Mục lục
Trang
A.Đặt vấn đề
B.Giải quyết vấn đề
1
I.Khái quát chung về nam nữ chung sống như vợ chồng
1.Khái niệm về nam nữ chung sống như vợ chồng……………………………… 0
2. Đặc điểm của nam nữ chung sống như vợ
chồng……………………………….1
II. Quyền và nghĩa vụ nhân thân và tài sản của các bên nam nữ chung sống như vợ
chồng mà không đăng kí kết hôn khi họ mong muốn chấm dứt việc sống chung
1.Trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 3/1/1987 ( ngày Luật
Hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực)……………………………………… …4
2. Trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 3/1/1987
đến ngày 1/1/2001……………………………………………………………………… …
6
3. Trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng kể từ ngày 01/01/2001 trở
đi………………………………………………………………………………………………7
C.Kết thúc vấn đề
Danh mục tài liệu tham khảo
2
3
A.Đặt vấn đề
Tình trạng nam nữ chung sống như vợ chồng không đăng kí kết hôn là một
hiện tượng đã và đang tồn tại trong xã hội ta như một hiện thực khách quan. Hiện
tượng này phát sinh và tồn tại trước hết chịu sự tác động bởi các ảnh hưởng của
nền kinh tế thị trường, của lối sống phương tây, của quan niệm tự do các nhân
trong thế hệ trẻ, của trình độ dân trí và ý thức pháp luật trong một bộ phận nhân
dân. Trên thực tế, việc “kết hôn” không đăng kí sẽ làm nảy sinh nhiều vấn đề phức
tạp như sau một thời gian chung sống, các bên đã có con chung, tài sản chung thì
giữa họ phát sinh mâu thuẫn và yêu cầu ly hôn. Vì vậy em lựa chọn đề tài “ Hãy
điều kiện kết hôn. Theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
thì nam nữ kết hôn với nhau phải tuân thủ các điều kiện sau:
Thứ nhất là điều kiện về tuổi kết hôn. Trên cơ sở sự phát triển tâm sinh lí của
con người, các điều kiện kinh tế xã hội ở nước ta, pháp luật hôn nhân và gia đình
quy định nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên.
Thứ hai là phải có sự tự nguyện của các bên. Việc kết hôn do nam và nữ tự
nguyện quyết định, không bên nào được éo buộc, lừa dối bên nào; không ai được
cưỡng ép hoặc cản trở.
Thứ ba là việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn như
cấm kết hôn với người đang có vợ hoặc có chồng; người mất năng lực hành vi dân
sự; giữa những người cùng dòng máu về trực hệ, giữa những người có họ trong
phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ
nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể. bố dượng với con riêng
của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng; giữa những người cùng giới tính
Tuy nhiên xuất phát từ một vài lí do mà các bên không tiến hành đăng kí kết
hôn. Ví dụ như ở các tỉnh miền núi, do phong tục tập quán,kết hôn chỉ cần sự
chứng kiến của già làng nên việc đăng kí kết hôn khi lấy vợ lấy chồng vẫn chưa
được người dân biết đến và quan tâm. Hoặc ở thành phố với lối sống “ nhà nào biết
6
nhà đấy” và do sự ảnh hưởng mạnh mẽ của tư tưởng tự do cá nhân đã tạo điều kiện
cho việc nam nữ chung sống như vợ chồng không đăng kí kết hôn diễn ra phổ biến.
Đây chính là một đặc điểm cơ bản để phân biệt với trường hợp nam nữ không đủ
điều kiện kết hôn trái pháp luật.
Đối với các trường hợp nam nữ không đủ điều kiện kết hôn hoặc kết hôn trái
pháp luật, các bên nam nữ đều không đủ điều kiện kết hôn có thể là về độ tuổi, về ý
chí tự nguyện hoặc vi phạm điều cấm của xã hội mà không thế đăng kí kêt hôn
hoặc mặc dù có đăng kí kết hôn nhưng cũng không được công nhận là vợ chồng.
Còn trong trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng, hai bên nam nữ không hề
vi phạm những điều kiện về kết hôn theo quy định của pháp luật. Về nội dung giữa
hôn nhân hợp pháp với và nam nữ chung sống như vợ chồng không có sự khác
không hợp thì các bên “ đường ai nấy đi”. Còn trong trường hợp nam nữ chung
sống như vợ chồng, do hai bên mong muốn xây dựng một gia đình hạnh phúc nên
ngay từ khi bắt đầu chung sống, họ đã có ý định gắn bó lâu dài với nhau. Song trên
thực tiễn, việc xác định sự khác nhau về mặt tâm lí và mục đích của hôn nhân thử
nghiệm và trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng là không đơn giản. Do đó
cần căn cứ vào hoàn cảnh trong từng tình huống cụ thế.
II. Quyền và nghĩa vụ nhân thân và tài sản của các bên nam nữ chung sống
như vợ chồng mà không đăng kí kết hôn khi họ mong muốn chấm dứt việc
sống chung
1.Trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 3/1/1987 ( ngày
Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực)
Theo quy định tại điểm a khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 thì đối với
quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03-01-1987 mà chưa đăng kí kết hôn thì
được khuyến khích đăng kí kết hôn. Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện thuận
lợi trong viêc đăng kí kết hôn, không hạn chế về mặt thời gian và được miễn lệ phí
đăng kí kết hôn.
Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý giải quyết theo quy định
về ly hôn của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.
9
-Quyền và nghĩa vụ về nhân thân:
Theo quy định của pháp luật, kể từ thời điểm hai bên nam nữ chung sống với
nhau, họ phải gắn bó với nhau bằng các quy định của pháp luật về quyền và nghĩa
vụ nhân thân giữa vợ chồng. Họ phải chung thủy, thương yêu, chăm sóc, quý trọng
lẫn nhau, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, cùng nhau xây dựng gia đình ấm no, hạnh
phúc. Một trong hai bên không được phép kết hôn hoặc chung sống với người
khác.Nếu giữa họ phát sinh mâu thuẫn và yêu cầu chấm dứt quan hệ hôn nhân thì
Tòa án áp dụng các quy định về ly hôn để giải quyết.
-Quyền và nghĩa vụ về tài sản
Theo quy định của pháp luật, kể từ thời điểm hai bên nam nữ chung sống với
nhau giữa họ phát sinh quyền sở hữu chung hợp nhất về tài sản. Tài sản chung của
quyền lợi và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con không thể hiện sự phân biệt đối xử giữa
con trong giá thú và con ngoài giá thú.
2. Trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày
3/1/1987 đến ngày 1/1/2001
Trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 3/1/1987
đến ngày 1/1/2001 mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và
gia đình năm 2000 thì có nghĩa vụ đăng kí kết hôn trong thời hạn hai năm kể từ
ngày Luật Hôn nhân và gia đình có hiệu lực cho đến ngày 01/01/2003.
Trong thời hạn này mà họ không đăng kí kết hôn nhưng có yêu cầu ly hôn thì
Tòa án áp dụng các quy định về ly hôn để giải quyết. Từ sau ngày 01/01/2003 mà
họ không đăng kí kết hôn thì pháp luật không công nhận là vợ chồng.Kể từ sau
ngày 01/01/2003 họ mới đăng kí kết hôn thì quan hệ vợ chồng của họ được xác lập
kể từ ngày họ đăng kí kết hôn.Nếu sau đó có yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết
theo thủ tục ly hôn ( Mục 2 điểm c Thông tư liên tịch số 01/2000/TTLT –
TANDTC – VKSNDTC – BTP ngày 03/01/2001)
Như vậy, khác với trường hợp xác lập quan hệ vợ chồng trước ngày 3-1-1987
từ ngày 3-1-1987 các bên nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà vi phạm
thủ tục đăng kí kết hôn thì “buộc phải đăng kí kết hôn” và đăng kí “ trong thời hạn
12
hai năm kể từ ngày 01/01/2001 đến ngày 01/01/2003”. Trong thời hạn các bên
nam nữ có nghĩa vụ đăng kí kết hôn, chúng ta vẫn thừa nhận quan hệ “hôn nhân
thực tế” cho các trường hợp chưa đăng kí kết hôn. Đây cũng chính là cách giải
quyết linh động nhằm bảo vệ quyền lợi cho các bên nam nữ song vẫn đảm bảo tính
thống nhất của quy định “ buộc các bên phải đăng kí kết hôn”. Bởi vì nếu hết thời
hạn quy định nói trên mà họ không đăng kí kết hôn thì pháp luật không công nhận
họ là vợ chồng.
3. Trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng kể từ ngày 01/01/2001 trở
đi
Nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng kí kết hôn kể từ
ngày 01/01/2001.Theo điểm 3 khoản c Nghị quyết số 35 của Quốc hội:
của họ không có giá trị pháp lý. Nếu có yêu cầu giải quyết vấn đề ly hôn tòa án sẽ
áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành và giải quyết như sau:
-Về mặt nhân thân: Tòa án sẽ tuyên bố không công nhận họ là vợ chồng kể từ
thời điểm đó họ phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng.
-Về tài sản:
Nếu các bên yêu cầu giải quyết vấn đề tài sản, tòa áp dụng khoản 3 Điều 17
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết như sau:
Tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc về người đó, đương nhiên người có tài sẵn có
nghĩa vụ chứng minh tài sản đó thuộc sở hữu riêng của mình. Trên cơ sở đó tòa án
sẽ giải quyết việc bảo vệ quyền lợi cho người có tài sản riêng.
Đối với tài sản chung, tài sản chung được chia theo sự thỏa thuận của các bên.
Trong trường hợp này, Tòa án sẽ công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Khi
các bên không thỏa thuận được và yêu cầu tòa án giải quyết, Tòa án sẽ chia tài sản
chung cho hai bên có tính đến “ công sức đóng góp của mỗi bên”. Rõ ràng, tài sản
chung của hai bên nam nữ ở trong trường hợp này không phải là “ chia đôi một
cách bình đẳng” mà “ dấu hiệu” về mặt công sức đóng góp của hai bên vào khối tài
sản chung là căn cứ quan trọng để chúng ta giải quyết việc chia. Tuy nhiên không
15
chỉ căn cứ vào công sức đóng góp của mỗi bên mà phải xem xét đến nguyên tắc
bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của phụ nữ và con: Theo quy định của Điều 17
khoản 3 thì quyền lợi của phụ nữ và con được “ưu tiên” bảo vệ.
-Đối với con chung
Khoản 2 Điều 17 quy đinh: “ Quyền lợi của con được giải quyết như trường
hợp cha mẹ ly hôn”.
Theo đó, đối với trường hợp xác lập quan hệ vợ chồng nhưng không đăng kí
kết hôn thì quyền lợi của các con cũng được pháp luật bảo vệ giống như khi cha
mẹ ly hôn. Vì vậy, khi hai bên nam nữ bị Tòa án tuyên không công nhận là vợ
chồng thì họ vẫn phải có nghĩa vụ đối với con chung. Hai bên có thể thỏa thuận về
việc nuôi dưỡng con, đóng phí tổn nuôi con. Nếu hai bên không thỏa thuận được
tòa án sẽ quyết định giao đứa trẻ cho một trong hai người trực tiếp nuôi dậy, người