàn toàn phù hợp trong xã hội hiện nay. Tuy nhien, trong một số trường hợp
đặc biệt, pháp luật về xác định cha, mẹ con cần quy định thời gian mang thai tối
thiểu để đảm bảo cho việc xác định cha, mẹ, con được chính xác hơn. Đó là đối với
trường hợp người chồng hoặc người vợ bị tuyên bố mất tích hoặc tuyên bố chết trở
về .
Thứ ba, con do người vợ thụ thai và sinh ra trong thời kì hôn nhân. Đây là trường
hợp thông thường và phổ biến trong xã hội và được chấp nhận đương nhiên trong

2, Xác định con chung của vợ chồng khi sinh con theo phương pháp khoa học
(PPKH)
Hiện nay, theo pháp luật hiên hành thì cơ sở pháp lý để xác định con chung của vợ
chồng trong trường hợp sinh con theo PPKH còn rất khái quát, chung chung. Việc
xác định con chung của vợ chồng trong trường hợp sinh con theo PPKH không thể
áp dụng triệt để theo nguyên tắc suy đoán pháp lý xác định cha, mẹ, con được quy
định tại Điều 63 Luật HNVGĐ. Theo Điều 63 Luật HNVGĐ năm 2000 quy đinh:
“Việc xác định con chung của vợ chồng sinh ra theo phương pháp khoa học do
Chính phủ quy định” cho nên xác định con chung của vợ chồng trong trường hợp


cặp vợ chồng vô sinh sinh con theo PPKH cũng có những ngoại lệ nhất định gồm
những trường hợp đó là :
Thứ nhất, trường hợp thụ thai và sinh ra trong thời kì hôn nhân đương nhiên được
áp dụng trong trường hợp sinh con theo PPKH. Cặp vợ chồng vô sinh được xác
định là cha mẹ của đứa trẻ cho dù việc sinh con đó có sự tham gia của người thứ ba.
Thứ hai, trường hợp thụ thai trong thời kì hôn nhân và sinh ra sau khi hôn nhân
chấm dứt trong một thời hạn luật định tối đa là 300 ngày cũng được áp dựng trong
trường hợp sinh con theo PPKH nhưng cần quy định chi tiết hơn đặc biệt là cần có
những ngoại lệ nhất định.
Do pháp luật Việt Nam không quy định rõ ràng nên vấn đề đặt ra trong trường hợp
chấm dứt hôn nhân thì có thể thực hiện sinh con theo PPKH không. Việc chấm dứt
hôn nhân có thể do vợ hoặc chồng chết , có thể do vợ chồng ly hôn. Nếu người vợ
chết thì đương nhiên chấm dứt sinh con theo PPKH. Nếu người chồng chết hoặc vợ,
chồng ly hôn thì phải xác định dựa vào từng trường hượp cụ thể.Chủ yếu phụ thuộc
vào ý chí của cặp vợ chồng vô sinh và các giai đoạn của quá trình thực hiện kĩ thuật
hỗ trợ sinh sản. Từ đó quyết định có tiếp tục thực hiện việc sinh con theo PPKH nữa
không. Vì điều đó ảnh hưởng tới việc xác định tư cách con chung của vợ chồng.
Pháp luật cần có hướng dẫn cụ thể đối với trường hợp này.
Đối với việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con theo PPKH, pháp luật

có đương nhiên được áp dụng nguyên tắc suy đoán pháp lý xác định cah, mẹ, con
theo quy định tại điều 63 luật HN và GĐ năm 2000 hay không? Do các văn bản
hướng dẫn riêng cho trường hợp này quy định đứa con sinh ra trong trường hợp này
vẫn là con chung của vợ chồng. Khi đứa con đó sinh ra trước ngày cha mẹ đăng kí
kết hôn thì chỉ khi cha mẹ ĐKKH thì mới căn cứ vào giấy chứng nhận kết hôn của
cha mẹ để ghi phần họ tên cha, cũng như gạch bỏ phần con ngoài giá thú trong sổ
ĐKKH nên về nguyên tắc khi cha mẹ chung song như vợ chồng mà không ĐKKH
thì đứa con vẫn là con ngoài giá thú. Vì vậy, không được áp dụng nguyên tắc suy
đoán pháp lý xác định cha, mẹ, con như đối với trường hợp cha mẹ có hôn nhân hợp


pháp. Tuy vậy pháp luật có thể bổ sung tính mặc nhiên thừa nhận tư cách cha, mẹ,
con trong trường hợp cha mẹ chung sống như vợ chồng trước ngày 3/1/1987 mà
không ĐKKH theo một nguyên tắc suy đoán pháp lý tương tự như Điều 63 Luật
HNVGĐ năm 2000 để áp dụng pháp luật được rõ ràng và thống nhất trong thực
tiễn.
III Giảipháp hoàn thiện pháp luật về các trường hợp xác định con chung của vợ
chồng
1, Hoàn thiện pháp luật về chế định xác định con chung của vợ chồng trong luật
HNVGĐ Việt Nam năm 2000 và các văn bản hướng dẫn thi hành
Thứ nhất, cần quy định cụ thể những vấn đề pháp lý liên quan trong việc xác định
con chũng của vợ chồng theo nguyên tắc suy đoán pháp lý quy định tại điều 63 luật
HNVGĐ Việt Nam cần xác định chuẩn xác một số vấn đề quan trọng sau:
- Thời kỳ hôn nhân: trong một số trường hợp đặc biệt pháp luật cần xác định thời
điểm bắt đầu tính thời kì hôn nhân
+ đối với trường hợp kết hôn trái pháp luật mà không máy móc xử hủy thì thời kỳ
kết hôn được bắt đầu xác định từ thời điểm hai bên không còn vi phạm điều kiện kết
hôn nữa. Việc xác định thời điểm này có thể do tòa án xác định ngay trong quyết
định của tòa án, sau đó đương sự có thể yêu cầu UBND ghi chú lại thời kỳ kết hôn
cho phù hợp. Việc xác định như vậy có ý nghĩa quan trọng, đảm bảo cho đứa trẻ

vòng 300 ngày kể từ khi người chồng chết hoặc từ ngày bản án, quyết định của tòa
án xử cho vợ chồng ly hôn có hiệu lực pháp luật thì được xác định là con chung của
hai người”. Như vậy khoảng thời gian mang thai tối đa sau khi hôn nhân chấm dứt
trước pháp luật là 300 ngày sẽ không hoàn toàn phù hợp đối với một số trường hợp
đăc biệt như: trường hợp ly hôn với người mất tích hoặc một trong hai vợ chồng bị
tuyên bố là đã chết. Bởi đôi khi thời điểm xác định một người chết về mặt pháp lý
không trùng với thời điểm chết về mặt thực tế. Cho nên không thể thời gian 300


ngày kể từ ngày chấm dứt thời kỳ hôn nhân để suy đoán là con chung của vợ chồng
được. Pháp luật cấn quy định cụ thể cách xác định với từng trường hợp ngoại lệ
này. Ngoài việc quy định thời gian mang thai tối đa, pháp luật cũng cần quy định
thời gian mạng thai tối thiểu, tạo cơ sở cho việc xác định được khoảng thời gian
người phụ nữa có thể mang thai đứa trẻ.
Thứ hai, đối với trường hợp con chung là con sinh theo phương pháp khoa học:
- Pháp luật cần có hướng dẫn cụ thể đối với trường hợp cặp vợ chồng vô sinh áp
dụng phương pháp hỗ trợ sinh sản thì phải là vợ chồng hợp pháp. Quy định này
nhằm đảm bảo sự ràng buộc về quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa vợ với chồng cũng
như việc thực hiện biện pháp sinh con theo PPKH. Đồng thời, quy định dó cũng hạn
chế được tình trạng lợi dụng việc sinh con theo PPKH để thực hiện các hành vi vi
phạm pháp luật.
- Khi bày tỏ ý chí tự nguyện sinh con theo PPKH bằng văn bản thì cặp vợ chồng vô
sinh cũng như người phụ nữa độc thân cần tuân thủ đúng các điều kiện và các quy
định nghiêm ngặt về y tế. Đối với trường hợp người chồng trong cặp vợ chồng vô
sinh bị chết, mất tích mà trước đó họ đã thể hiện rõ ý chí tự nguyện. Nếu tinh trùng
của nguời chồng vẫn được lưu giữ và người vợ vẫn muốn tiếp tục thực hiện việc
sinh con đó. Trong trường hợp này vẫn nên áp dụng biện pháp sinh con theo PPKH
để đảm bảo quyền lợi chính đáng cho họ.
- Pháp luật nên áp dụng điều kiện hạn chế ly hôn trong trường hợp hai vợ chồng
đang tiến hành sinh con theo PPKH, vì điều này sẽ ảnh hưởng lớn tới quyền lợi của

yêu cầu phải có chứng cứ khoa học về quan hệ huyết thống để xác định con chung
trong trường hợp này để đảm bảo tính chất pháp lý của xác định con chung và đề


cao nghĩ vụ chứng minh không chỉ trong thủ tục tư pháp mà còn trong thủ tục hành
chính.
- Hiện nay, Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em không còn tồn tại, vì vậy để đảm
bảo quyền lợi của trẻ em được bảo vệ một cách tốt nhất trong việc xác định con
chung, pháp luật cần quy định cho cơ quan có thẩm quyền để thực hiện quyền yêu
cầu xác định con chung thay thế tư cách của Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em đã
giải thể.
2, Các giải pháp khác:
- Ngành Tư pháp cần đổi mới cơ chế thu hút, tuyển dụng những người có tâm
huyết, đủ đức đủ tài vào làm việc ở cơ quan Tư pháp. Chỉ đạo các địa phương bổ
sung biên chế, bố trí cán bộ đủ tiêu chuẩn đủ tiêu chuẩn đảm nhiệm công tác tư
pháp. Đề cao trách nhiệm các cán bộ tư pháp-hộ tịch khi giải quyết công việc, đồng
thời cần có thái độn lịch sự, nghêm túc, khiêm tốn phục vụ nhân dân tránh tình
trạng hách dịch, cửa quyền gây khó khan phiền hà cho người dân.
- Ngành Tư pháp cũng cần phải có công tác tập huấn nhằm nâng cao trình độ
chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ Thẩm phán chuyên sâu việc xét các vụ án hôn
nhân và gia đình. Có kế hoạch tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ tư pháp-hộ tịch
của UBND các xã nâng cao trình độ nhận thức, am hiểu pháp luật để giải quyết các
vụ việc này được chính xác.
- Cần tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giải thích pháp luật về Hôn nhân
và Gia đình cho người dân hiểu biết hơn.
- Cần có chế độ chính sách tiền lương phù hợp dành cho cán bộ tư pháp. Đối với
những cán bộ đạt được thành tích xuất sắc trong công việc cần khen thường kịp thời
để khích lệ tinh thần. Đồng thời cũng có các biện pháp xử lý nghiêm minh những cá
nhân có hành vi vi phạm pháp luật.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status