MỘT SỐ TÌNH HUỐNG THỰC TẾ VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ NHÂN THÂN, TÀI SẢN CỦA TRƯỜNG HỢP CÁC BÊN CHUNG SỐNG NHƯ VỢ CHỒNG. - Pdf 28

Giả Thị Tố Sương – MSSV 352113 Bài tập học kì môn Luật hôn nhân và gia đình
MỤC LỤC
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI TRƯỜNG
HỢP NAM NỮ CHUNG SỐNG NHƯ VỢ CHỒNG.
II. QUYỀN VA NGHĨA VỤ NHÂN THÂN, TÀI SẢN CỦA CÁC BÊN
TRONG TRƯỜNG HỢP CHUNG SỐNG NHƯ VỢ CHỒNG.
1. Quyền và nghĩa vụ về nhân thân.
2. Quyền và nghĩa vụ về tài sản.
3. Nghĩa vụ cấp dưỡng.
4. Quyền thừa kế tài sản chung.
III. MỘT SỐ TÌNH HUỐNG THỰC TẾ VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ NHÂN
THÂN, TÀI SẢN CỦA TRƯỜNG HỢP CÁC BÊN CHUNG SỐNG NHƯ VỢ
CHỒNG.
1.Tình huống thứ nhất
a) Tình huống
b) Giải quyết tình huống
2. Tình huống thứ hai
a) Tình huống
b) Giải quyết tình huống
IV. MỞ RỘNG VỀ THỰC TIỄN HIỆN NAY CỦA VẤN ĐỀ NÀY.
C. KẾT THÚC VẤN ĐỀ.
BÀI LÀM
A.ĐẶT VẤN ĐỀ
1
Giả Thị Tố Sương – MSSV 352113 Bài tập học kì môn Luật hôn nhân và gia đình
Hôn nhân là cơ sở để hình thành gia đình – tế bào của xã hội. Gia đình là một
trong những thể chế cơ bản cuẩ xã hội. Gia đình ra đời, tồn tại và phát triển
trước hết là nhờ nhà nước thừa nhận hôn nhân của đôi nam nữ, đồng thời quy
định quyền và nghĩa vụ pháp lí giữa họ. Nhà nước thừa nhận hôn nhân bằng sự

hôn do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp và giấy chứng nhận kết hôn đó
phải đang có hiệu lực. Trong trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng tuy
không có giấy chứng nhận kết hôn nhưng vấn được công nhận là hôn nhân thực
tế thì các bên nam nữ cũng được coi là người đang có vợ hoặc có chồng, do đó
nếu một trong hai bên lại đi kết hôn với người khác thì việc kết hôn của họ bị
coi là trái pháp luật. Toà án có quyền huỷ việc kết hôn trái pháp luật đó khi có
yêu cầu.
Kể từ ngày Luật hôn nhân 2000 có hiệu lực, nhà nước ta chỉ công nhận nam nữ
là vợ chồng khi họ được các cơ quan đăng kí két hôn cấp giấy chứng nhận kết
hôn. Theo nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 20/10/1988 của hội đồng thẩm
phán toand án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn thi hành Luật HN&GĐ năm
1986 thì công nhận việc họ chung sống
Đó là hợp pháp. Như vậy, uan điểm của hai văn bản luật có khác nhau:
-Trường hợp nam nữ chung sống nhưu vợ chồng xác lập trước ngày 3/1/1987
mà chưađăng kí kết hôn thì được khuyến khích đăng kí kết hôn; trường hợp
có yêu cẩu li hôn thì Toà án thụ lí giải quyết việc li hôn.
-Nam nữ chung sống như vợ chồng từ ngày 3/1/1987 đến ngày 1/1/2001 mà có
đủ điều kiện kết hôn theo luật hôn nhân và gia đình 2000 thì có nghĩa vụ
đăng kí kết hôn trong thời hạn 2 năm kể từ ngày luật HN&GĐ 2000 có hiệu
lực cho đến ngày 1/1/2003. Kể từ ngày 1/1/2003 mà họ mới đăng kí kết hôn
thì quan hệ vợ chồng của họ được xác lập kể từ ngày đăng kí kết hôn. Nếu
sau đó họ yêu cầu li hôn thì Toà án giải quyết theo thủ tục chung về li hôn
(mục 2 điểm c Thông tư liên tichj01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP
gày 3/1/2001)
-Nam và nữ chung sống như vợ chồng kể từ ngày 1/1/2001 trở đi (trừ hai
trường hợp trên) thì pháp luật không công nhận là vợ chồng.
II. QUYỀN VA NGHĨA VỤ NHÂN THÂN, TÀI SẢN CỦA CÁC BÊN
TRONG TRƯỜNG HỢP CHUNG SỐNG NHƯ VỢ CHỒNG
1.Quyền và nghĩa vụ về nhân thân .
Nghĩa vụ và quyền của vợ chồng được pháp luật về hôn nhân và gia đình

việc đăng ký kết hôn còn như một cam kết để vợ chồng cùng có trách nhiệm
xây dựng, giữ gìn gia đình và chung tay nuôi dạy con cái.
Nghị quyết 35/2000/QH10 ngày 9/6/2000 của Quốc hội quy định: Từ ngày
1/1/2001, nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký
kết hôn, đều không được pháp luật chấp nhận là vợ chông .
Tại khoản 3 Nghị quyết 35/2000/QH10 ngày 9/6/2000 của Quốc hội hướng
dẫn về việc thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình quy định về việc áp dụng quy
4
Giả Thị Tố Sương – MSSV 352113 Bài tập học kì môn Luật hôn nhân và gia đình
định tại khoản 1 Điều 11 của luật này được thực hiện như sau:
a. Trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 3/1/1987, ngày
Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực mà chưa đăng ký kết hôn thì
được khuyến khích đăng ký kết hôn; trong trường hợp có yêu cầu ly hôn thì
được Tòa án thụ lý giải quyết theo quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia
đình năm 2000.
b) Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 3/1/1987 đến ngày
1/1/2001, mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này thì có nghĩa
vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực cho
đến ngày 1/1/2003; trong thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn, nhưng có
yêu cầu ly hôn thì Tòa án áp dụng các quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và
gia đình năm 2000 để giải quyết. Từ sau ngày 1/1/2003 mà họ không đăng ký kết
hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng.
c) Kể từ ngày 1/1/2001 trở đi, trừ trường hợp quy định tại điểm a và điểm b
khoản 3 của Nghị quyết này, nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà
không đăng ký kết hôn, đều không được pháp luật chấp nhận là vợ chồng…”.
Như vậy xét ở trường hợp ở đề bài nêu ra thì đều không thuộc điểm a và điểm b
khoản 3 nên họ sẽ không được công nhận là vợ chồng trên thực tế.
2.Quyền và nghĩa vụ về tài sản
Quyền và nghĩa vụ tài sản giữa vợ và chồng bao gồm:quyền sở hữu tài
sản ,quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng và quyền thừa kế. Quyền sở hữu tài sản của

3..Nghĩa vụ cấp dưỡng.
Căn cứ vào điều kiện phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng thì ta thấy nghĩa vụ đó
chỉ phát sinh giữa những người có quan hệ hôn nhân ,huyết thống hoặc nuôi
dưỡng .Quan hệ hôn nhân là quan hệ vợ chồng sau khi đã kết hôn .Quan hệ đó
phải hợp pháp ,tức là phải tuân thủ đầy đủ các điều kiện kết hôn và cấm kết hôn
,có đăng ký kết hôn.Chỉ có hôn nhân hợp pháp mới làm phát sinh ngĩa vụ cấp
dưỡng giữa vợ và chồng.Trong trường hợp đè bài nêu ra là đôi nam nữ sống
chung như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn thì theo luật không phải là
vợ chồng hợp pháp chính vì vậy giữa họ không phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng
đương nhiên.
4.Quyền thừa kế tài sản chung .
Theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 676 Bộ luật Dân sự năm 2005, hàng
thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con
nuôi của người chết. Tuy nhiên, Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:
"Nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thì
không được pháp luật công nhận là vợ chồng". Cụ thể hơn, Thông tư liên tịch
số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 3-1-2001 của Tòa án nhân
dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp nhấn mạnh: "Kể từ sau
ngày 1-1-2003 nam nữ sống chung như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn,
6
Giả Thị Tố Sương – MSSV 352113 Bài tập học kì môn Luật hôn nhân và gia đình
thì theo quy định tại điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 của
Quốc hội, họ không được công nhận là vợ chồng".
Liên quan đến hậu quả pháp lý của việc "không được pháp luật công nhận là vợ
chồng", khoản 3 Điều 17 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: "Tài
sản được giải quyết theo nguyên tắc tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc quyền sở
hữu của người đó; tài sản chung được chia theo thỏa thuận của các bên; nếu
không thỏa thuận được thì yêu cầu tòa án giải quyết, có tính đến công sức đóng
góp của mỗi bên; ưu tiên bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ và con".
Áp dụng trong trường hợp này ,đôi nam nữ sống chung như vợ chồng mà không

b) Giải quyết tình huống
Theo quy định tại Điều 2 Nghị định 77/2001/NĐ-CP ngày 22/10/2001 của
chính phủ quy định chi tiết về đăng ký kết hôn theo Nghị quyết số 35/2000/QH
của Quốc hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình thì: “Những trường
hợp quan hệ vợ chồng xác lập trước ngày 03 tháng 01 năm 1987, mà chưa đăng
ký kết hôn, thì được Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện thuận tiện cho đăng
ký kết hôn. Việc đăng ký kết hôn đối với những trường hợp này không bị hạn chế
về thời gian. Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03 tháng 01
năm 1987 đến ngày 01 tháng 01 năm 2001 mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy
định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn.
Từ sau ngày 01 tháng 01 năm 2003 mà họ không đăng ký kết hôn, thì pháp luật
không công nhận họ là vợ chồng”.
Ở đây chị Xuân và anh Tuấn mình sống chung với nhau mới 6 năm thôi nên
chắc chắn không thể rơi vào trường hợp 2 bạn sống chung với nhau từ trước
ngày 03/1/1987, như vậy, hai bạn sống chung với nhau mà không đăng ký kết
hôn theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định thì sẽ không được pháp luật
công nhận là vợ chồng. Khi pháp luật không công nhận quan hệ vợ chồng của
hai người thì anh Tuấn sẽ không vi phạm pháp luật nếu anh ta sống chung như
vợ chồng với người phụ nữ khác.
Mặc dù hai người không được pháp luật công nhận là vợ chồng nhưng chị Xuân
8


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status