Xác định quyền và nghĩa vụ nhân thân và tài sản của các bên nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng kí kết hôn khi họ mong muốn chấm dứt việc sống chung - Pdf 25

A.Đặt vấn đề
Tình trạng nam nữ chung sống như vợ chồng không đăng kí kết hôn là một
hiện tượng đã và đang tồn tại trong xã hội ta như một hiện thực khách quan. Hiện
tượng này phát sinh và tồn tại trước hết chịu sự tác động bởi các ảnh hưởng của
nền kinh tế thị trường, của lối sống phương tây, của quan niệm tự do các nhân
trong thế hệ trẻ, của trình độ dân trí và ý thức pháp luật trong một bộ phận nhân
dân. Trên thực tế, việc “kết hôn” không đăng kí sẽ làm nảy sinh nhiều vấn đề phức
tạp như sau một thời gian chung sống, các bên đã có con chung, tài sản chung thì
giữa họ phát sinh mâu thuẫn và yêu cầu ly hôn. Vì vậy em lựa chọn đề tài “ Hãy
xác định quyền và nghĩa vụ nhân thân và tài sản của các bên nam nữ chung
sống như vợ chồng mà không đăng kí kết hôn khi họ mong muốn chấm dứt
việc sống chung” để nghiên cứu.
B.Giải quyết vấn đề
I.Khái quát chung về nam nữ chung sống như vợ chồng
1.Khái niệm về nam nữ chung sống như vợ chồng
Hiện nay, tồn tại nhiều cách hiểu về “nam nữ chung sống như vợ chồng”.Theo
quy định tại điểm d mục 2 Thông tư liên tịch của Tòa án nhân dân tối cao, Viện
kiểm 0sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-
BTP ngày 03 tháng 1 năm 2001 thì “ được coi là nam nữ chung sống như vợ chồng
khi thuộc một trong các trường hợp sau:
- Có tổ chức lễ cưới khi về chung sống với nhau
1
- Việc nam nữ về chung sống với nhau được gia đình ( một trong hai bên)
chấp nhận
- Việc nam nữ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng
kiến
- Họ thực sự chung sống với nhau, chăm sóc giúp đỡ nhau, cùng nhau xây
dựng gia đình”
Dưới góc độ pháp lí thì:
“ Nam nữ chung sống như vợ chồng” là trường hợp nam nữ có đủ điều kiện kết
hôn theo quy định của pháp luật nhưng không đăng kí kết hôn. Về nguyên tắc pháp

Đối với các trường hợp nam nữ không đủ điều kiện kết hôn hoặc kết hôn trái
pháp luật, các bên nam nữ đều không đủ điều kiện kết hôn có thể là về độ tuổi, về ý
chí tự nguyện hoặc vi phạm điều cấm của xã hội mà không thế đăng kí kêt hôn
hoặc mặc dù có đăng kí kết hôn nhưng cũng không được công nhận là vợ chồng.
Còn trong trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng, hai bên nam nữ không hề
vi phạm những điều kiện về kết hôn theo quy định của pháp luật. Về nội dung giữa
hôn nhân hợp pháp với và nam nữ chung sống như vợ chồng không có sự khác
nhau. Chính vì vậy, hành vi chung sống như vợ chồng của hai bên là hoàn toàn
không vi phạm pháp luật.
Về mặt hình thức, nam nữ chung sống như vợ chồng là trường hợp nam nữ
chung sống nhưng giữa họ không có Giấy chứng nhận kết hôn do cơ quan đăng kí
3
kết hôn cấp. Điều đó có nghĩa là giữa họ trong quan hệ hôn nhân không có chứng
cứ về mặt pháp lí để khẳng định họ là vợ chồng. Theo quy định của pháp luật, nam
nữ chung sống như vợ chồng không được công nhận là vợ chồng. Nếu đem so sánh
với hôn nhân có đăng kí thì đây là điểm khác biệt cơ bản.
-Trong thời gian chung sống như vợ chồng , hai người thực sự coi nhau là vợ
chồng. Đây là điểm có thế giúp ta phân biệt với trường hợp nam nữ chung sống
tạm bợ. Như đã nói ở trên,về mặt pháp lí, nam nữ chung sống như vợ chồng không
đăng kí kết hôn không được pháp luật công nhận là vợ chồng. Nhưng trên thực tế
bản thân họ đã và đang chung sống với nhau như vợ chồng, thực sự coi nhau là vợ
chồng và thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của vợ chồng với nhau. Tuy
nhiên để đánh giá việc hai người có coi nhau là vợ chồng hay không là thực sự
phức tạp. Bởi lẽ đây là vấn đề thuộc ý thức chủ quan của con người. Để nhận biết
điều đó thực sự là rất khó khăn. Đã có không ít trường hợp sau một thời gian chung
sống, một trong hai người không muốn tiếp tục sống chung rồi đi chung sống hoặc
kết hôn với người khác. Biện minh cho hành vi của mình, họ cho rằng họ chưa bao
giờ coi người kia là vợ là chồng, cuộc sống trước đây chỉ là tạm bợ.Do đó, chỉ có
tình cảm và cách cư xử trong cuộc sống của họ với nhau khi chung sống mới là cơ
sở để khẳng định điều đó.

phúc. Một trong hai bên không được phép kết hôn hoặc chung sống với người
khác.Nếu giữa họ phát sinh mâu thuẫn và yêu cầu chấm dứt quan hệ hôn nhân thì
Tòa án áp dụng các quy định về ly hôn để giải quyết.
5
-Quyền và nghĩa vụ về tài sản
Theo quy định của pháp luật, kể từ thời điểm hai bên nam nữ chung sống với
nhau giữa họ phát sinh quyền sở hữu chung hợp nhất về tài sản. Tài sản chung của
vợ chông gồm tài sản do vợ hoặc do chồng tạo ra, thu nhập về nghề nghiệp và
những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kì hôn nhân, tài sản mà vợ
chồng được thừa kế chung hoặc được cho chung. Theo đó, kể từ thời điểm bắt đầu
cuộc sống chung vợ chồng, mọi thu nhập về nghề nghiệp không phân biệt mức thu
nhập của người này cao, mức thu nhập của người kia thấp, mọi tài sản mà vợ hoặc
chồng tạo ra, những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng, những tài sản mà vợ
chồng được tặng cho chung, được thừa kế chung, những tài sản riêng mà vợ, chồng
nhập vào khối tài sản chung,,, đều là tài sản chung của vợ chồng, Vợ chồng bình
đẳng với nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung. Trên cơ sở
đó, trong trường hợp phải chia tài sản chung hợp nhất thì vợ chồng đều bình đẳng,
được hưởng phần tài sản ngang bằng nhau trong khối tài sản chung.
-Đối với vấn đề cấp dưỡng: Trong trường hợp vợ chồng yêu cầu ly hôn thì vấn
đề cấp dưỡng được đặt ra khi thỏa mãn các điều kiện của cấp dưỡng. Nếu một bên
túng thiếu yêu cầu cấp dưỡng thì bên kia phải cấp dưỡng theo khả năng của mình.
Như vậy, cấp dưỡng là nghĩa vụ gắn liền với nhân thân vợ chồng, không thể
chuyển giao cho người khác.
-Quyền và nghĩa vụ đối với con chung
Cha mẹ có đầy đủ nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật.
Cha mẹ bình đẳng với nhau trong mối quan hệ với con. Cha mẹ có nghĩa vụ chăm
sóc yêu thương nuôi dưỡng, giáo dục các con trở thành những người công dân có
ích cho xã hội. Trong trường hợp cha, mẹ không trực tiếp nuôi con thì phải có
nghĩa vụ đóng phí tổn nuôi con. Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền quản lý tài sản của
6

hạn quy định nói trên mà họ không đăng kí kết hôn thì pháp luật không công nhận
họ là vợ chồng.
3. Trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng kể từ ngày 01/01/2001 trở đi
Nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng kí kết hôn kể từ
ngày 01/01/2001.Theo điểm 3 khoản c Nghị quyết số 35 của Quốc hội:
Kể từ ngày 01/01/2001 trở đi, trừ trường hợp quy định tại điểm a và điểm b
khoản 3 của Nghị quyết này, nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không
đăng kí kết hôn đều không được pháp luật công nhận là vợ chồng; nếu có yêu cầu
ly hôn thì tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng; Nếu có
yêu cầu về con cái, tài sản thì áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 17 của Luật Hôn
nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết.
Như vậy, theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 việc kết hôn không đăng
kí không được thừa nhận. Điều này, thể hiện thái độ kiên quyết của nhà nước ta
trong việc chấm dứt tình trạng “ hôn nhân thực tế”.Quy định này là đúng đắn và
phù hợp bởi vì mọi quy định của pháp luật đều phải được tuân thủ một cách chặt
chẽ, có như vậy mới đảm bảo tính pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Về hậu quả pháp lý của việc xác lập quan hệ hôn nhân không đăng kí kết hôn.
8
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 không thừa nhận việc kết hon không
đăng kí. Theo đó, trường hợp các bên xác lập quan hệ vợ chồng nhưng không đăng
kí khi có yêu cầu ly hôn Tòa án sẽ thực hiện biện pháp:
“Tuyên bố không công nhận họ là vợ chồng”. Đây là một điểm khác so với
Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986. Bởi vì, theo Luật Hôn nhân và gia đình 1986
các bên xác lập quan hệ vợ chồng mà không đăng kí kết hôn thì khi có yêu cầu tòa
án áp dụng biện pháp xử hủy việc kết hôn trái pháp luật. Nhưng theo Luật hôn
nhân và gia đình năm 2000, kết hôn trái pháp luật là trường hợp các bên nam nữ
kết hôn có đăng kí nhưng vi phạm điều kiện kết hôn theo luật định. Vì thế, Luật
Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định hậu quả pháp lý của việc kết hôn trái
pháp luật. Tòa án áp dụng quy định này để giải quyết vấn đề tài sản và con chung
cho các bên nam nữ xác lập quan hệ hôn nhân không đăng kí khi có yêu cầu.

mẹ ly hôn. Vì vậy, khi hai bên nam nữ bị Tòa án tuyên không công nhận là vợ
chồng thì họ vẫn phải có nghĩa vụ đối với con chung. Hai bên có thể thỏa thuận về
việc nuôi dưỡng con, đóng phí tổn nuôi con. Nếu hai bên không thỏa thuận được
tòa án sẽ quyết định giao đứa trẻ cho một trong hai người trực tiếp nuôi dậy, người
kia phải đóng phí tổn nuôi con theo quy định của pháp luật. Trường hợp con nuôi
dưới 3 tuổi, Tòa án sẽ giao cho người mẹ nuôi.
10
Như vậy, có thể nói giải quyết về mặt pháp luật vấn đề “ hôn nhân thực tế” là
quy định quan trọng và cần thiết, tạo cơ sở pháp lý để chúng ta bảo vệ quyền lợi
cho các bên đương sự khi phát sinh tranh chấp. Luật Hôn nhân và gia đình năm
2000.
C.Kết thúc vấn đề
Nam nữ chung sống như vợ chồng đang là vấn đề rất phổ biến ở nước ta hiện
nay. Việc hiểu rõ quyền và nghĩa vụ về nhân thân và tài sản trong trường hợp này
càng cần thiết, đặc biệt trong trường hợp nam nữ muốn chấm dứt việc chung sống
này. Do còn hạn chế về kiến thức nên bài làm của em không tránh khỏi những
thiếu sót, mong nhận được ý kiến đóng góp từ thầy cô để bài làm của em được
hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
11
Danh mục tài liệu tham khảo
1. Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà
Nội,Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội – 2009
2. Bộ môn Luật Hôn nhân và gia đình, “Giải quyết “hôn nhân thực tế” theo
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000”, Đề tài khoa học cấp trường, Trường
Đại học Luật Hà Nội, 2003
3. Vấn đề nam nữ chung sống như vợ chồng dưới góc độ bảo vệ phụ nữ và trẻ
em, Khóa luận tốt nghiệp, Lê Thị Thu Trang.
12
MỤC LỤC


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status