1
Đề tài: Hãy xác định quyền và nghĩa vụ nhân thân và tài sản của các bên nam
nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn khi họ mong muốn
chấm dứt việc sống chung.
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
NỘI DUNG
I.
II.
Khái niệm
Quan hệ chung sống như vợ chồng giữa các bên nam nữ không đăng
ký kết hôn
1. Quan hệ chung sống như vợ chồng vi phạm điều kiện về nội dung kết
hôn
2. Quan hệ chung sống như vợ chồng không vi phạm điều kiện về nội dung
kết hôn
III. Xác định quyền và nghĩa vụ nhân thân và tài sản của các bên nam nữ
chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn khi họ muốn
chấm dứt việc chung sống.
1. Xét góc độ pháp lý
2. Chấm dứt quan hệ chung sống như vợ chồng
IV. Hiện trạng và giải pháp của nhà làm luật
KẾT THÚC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
2
LỜI NỚI ĐẦU
hôn. Quan hệ ấy có thể được xác lập không phù hợp với các điều kiện về nội
dung kết hôn, nhưng cũng có thể hoàn toàn phù hợp với các điều kiện ấy.
Quan hệ chung sống như vợ chồng giữa các bên nam nữ không
II.
đăng ký kết hôn
1. Quan hệ chung sống như vợ chồng vi phạm điều kiện về nội dung
kết hôn
a) Sự hình thành quan hệ: có thể được hình thành từ một trong hai cách
- Hoặc đó là sự duy trì quan hệ như vợ chồng giữa những người kết hôn
trái pháp luật sau khi hôn nhân bị huỷ theo một bản án hoặc quyết định của
Toà án;
- Hoặc đó là sự xác lập quan hệ vợ chồng mặc nhiên giữa những người
biết rõ rằng họ không có quyền đăng ký kết hôn nhưng vẫn muốn chung sống
như vợ chồng.
b) Hậu quả pháp lý
Quan hệ vợ chồng vi phạm các điều kiện về nội dung kết hôn là quan hệ
vợ chồng trái pháp luật, Tuy nhiên, việc xác lập và duy trì quan hệ đó chỉ bị
chế tài về hành chính hoặc hình sự trong một số trường hợp - loạn luân, vi
phạm chế độ một vợ một chồng, tảo hôn, cưỡng ép kết hôn,... như đã biết.
Trong khung cảnh của luật thực định, chỉ có một điều chắn chắn: giữa những
người này và con cái luôn có quan hệ cha mẹ và con, quan hệ ấy làm phát sinh
4
tất cả các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con theo đúng pháp luật hôn nhân
và gia đình.
2. Quan hệ chung sống như vợ chồng không vi phạm điều kiện về
nội dung kết hôn
thậm chí còn có tác dụng hạ thấp giá trị của mối quan hệ hôn nhân mà mình
đã xác lập (thực tế) từ lâu. Có người khác, do sự lạc hậu trong nhận thức, cho
rằng việc đăng ký kết hôn chỉ là thủ tục mang tính hình thức, rằng chính
những nghi thức kết hôn được thiết lập trong tục lệ mới là những thủ tục
mang tính đạo đức và thực sự có giá trị trong việc xác lập quan hệ hôn nhân
dưới mắt cộng đồng.
1. Xét góc độ pháp lý
a) Quan hệ giữa hai người chung sống với nhau như vợ chồng:
Về nhân thân: không phải là vợ chồng theo nghĩa của luật định, những
người có quan hệ như vợ chồng không có nghĩa vụ chung sống và các nghĩa
vụ đặc trưng của quan hệ vợ chồng: nghĩa vụ yêu thương, chung thuỷ, đùm
bọc, hỗ trợ, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Mỗi người có các quyền và nghĩa vụ
đối với người kia theo luật chung, như hai cá nhân bình thường.
Về phương diện tài sản: những người chung sống như vợ chồng không
có tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất. Trong thời gian chung sống, tài sản
do một người tạo ra thuộc quyền sở hữu của người đó; tài sản được hai người
cùng tạo ra thuộc sở hữu chung theo phần giữa họ. Các nghĩa vụ tài sản do
một người xác lập chỉ ràng buộc người đó. Ngay cả trong trường hợp nghĩa
vụ tài sản được xác lập nhằm đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của gia đình, thì,
trên nguyên tắc, nghĩa vụ cũng chỉ ràng buộc chính người xác lập giao dịch.
Việc sử dụng, định đoạt tài sản chịu sự chi phối của luật chung về quyền sở
hữu: mỗi người có độc quyền sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình; việc
sử dụng định đoạt tài sản chung được thực hiện theo nguyên tắc nhất trí.
b) Quan hệ giữa hai người chung sống với nhau như vợ chồng và người
thứ ba
6
Đối với người thứ ba, quan hệ chung sống như vợ chồng mà không có
đăng ký kết hôn không phải là quan hệ vợ chồng. Do đó, các giao dịch mà
không chỉ một người, bởi, như sẽ thấy, mức cấp dưỡng được tính dựa trên
nhu cầu của gia đình của người được cấp dưỡng chứ không chỉ của cá nhân
người này.
c) Quan hệ giữa hai người chung sống với nhau như vợ chồng và con cái
*Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của con cái: quan hệ cha mẹ-con cái
không bị ảnh hưởng bởi việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ chung sống
giữa cha, mẹ cũng không lệ thuộc vào tính chất của quan hệ chung sống giữa
cha và mẹ. Dù cha, mẹ có kết hôn hay không kết hôn, dù cha và mẹ còn chung
sống hay đã chia tay với nhau, các quyền và nghĩa vụ hỗ tương giữa cha mẹ
và con vẫn tồn tại. Bởi vậy, những người chung sống như vợ chồng mà không
đăng ký kết hôn có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con cái và
ngược lại, theo đúng các quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.
*Xác lập quan hệ cha, mẹ - con: Trong trường hợp có tranh chấp về việc
xác lập quan hệ cha mẹ-con, sự suy đoán của luật trong việc xác định cha, mẹ,
quy định tại Luật hôn nhân và gia đình Điều 63 khoản 1, không được áp dụng
đối với con sinh ra từ quan hệ chung sống như vợ chồng. “Con sinh ra trong
thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ đó là con chung của
vợ chồng”. Giữa những người chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết
hôn không có “thời kỳ hôn nhân” theo định nghĩa của luật. Tuy nhiên, nếu
“thời kỳ hôn nhân” bị xoá sổ theo một bản án hoặc quyết định huỷ việc kết hôn
trái pháp luật, thì con sinh ra trong thời kỳ giữa ngày đăng ký kết hôn trái
pháp luật và ngày có bản án hoặc quyết định của Toà án huỷ việc kết hôn ấy
hoặc do người mẹ có thai trong thời kỳ ấy nên được suy đoán là con chung
của hai người, như một trường hợp ngoại lệ.
8
*Trường hợp nuôi con nuôi: Theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000,
Điều 68 khoản 2, một người chỉ có thể làm con nuôi của một người hoặc của
cả hai người là vợ chồng. Những người chung sống như vợ chồng mà không
thuộc về người kia có quyền yêu cầu hoàn lại phần giá trị gia tăng đó theo
đúng các quy định về hiệu lực của tình trạng được lợi về tài sản mà không có
căn cứ pháp luật.
Việc phân chia có thể được thực hiện theo sự thoả thuận
giữa hai bên. Trong trường hợp quan hệ như vợ, chồng chấm dứt do có người
chết, thì người còn sống thoả thuận việc phân chia với những người thừa kế
của người chết. Nếu giữa các bên không có sự thoả thuận cần thiết, thì một
bên hoặc cả hai bên có thể yêu cầu Toà án giải quyết. Việc giải quyết của Toà
án sẽ được thực hiện trên cơ sở áp dụng các quy định liên quan đến việc thanh
toán tài sản trong trường hợp huỷ hôn nhân trái pháp luật (Luật hôn nhân và
gia đình năm 2000 Điều 87).
c) Quyền và nghĩa vụ đối với con cái:
Luật có quy định chi tiết việc giải quyết vấn đề thực hiện quyền và nghĩa
vụ của cha mẹ đối với con cái trong trường hợp ly hôn. Nếu quan hệ hôn nhân
giữa cha mẹ bị huỷ do kết hôn trái pháp luật, thì vấn đề con cái cũng được
giải quyết như trong trường hợp cha mẹ ly hôn (Luật hôn nhân và gia đình
năm 2000 Điều 17 khoản 2). nếu hôn nhân thực tế chấm dứt trong lúc cả hai
bên đều còn sống, Thông thường, khi hai bên chung sống như vợ chồng quyết
định chấm dứt quan hệ, thì giữa họ cũng có được sự thoả thuận cần thiết về
việc trông giữ các con chưa thành niên hoặc đã thành niên mà không có khả
năng lao động. Nếu giữa các bên không đạt được sự thoả thuận đó, theo yêu
cầu của họ, Toà án giải quyết bằng cách áp dụng các quy định liên quan đến
quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con cái sau khi ly hôn (Luật hôn nhân và
gia đình năm 2000 Điều 87, dẫn chiếu đến khoản 2 Điều 17 của Luật).
IV . Hiện trạng và giải pháp của nhà làm luật
10
Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến
ngày 01/01/2001 mà có đủ điều kiện đăng ký kết hôn theo quy định của Luật
này, thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày Luật
này có hiệu lực cho đến ngày 01/01/2003; trong thời gian này mà họ không
đăng ký kết hôn nhưng có yêu cầu ly hôn, thì Toà án áp dụng các quy định về
ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết; từ sau ngày
01/01/2003 mà họ không đăng ký kết hôn, thì pháp luật không công nhận họ
là vợ chồng;
Kể từ ngày 01/01/2001 trở đi, trừ trường hợp quy định tại điểm a và
điểm b khoản 3 của Nghị quyết này, nam và nữ chung sống với nhau như vợ
chồng mà không đăng ký kết hôn, đều không được pháp luật công nhận là vợ
chồng; nếu có yêu cầu ly hôn, thì Toà án thụ lý và tuyên bố không công nhận
quan hệ vợ chồng; nếu có yêu cầu về con và tài sản, thì Toà án áp dụng khoản
2 và khoản 3 Điều 17 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết.
KẾT THÚC
Thực tế có rất nhiều trường hợp nam nữ mong muốn xác lập quan hệ
vợ chồng đã chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết
hôn, hoặc nhiều trường hợp nam nữ chỉ mong muốn chung sống như vợ
chồng với suy nghĩ “sống thử”. Xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau
như: do phong tục, tập quán; do xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu
hóa đã góp phần mang văn hóa nước ngoài du nhập vào Việt Nam. Trong xu
thế phát triển kinh tế, văn hóa của nước ta hiện nay, việc chung sống như vợ
chồng vẫn sẽ tồn tại, thậm chí có thể có chiều hướng gia tăng. Điều này sẽ gây
12
ra những tác động lớn đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ giữa các bên
trong quan hệ chung sống như vợ chồng và những người có liên quan.